Chăn nuôi bồ câu chim cút part 8

Chăn nuôi bồ câu chim cút part 8

Thể loại: Nông nghiệp
Lượt xem: 111,587Lượt tải: 3Số trang: 19

Mô tả tài liệu

Tham khảo tài liệu 'chăn nuôi bồ câu chim cút part 8', nông - lâm - ngư, nông nghiệp phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Tóm tắt nội dung

133 Biểu đồ 6.4. Khối lượng chim bồ câu từ mới nở đến 28 ngày tuổi Bảng 6.15. Khả năng sinh sản qua các thế hệ (n=50) ơ T.hệ X.phát T.hệ I T.hệ II T.hệ III T.hệ IV Chỉ tiêu XmX ± XmX ± XmX ± XmX ± XmX ± Tuổi đẻ (ngày) - 174,7 ± 1,78 173,98 ± 1,72 173,1 ± 1,74 175,2 ± 1,84 K. cách lứa đẻ 38,99 ± 0,7 40,24 ± 0,92 39,77 ± 0,8 38,20 ± 0,81 39,61 ± 0,87 1,96 ± 0,028 1,96 ± 0,02 1,91 ± 0,02 194 ± 0,03 1,96 Lứa đẻ/năm 9,26 8,95 9,97 9,21 9,15 Trứng năm 18 17,5 17,5 17,8 18,00 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thành thục sinh dục của dòng VN1 ổn định qua các thế hệ từ 173 - 175 ngày. Số khoảng cách lứa để đều ổn định. Chim đẻ 17,5-18 quả ổn định qua 5 thế hệ. Bảng 6.16. Tỷ lệ ấp nở và khả năng nuôi con Chỉ tiêu T.hệ X.phát T.hệ I T.hệ II T.hệ III T.hệ IV Tỷ lệ nở/tổng trứng ấp (%) 80,74 78,81 78,42 78,12 77,52 Tỷ lệ nuôi sống (0-28 ngày) (%) 94,72 94,06 94,34 95,33 93,25 Số chim non tách (con) 13,76 12,97 12,94 12,25 12,93 Số kg thịt 7,79 7.036 7,26 6,94 7,24 100g 200g 300g 400g 500g 600g 5 10 15 20 25 30 Ngày tuổi 134 Qua 5 thế hệ, chim VN1 vẫn duy trì tập tính ấp và nuôi con khéo, số chim non tách đạt từ con. Tuy nhiên số con nở ra trên năm không đều và có xu hướng giảm qua các thế hệ. Bảng 6.17. Tiêu tốn thức ăn (kg) Chỉ tiêu T.hệ X.phát T.hệ I T.hệ II T.hệ III T.hệ IV Chim non (0-28 ngày) - 0,67 0,7 0,65 0,72 Dò (2-6 tháng) - 12 12,3 12,15 12,45 Cho 1 lứa đẻ 4,68 4,69 4,69 4,62 4,67 43,2 41,97 43 42,6 42,8 Cho 1kg thịt hơi 4,54 5,96 5,87 5,86 5,88 Tổng thức ăn tiêu thụ cho 1 đôi/năm qua 5 thế hệ lần lượt là: 43,2; 41,97; 43,00 và 42,8kg. Tiêu tốn thức ăn/kg thịt hơi lần lượt là 5,54; 5,96; 5,87; 5,86 và 5,88kg kg, tương đương so với nguyên gốc. h.Chăm sóc chim trong ổ đến khi ra ràng Chỉ sau vài giờ nở ra, chim bồ câu con hoàn toàn khô, liền sau đó, chim bồ câu bố mẹ bắt đầu “mớm” cho chúng dòng sữa đầu tiên ít ỏi. Điều đặc biệt là bầu diều chim con rất to, có thể chứa được một lượng thức ăn bằng 1/2 khối lượng cơ thể của nó. Đó thực sự là một ống tiêu hoá hoạt động mạnh mẽ, giúp cho chim non phát triển hết sức nhanh trong giai đoạn đầu. Chim bồ câu con nở ra gần như trần trụi, chỉ được che phủ bởi một lớp lông tơ màu vàng phớt. Vào ngày thứ 6 – 8, những ống lông bắt đầu xuất hiện. Sang ngày thứ 2, những ống lông này mở ra thành những lông đầu tiên trên cánh và lưng. Chim bồ câu con rất nhạy cảm với lạnh cho tới ngày thứ 15. Sự mọc lông kết thúc vào ngày tuổi thứ 28 ở đùi và phía dưới cánh. Thông thường, khi lông dưới cánh mọc đầy đủ người ta mới quyết định ăn thịt hoặc nuôi tiếp để làm giống. Sau hai tuần, chim bồ câu con thường bị bỏ riêng trong ổ với thời gian ngày càng dài, đặc biệt là vào ban ngày vì bố mẹ chúng bận rộn chuẩn bị cho lứa đẻ tiếp theo. Đây là thời kỳ rất quyết định đối với chim con, khi chúng bị bố mẹ sao nhãng. Trong thời gian đó, chim bố thường ép chim mẹ nằm vào ổ để đẻ lứa mới. Vào thời gian này, cần tạo thêm cho chúng một cái ổ đẻ mới, đặt cao hơn ổ cũ để con lứa trước không dẫm đạp lên trứng của lứa sau. Sau 14 tới 18 ngày kể từ khi chim lứa trước nở ra, chủ yếu là chim bố săn sóc chim con, (còn chim bẹ thì bận rộn với lứa mới), do đó, lượng sữa diều giảm đi, chim non phải bắt đầu tập ăn nên máng ăn và máng uống cần đặt ngay trong ô chuồng của chim bố mẹ. Cần cho chim con nhìn và bắt chước động tác ăn, uống của chim trưởng thành. Khi đã lớn hơn, chim con ăn mạnh hơn và bắt đầu tập bay, nhiều khi chúng bị rơi khỏi ổ, rất dễ xảy ra "tai nạn" nguy hiểm, cần chú ý theo dõi để cứu trợ kịp thời. Nếu nuôi bằng chuồng nuôi riêng lẻ thì cách đơn giản nhất là làm một giá đỡ phía dưới chuồng để để hứng chim con bị rơi, từ đây bồ câu con có thể bay trở lại hoặc được cứu hộ, trả về ổ cũ. Nếu một đôi chim non có 1 con quá to, 1 con quá bé, cần lấy chim bé hơn ra khỏi tổ và gửi nó sang một ổ khác mà các chim con nhỏ hơn nó. Bằng cách này, chim sẽ mau lấy lại sức và phát triển bình thường. Vấn đề là làm sao để chim bố mẹ của ổ mới chấp nhận nó, cần chú ý tới màu lông phải tương đối giống nhau và nên tiến hành vào ban đêm. Sự thật đây là việc làm khá công phu và đòi hỏi người chăn nuôi có kinh nghiệm. Vả lại, sự chấp nhận hay không còn tùy thuộc vào giống bồ câu và tình mẫu tử của từng cặp chim bồ câu bố mẹ. 135 Chim bồ câu con thường “phóng uế” ra xung quanh ổ, nhờ vậy mà phía giữa ổ luôn khô ráo (trừ trường hợp có bệnh tiêu chảy). Vào lúc tách chim, ổ có hình dáng một cái chậu nhỏ mà thành bờ được nâng cao bởi một lớp phân khô cứng. Đối với giống bồ câu thịt, chim bồ câu con chuẩn bị rời ổ vào khoảng 4 tuần tuổi. Có khi chúng rời chuồng vì tai nạn hoặc không được chim bố mẹ nuôi dưỡng đầy đủ. Khi chúng rời chuồng quá sớm thì sự tăng trưởng bị chậm hẳn lại bởi chúng không được nuôi dưỡng chu đáo nên dễ bị ốm. Đây là thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng của chim non. Trong thực tiễn chăn nuôi, người ta thường thu gom chim bồ câu ra ràng để lấy thịt thích hợp nhất là vào 4 tuần tuổi. Sau khi tách mẹ 2 – 3 ngày, xảy ra sự giảm khối lượng của chim non, tối thiểu là 5%. Sự sinh trưởng của chim bồ câu Chim bồ câu con có tốc độ sự sinh trưởng đặc biệt nhanh, chỉ trong 36 -48 giờ, khối lượng của nó đã tăng gấp đôi. Cơ thể chim non tăng trưởng nhanh nhất khi 5- 20 ngày tuổi, chúng tăng lên khoảng 50 gam, nhưng thịt chim bồ câu con mềm, nhão do chứa nhiều nước và rất ít bắp cơ. Trong phạm vi 3 tuần lễ, chim bồ câu con gần như đạt được khối lượng thương mại. Sau 4 tuần tuổi, chim bồ câu con ra ràng đã có thể ăn thịt được (nhất là đối với giống chim bồ câu hướng thịt). Tuy vậy, vào lúc này thịt chim bồ câu còn mềm. Có thể cải thiện chất lượng thịt của chim câu ra ràng bằng cách nuôi thêm một số ngày nữa với thức ăn thích hợp, đó là quá trình “vỗ béo” chim câu con. Sau 7 hoặc 8 tuần, những lông cánh đầu tiên xuất hiện và chim non sẽ sớm có màu lông của chim trưởng thành. Vào thời gian này, chim non cần sự yên tĩnh và nghỉ ngơi. Thêm vào đó, chúng cần ánh sáng mặt trời và một chế độ ăn cân đối. Vào những ngày trời nắng, chúng nằm xoè rộng cánh để tắm nắng. Chim non cũng thích tắm nước. Ta có thể đặt một cái chậu nhựa hoặc chậu men với đường kính thích hợp, sâu từ 10 – 15cm. Nước tắm cần phải sạch và thay thường xuyên. Sau khi tắm, chim dùng mỏ rỉa lông, quá trình đó thúc đẩy sự lưu thông máu. Tắm có thể coi là một chỉ số để đánh giá sức khoẻ của chim, những chim ốm yếu thì không tắm. Chim bồ câu thích sống thành bầy đàn. Không nên nuôi bồ câu riêng rẽ. Khi chim bồ câu trưởng thành về sinh dục thì có sự thay đổi. Những con chim trống thường đánh nhau, nhưng rồi mỗi con sớm chọn được bạn tình và chỗ của mình. 6.5.2. Vỗ béo chim bồ câu con (sản xuất chim bồ câu 6 tuần tuổi) Ở 4 tuần tuổi, chim bồ câu con có thịt rất mềm, chưa có nhiều bắp cơ và có tỷ lệ nước khá cao. Một số người tiêu thụ thích loại chim bồ câu ra ràng “già” thêm hai tuần để nâng cao chất lượng thịt. Khi bị tách khỏi ổ, chim đã “hao” khối lượng và chim bồ câu ra ràng chỉ lấy lại được khối lượng ban đầu sau một tuần lễ; vào 6 tuần tuổi, chim bắt đầu thay lông. Và sau gần 7 tuần, mới hoàn toàn có một bộ lông mới. Nếu thịt vào 6-7 tuần tuổi thì thân thịt rất xấu do có nhiều lông măng và chân lông, vì thế người chăn nuôi cũng như người giết mổ vẫn có xu hướng xuất thịt ngay sau khi chim ra ràng, 4 tuần tuổi. Người ta cho rằng, vỗ béo chim chỉ nên tiến hành với chim còi hoặc yếu ớt mà thôi. Trong 5 này đầu tiên, nên cho ăn đầy đủ dinh dưỡng giàu đạm, ME, vitamin và vi khoáng. Năng suất thịt chim bồ câu thịt ra ràng rất cao: năng suất thịt trừ lông có thể đạt tới 82 – 83% và năng suất thịt hữu dụng (bỏ nội tạng) có thể đạt tới 63 – 64%. 136 Hình 6.10. Thân thịt bồ câu Bảng 6.18. Lượng thức ăn tiêu thụ đoạn) và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg thịt hơi của 3 dòng chim bồ câu Pháp (n = 30 đôi) Loại chim Các chỉ tiêu Titan Mimas VN1 Chim non (0- 28 ngày tuổi) 0,78 0,62 0,70 Chim dò (28 – 180 ngày tuổi) 12,96 12,80 12,5 Sinh sản (> 6 tháng tuổi) + Khi nuôi con 3,84 3,64 3,72 + Không nuôi con 1,28 0,96 0,96 + Cho 1 lứa đẻ 5,12 4,60 4,68 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg thịt hơi (kg) 6,53 5,90 5,86 Bảng 6.19. Năng suất thịt của chim bồ câu Pháp lúc 28 ngày tuổi (n= 3 trống; 3 mái) Chỉ tiêu Titan Mimas VN1 Khối lượng sống (g) 650,47 585,24 565,16 Tỷ lệ khối lượng sau cắt tiết (%) 98,36 98,42 97,82 Tỷ lệ khối lượng sau vặt lông (%) 91,74 90,47 88,02 Tỷ lệ khối lượng sau bỏ ruột (%) 82,24 82,72 82,40 Tỷ lệ thân thịt (%) 75,18 75,51 73,90 Tỷ lệ thịt đùi (%) 19,55 19,00 18,78 Tỷ lệ thịt ngực (%) 40,20 39,90 38,93 137 Bảng 6.20. Thành phần hoá học của thịt chim bồ câu Pháp lúc 28 ngày tuổi (n = 3 trống, 3 mái) Chỉ tiêu Titan Mimas VN1 Tỉ lệ nước (%) 76,26 57,70 57,70 Tỉ lệ vật chất khô (%) 23,74 24,30 24,30 Tỉ lệ protein thô (%) 16,69 16,68 16,68 Tỉ lệ mỡ thô (%) 4,32 4,32 4,32 Thịt đùi Tỉ lệ khoáng tổng số (%) 1,26 1,26 1,26 Tỉ lệ nước (%) 74,96 74,93 74,93 Tỉ lệ vật chất khô (%) 25,05 25,07 25,07 Tỉ lệ protein thô (%) 18,96 19,11 19,11 Tỉ lệ mỡ thô (%) 3,80 3,72 3,72 Thịt ngực Tỉ lệ khoáng tổng số (%) 1,31 1,22 1,22 Tỉ lệ nước (%) 75,61 75,32 75,32 Tỉ lệ vật chất khô (%) 24,39 24,68 24,68 Tỉ lệ protein thô (%) 17,97 17,89 17,89 Tỉ lệ mỡ thô (%) 4,06 4,02 4,02 TB Tỉ lệ khoáng tổng số (%) 1,28 1,24 1,24 Bảng 6.21. Thành phần axit amin trong thịt chim bồ câu Pháp (%) (*) Loại chim Axit amin Titan Mimas VN1 Bồ câu nội (1) Aspartic 1,61 1,63 1,648 1,70 Glutamic 2,71 2,69 2,71 2,84 Serine 0,67 0,68 0,77 0,79 0,50 0,51 0,48 0,48 Glycine 0,70 0,69 0,75 0,84 Theonine 0,92 0,91 0,90 1,00 Alanine 1,14 1,10 1,20 1,30 Tyrosine 0,76 0,78 0,86 0,84 Valine 1,01 0,98 0,98 1,12 0,29 0,30 0,25 0,32 0,89 0,88 0,90 1,01 0,85 0,86 0,87 0,99 Leucine 1,65 1,64 1,65 1,87 Lysine 1,45 1,44 1,54 1,75 Proline 0,69 0,68 0,73 0,78 Arginine 1,15 1,11 1,22 1,40 Ghi chú: (*) Kết quả của phòng phân tích Chăn nuôi) (1) Chim b ồ câu nội được nuôi dưỡng trong cùng một điều kiện với chim bồ câu Pháp và được giết thịt ở 28 ngày tuổi. Nuôi vỗ béo chim lấy thịt Tiến hành tách mẹ lúc 20 – 21 ngày tuổi ( khi khối lượng cơ thể đạt 350 – sau đó nhồi thức ăn để vỗ béo chim. Lồng nuôi: dùng lồng như chuồng cá thể, cần đảm bảo sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát, chỉ có ánh sáng khi cho chim ăn uống. 138 Mật độ: 45 – 50 con/m2; không để chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn, uống thì chim chỉ ngủ là chính. Thức ăn dùng để nhồi: 80% ngô; 20% đậu xanh. Cách nhồi: thức ăn được nghiền nhỏ, viên thành viên nhỏ, ngâm cho mềm rồi sấy khô đảm bảo tỷ lệ thức ăn/nước là 1/1. Định lượng: 50 – 80g/con. Thời gian 2 – 3 lần/ngày Khoáng được bổ sung tự do, các loại vtamin, thuốc bổ khác được bổ sung trong nước uống. 6.6. PHÒNG TRỪ DICH BỆNH CHO CHIM BỒ CÂU 6.6.1. Vệ sing phòng bệnh Muốn cho chim bồ câu khoẻ mạnh, có sức đề kháng cao thì trước hết là nên nuôi dưỡng chúng trong điều kiện vệ sinh thật tốt với khối lượng thực thức ăn đầy đủ cả về số lượng và chất lượng, đồng thời đảm bảo đủ nước sạch. Chuồng trại rộng rãi, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, thoáng khí, triệt để chống ẩm, cách ly tốt. Thường xuyên kiểm tra chuồng, ổ chim để loại bỏ trứng hỏng và chim non chết, định kỳ tẩy uế chuồng trại... Đây là việc làm rất cần thiết để xử lý kịp thời vì chuồng chim bồ câu thường rất bẩn và nhiều diễn biến bất thường như chim chết, bị dột, động vật có hại tấn công… 6.6.2. Tiêm phòng, dùng kháng sinh và điều trị kịp thời Là một biện pháp hết sức hữu hiệu tạo ra sự miễn dịch chủ động cho chim bồ câu. Cần tiêm phòng các bệnh đậu, định kỳ cho uống thuốc kháng sinh, phòng bệnh đường tiêu hóa, tẩy ký sinh trùng (nội, ngoại) cho chim... nếu làm đúng quy trình thì đàn chim sẽ khỏe mạnh, lớn nhanh, chất lượng thịt cao. VII KỸ THUẬT NUÔI CHIM CÚT Nghề nuôi chim cút ở nước ta chỉ xuất hiện trong những năm gần đây, nhưng phong trào nuôi chim cút phát triển rất nhanh, do thịt và trứng chim cút ngon, được thị trường ưa chuộng. Nghề nuôi chim cút có nhiều ưu việt: nhanh thu hoạch (chim thịt chỉ nuôi trong 40- 45 ngày, chim mái chỉ 45 ngày đã đẻ trứng). Hiệu quả chăn nuôi cao, về mặt sinh học, không có loài gia cầm nào có năng suất đẻ trứng cao như chim cút: khi vào đẻ lúc 40 ngày tuổi, chim mái mới chỉ nặng 110 - 120 g, nhưng đẻ trứng nặng 10 - 12g (bằng 1/10 khối lượng cơ thể), tỷ lệ này ở gà là 1/30, ở đà điểu là 1/100. Tiêu tốn 2 g thức ăn /1 g trứng (ở gà chỉ tiêu này là 2,5 g). Chim cút đẻ nhiều trứng, dễ nuôi và ít bệnh tật hơn gà, yêu cầu chuồng trại lại rất đơn giản, đầu tư ban đầu ít tốn kém nên được nhiều hộ nông dân quan tâm. Đến nay, các hộ chăn nuôi chim cút đã cung cấp cho thị trường một số lượng thực phẩm đáng kể. 7.1. PHƯƠNG THỨC NUÔI CHIM CÚT Khác với các loài gia cầm như gà, vịt, bồ câu… người ta có thể nuôi thâm canh, bán thâm canh hay quảng canh. Chim cút, do đã được thuần hóa cao độ, chim đã mất hết bản năng tự kiếm mồi và ấp trứng tự nhiên nên con người chỉ có thể nuôi chúng theo phương thức công nghiệp mà thôi. 7.2. CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI CHIM CÚT Ngoài các quy định chung đã nói đến trong chương V, khi nuôi chim cút, cần chú ý một số vấn đề sau: 7.2.1. Tiểu khí hậu chuồng nuôi Sau khi xây dựng, chuồng nuôi chim cút cần tạo ra được tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với nhu cầu sinh lý của chim, cụ thể là": : a. Nhiệt độ thích hợp Nhiệt độ thích hợp cho chim cút non là 35-24o C, chim cút đẻ là 18-25oC. Nóng quá hay lạnh quá đều làm cho chim cút giảm năng suất vì cơ thể phải tiêu tốn năng lượng để điều tiết thân nhiệt. Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm càng lớn càng gây stress mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý, khả năng sinh sản, làm xáo trộn chu kỳ đẻ trứng bình thường của chim. Do đó, chuồng nuôi cần giữ cho nhiệt độ càng ổn định và thích hợp càng tốt. Trong điều kiện nóng ẩm, sức sản xuất của chim bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chim cút không có tuyến mồ hôi, lại có bộ lông vũ bao phủ nên chim rất khó thoát nhiệt khi gặp nóng. Trong trường hợp nhiệt độ chuồng nuôi cao, cơ thể chim chỉ có thể hạ nhiệt bằng cách xoà cánh, uống thêm nước, dồn máu từ cơ quan nội tạng ra mạch máu ngoại vi, chim há mỏ ra để thở làm tăng tần số hô hấp, thải nhiều nước, khí CO2, làm giảm lượng H2CO3 dẫn đến kiềm hoá máu, thay đổi áp suất thẩm thấu của máu. Những biến đổi này sẽ làm cho chim không thể thực hiện các chức năng sinh lý bình thường, rối loạn trao đổi chất. Điều kiện nóng ẩm còn làm cho chim giảm lượng thức ăn thu nhận hàng ngày, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt, giảm khả năng đẻ trứng và chất lượng trứng, giảm tỷ lệ ấp nở và tỷ lệ nuôi sống; giảm sức đề kháng và khả năng đáp ứng miễn dịch. Tăng hiện tượng mổ cắn nhau, tăng nhu cầu về diện tích chuồng nuôi, nhu cầu về không khí sạch và chi phí làm mát. Hậu quả chung là làm giảm sức sản xuất và giảm hiệu quả chăn nuôi. b. Thoáng khí Nhu cầu không khí sạch của chim cút tương tự như của các loài gia cầm khác: 21% oxy, CO2 và hàm lượng các khí độc hại khác: NH3, H2S… không được vượt quá 0,3%. Để 140 đảm bảo nhu cầu đó, chuồng nuôi cút cần có độ thoáng mát cao, thường xuyên không khí sạch được luân chuyển trong chuồng nuôi. c.Yên tĩnh Chim cút nuôi hiện nay có nguồn gốc là cút rừng sống hoang dã, chui lủi… có bản tính cút rất nhút nhát. Dù đã được thuần hoá từ lâu, nhưng chim cút nuôi vẫn giữ được nhiều bản tính của tổ tiên, thần kinh nhạy bén, lại có thính giác và thị giác rất phát triển nên chúng dễ bị kích động bởi các tác động của môi trường, đặc biệt là âm thanh, ánh sáng, người lạ. Do đó, để cút sinh trưởng, sinh sản tốt, cần giữ một môi trường yên tĩnh và không xáo trộn. Hiện tượng xấu thường thấy nhất trong các chuồng nuôi là khi có tiếng động mạnh hoặc có người lạ vào chuồng… chim cút sẽ đột ngột bay dựng lên, đập đầu vào trần, vỡ đầu hay ít nhất cũng bị chấn thương sọ não. Nếu bị stress nhiều, kéo dài, chẳng hạn khi chuyển chuồng, tiêm phòng… sẽ xuất hiện hiện tượng phân ướt như sáp, màu vàng nâu. d. Vệ sinh Cùng với sự phát triển của đàn chim cút, gần đây mật độ vi trùng gây bệnh trong các khu vực chăn nuôi cũng tăng cao. Việc tuyển lựa con giống có khả năng miễn dịch và năng suất trứng cao là yêu cầu cấp bách. Bên cạnh đó, cần phải xây dựng một môi trường chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học, hợp vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi để cho cút phát triển, phát huy được tối đa tiềm năng di truyền của phẩm giống. e. Đề phòng mèo chuột Khác với chăn nuôi gà, vịt- các loài gia cầm có khối lượng tương đối lớn và khỏe, chim bồ câu non cũng như chim cút có cơ thể nhỏ, rất "vừa" ăn đối với mèo hoang và chuột. Thực tế chăn nuôi chim cút cho thấy, đây là món ăn "khoái khẩu" của cả chuột và mèo, có đàn chim cút đã bị mèo, chuột ăn thịt và cắn chết hàng trăm con chỉ trong 1 đêm, gây tổn thất rất lớn, làm nản lòng người chăn nuôi. Vì vậy, khi thiết kế chuồng trại, trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng… người chăn nuôi phải luôn chú ý đến việc chống các động vật nguy hại và nguy hiểm này. Vì chúng rất phổ biến, lại luôn sống cạnh con người nên việc tiêu diệt chúng là điều không đơn giản. Hình 7.1. Một trang trại chăn nuôi chim cút tại Hoa Kỳ 141 7.3. MỘT SỐ THIẾT BỊ 7.3.1. Thiết bị sưởi Thiết bị sưởi dùng để úm chim non. Cấu trúc chung của thiết bị sưởi gồm bộ phận phát nhiệt và một chụp hình nón có đường kính từ 80 - 130cm (vì thế còn gọi là chụp sưởi). Bộ phận phát nhiệt có thể bằng bóng điện, tia hồng ngoại, bằng khí đốt, bằng dầu, bằng than. Hiện nay trong các trang trại lớn, người ta thường dùng các chụp sưởi bằng điện hoặc bằng gas. Khi sử dụng các thiết bị sưởi cần căn cứ vào công suất của nguồn nhiệt và số chim nuôi mà bố trí cho thích hợp, ví dụ ở độ cao 45 - 60cm, mỗi bóng đèn hồng ngoại 50W có thể sưởi cho 300 - 500 chim con. 7.3.2. Hệ thống rèm che Rèm che dùng để che chắn phía bên ngoài chuồng nuôi theo phương thức thông thoáng tự nhiên, phần không xây tường mà chỉ được ngăn bằng lưới thép. Rèm che góp phần giữ nhiệt, bảo vệ đàn chim khi có những thay đổi về thời tiết như gió, bão, mưa lớn… Rèm che thường được làm bằng các nguyên liệu khác nhau như bạt, vải nhựa, bạt nilon, bao tải, cót ép… có hai loại rèm là rèm dài dùng cho các chuồng nuôi theo phương thức trên nền và rèm lửng dùng cho phương thức nuôi trên lồng. 7.3.3. Hệ thống lồng Lồng nuôi chim cút thường có 2 loại: lồng úm chim con và lồng nuôi chim lớn. Lồng úm: kích thước 1,5 x 1,0 x 0,5m, đặt cách mặt đất 0,5m. Xung quanh làm bằng lưới ô vuông 1cm. Những ngày đầu mới úm, đáy lồng và xung quanh phải lót giấy, che kín, yên tĩnh và không bị lọt chân. Hình 7.2. Lồng chim cút dò (sau 2 tuần) a. Lưới hoặc nẹp gỗ; b. Lưới có mắt 5 - 10 mm ở đáy. Cũng có thể úm chin cút trên nền trấu từ 7-10 ngày, sau đó đưa lên lồng nói trên. Chuồng nuôi chim lớn: kích thước 1,0 x 0,5 x 0,2m, nuôi được 20-25 cút mái. Để tiết kiệm chuồng nuôi, người ta chồng các lồng lên nhau thành nhiều tầng, có thể đến 5-6 tầng, các tầng trên, dưới cách nhau 12-18cm. Cần hết sức chú ý là giữa các tầng phải có khoảng lưu thông đủ lớn (12-18 cm), nhằm đảm bảo thoáng khí cho các lồng chim, nhất là những lồng ở giữa. Khảo sát cho thấy, trong rất nhiều hộ nông dân, do không đảm bảo thông thoáng nên những ngăn lồng ở giữa có tỷ lệ chim chết rất cao 142 Hình 7.3. Mẫu chuồng nuôi chim cút nhiều tầng Vật liệu để đóng lồng: tùy điều kiện và vật liệu có sẵn, có thể dùng lồng kẽm, hoặc nẹp gỗ, hoặc lưới. Lồng nuôi chim cần đảm bảo các điều kiện sau : + Chiều cao của lồng không quá 20 cm. + Nóc chuồng làm bằng vật liệu mềm, vì cút hay nhảy dựng đứng đẽ làm vỡ đầu. + Đáy lồng có độ dốc 2-3% để trứng lăn ra ngoài. Đáy có thể làm bằng lưới cuộn hoặc lưới kẽm tròn, có ô vuông cỡ 1,5 -1,5cm để cút đi đứng thoải mái và phân lọt xuống vỉ hứng phân bên dưới. Trong chăn nuôi chim cút công nghiệp, người ta chồng các lồng lên nhau, lồng trên và dưới cách nhau tối thiểu 10 – 12cm để đặt vỉ hứng phân. Mỗi cây lồng (dãy lồng gồm nhiều ngăn lồng chồng lên) gồm 5-6 tầng lồng. Vỉ hứng phân làm bằng ván gỗ thông dày 0,5cm hoặc cót ép đóng viền để kéo ra khi hót phân. Vỉ hứng phân rộng dư ra mỗi chiều 10 cm so với đáy lồng để che máng ăn máng 143 uống ở phía dưới không bị phân ở ngăn trên rơi xuống. Để chống ô nhiễm môi trường, sau mỗi buổi, phải rắc 1 lớp trấu hay mùn cưa lên bề mặt vỉ hứng phân để giảm sự bốc khí độc từ phân và nước tiểu. 7.3.4. Máng ăn, máng uống Máng có thể treo phía trước hoặc phía sau mỗi lồng tùy theo cách sắp xếp của các lồng tầng trong nhà nuôi. Thường các dãy lồng được xếp cách nhau tối thiểu là 120-150 cm để thông thoáng và làm đường đi cho công nhân chăm sóc, cho ăn uống, hót phân; thuận lợi cho các thao tác hàng ngày. Dãy lồng sát tường phải cách tường tối thiểu 50 cm để đảm bảo thông thoáng và chống chuột Hiện nay một số nhà chăn nuôi chim cút với số lượng lớn đã áp dụng các loại máy uống tự động để giảm chi phí nhân công. Máng ăn uống có thể làm bằng nhôm nhựa. Một số dụng cụ thường dùng trong chuồng nuôi chim cút: Hình 7.4. Dụng cụ trong lồng úm chim con a. Bầu nước uống; b. Khay đựng thức ăn; c. Lưới chống chim con bới 7.4. CÁC GIỐNG CHIM CÚT 7.4.1. Chim cút Nhật Bản Cút Nhật Bản nuôi ở nước ta có lông màu hồng gạch, con cái lông ngực xám hồng và có những chấm đen. Cút mái to hơn cút đực. Cút mái có dáng thanh tú, cổ vừa phải, mắt linh hoạt, lông mượt và sáng. Con đực ngực nở, đầu khoẻ và chắc chắn. Chim cút đã mất tính đòi ấp tự nhiên nên chúng đẻ trứng liên tục trong năm. Khả năng phối giống của chim cút đực yếu nên tỉ lệ chim đực trong đàn thường cao mái). Khả năng sinh sản. Có những giống cút chuyên sản xuất trứng, có giống chuyên sản xuất thịt. Nhìn chung người nuôi có khuynh hướng chọn giống theo năng suất trứng cao. Loại cút này có khối lượng cơ thể tối đa khoảng 160-190g ở 5-6 tháng tuổi. Thường người ta chọn những con trống có ngực nở nang, khoẻ mạnh, đầu khoẻ và chắc. Con cái có đầu thanh tú, cổ vừa phải, mắt linh hoạt, lông mượt và sáng. Cút mái đẻ 300-360 trứng mỗi năm. Có những con đẻ trên 400 trứng (có ngày đẻ 2 quả). Tỉ lệ đẻ của đàn mái cao, bình quân tới 85-90%. Trứng chim cút nặng 12-16g. Cút mái đẻ trứng đầu tiên khoảng 40 ngày tuổi, khi khối lượng cơ thể khoảng 110g. Đến 6 tháng tuổi, cút mái nặng 150-170g. Cút mái đẻ cao trong năm đầu tiên, có thể khai thác trứng liên tục 14 tháng đẻ, sau đó cút đẻ giảm. Vào năm thứ hai, cút mái chỉ đẻ bằng 50% so với năm đẻ đầu tiên. a) b) c) 144 Khi nhân giống chim cút, nên chọn trống mái từ sớm, thường sau 20 ngày đã có thể phân biệt được cút trống mái. Con trống có lông mượt màu hồng gạch, con mái lông ngực có màu xám hồng và có những chấm đen. Cút mái nặng hơn cút trống. Ta nên ghép trống trẻ với mái trẻ, không nên ghép trống già với mái trẻ. Cút trống trẻ cho tỷ lệ phôi cao hơn trống già. Khi ghép trống mái, cần quan sát kỹ, nếu thấy một số con mái chống cự, không cho con trống đạp mái thì nên thay con trống sang ô chuồng khác. Để quan sát có kết quả, cần tiến hành vào buổi sáng, khi chưa cho ăn. Khi đã ăn no thì đàn cút yên tĩnh và khó quan sát hơn. Tỉ lệ ghép trống mái tốt nhất là 5 mái ghép với 2-3 con trống. Vào mùa nóng, khi nhiệt độ lên lên tới 350C thì tỉ lệ đẻ giảm rõ rệt. Cút sinh sản cần đến 16 giờ chiếu sáng một ngày, vì vậy cần thắp đèn tới 10 giờ đêm. Cút Nhật Bản nuôi ở nước ta đẻ trứng màu ghi, trên vỏ có những điểm đốm nâu đen. Nếu nuôi hợp lý cút có thể đẻ mỗi ngày một trứng, có những con đẻ cao tới 380-420 trứng. Tuy nhiên do những điều kiện khách quan nên việc tạo trứng có khi kéo dài trên 24 giờ và lúc đó sản lượng trứng chỉ đạt 300 quả/năm. Trứng cút giống chỉ nên bảo quản trong 2-3 ngày mùa hè, về mùa đông có thể đến 5 ngày. Trứng để lâu sẽ có tỉ lệ nở giảm. Trứng ấp cần được bảo quản tốt ở nơi thoáng mát, nhiệt độ 15-200C và độ ẩm khoảng 70%. Tỉ lệ ấp nở bình thường đạt 70-80 trên tổng số trứng đưa vào ấp. Thời gian ấp nở của trứng cút là 16 ngày. Khả năng cho thịt. Cút con mới nở ra tương đối cứng cáp, chúng có nhu cầu sưởi ấm cao hơn gà, vịt. Nuôi cút con tới 25 ngày tuổi thì thay khẩu phần bằng thức ăn nuôi cút thịt. Cút thịt nuôi đến 40-45 ngày tuổi có thể bán, nặng 100-110g, nuôi tốt có thể nặng 120-130g. Cần theo dõi khối lượng cơ thể hàng tuần để điều chỉnh lượng thức ăn. Bảng 7.1. Khối lượng cơ thể cút thịt từ mới nở đến 7 tuần tuổi Ngày tuổi Khối lượng (g) 1 6-8 2 17-25 3 30-40 4 48-65 5 75-90 6 90-110 7 110-120 Nguồn: Lê Xuân Đồng, 1990 Sản xuất cút thịt rất nhanh do cút mái đẻ sớm, khoảng 45-50 ngày tuổi, chúng lại đẻ nhiều trứng, trứng chỉ ấp 16 ngày đã nở, nuôi 6 tuần là đã xuất bán thịt. Thịt cút ngon, phẩm chất thịt tốt, hàm lượng protein của thịt đùi khoảng 20% và thịt lừơn khoảng 22,5%. Những cút sinh sản đã hết thời kỳ khai thác trứng cũng được nuôi bán thịt. Trước khi bán cần vỗ béo. Loại cút này lớn hơn cút thịt, thường nặng khoảng 160-190g một con. Trong nhiều năm, có xu hướng chọn lọc giống theo ngoại hình, chú trọng giữ lại những cút to để làm giống. Một phần muốn nâng cao khả năng sản xuất thịt của chúng, vì vậy giống cút đến nay có xu hướng nặng cân hơn. Tuy vậy những đàn cút này ít khi cho sản lượng trứng cao trên 300 quả một năm. Theo tác giả Trần Huê Viên, Sản lượng trứng của chim cút mái là 288-293 quả/năm đẻ, tỷ lệ đẻ bình quân là 79-80%, đẻ 5% lúc 40 ngày, 50% lúc 47 ngày tuổi. Khối lượng trứng trung bình là 11,71 g, tỷ lệ trứng có phôi đạt 92%, tỷ lệ nở/trứng ấp là 84%; trên trứng có phôi là 91% với tỷ lệ trống mái là 2/5. Tỷ lệ nuôi sống đến 35 ngày tuổi là 96%. 145 Bảng 7.2.Tốc độ sinh trưởng của chim cút đến 35 ngày tuổi (*) Ngày tuổi Khối lượng (g) 0 8,17 1 30,7 14 68,25 21 111 g/mái 28 129 g/trống, 145 g/mái 35 152 g/trống; 170g/mái (*)Nguồn: Trần Huê Viên, 1999 Bảng 7.3. Một số chỉ tiêu năng suất của chim cút Nhật Bản Các chỉ tiêu Chim Cút Nhật Bản Khối lượng cơ thể lúc trưởng thành (g) - Con trống - Con mái Sản lượng trứng trong 1 năm đẻ (qủa) Khối lượng trứng bình quân(g) Tỉ lệ trứng có phôi (%) Tỉ lệ ấp nở trên tổng số trứng ấp (%) Tuổi đẻ những quả trứng đầu tiên (ngày) Tỉ lệ nuôi sống đến 42 ngày tuổi (%) Tính đòi ấp Hình thức chăn nuôi thích hợp 100-115 120-170 250-340 12-16 95-97 75-85 40-45 95 Đã mất Nuôi nhốt đàn lớn và chống bay Nguồn: Lê Xuân Đồng, 1990 7.4.2. Chim cút Mỹ Đây là giống nhập nội vào tháng 4/1997, nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương. Chim Cút có màu lông cánh sẻ, một số con màu hồng nhạt. Kết quả nghiên cứu trên giống chim này của Viện Chăn nuôi như sau: Bảng 7.4.Khối lượng chim cút Mỹ đến 6 tuần tuổi (g): Tuần tuổi Khối lượng cơ thể (g) Mới nở 7,9-10,6 1 38,6-41,1 2 74,5-86,0 3 4 5 6 Cút con khoẻ mạnh, có tỉ lệ nuôi sống khoảng 92-95%. Nuôi đến 6 tuần tuổi, chi phí từ 692-706g thức ăn cho mỗi con cút. Chim cút mái đẻ được 123-129 quả trong 6 tháng, tỉ lệ đẻ bình quân là 67% và 72%. Trong quá trình đẻ, tỉ lệ hao hụt chim mái khoảng 5%. Khối lượng trứng ở tháng đầu là 10- 11g, đến tháng thứ ba là Tỉ lệ trứng có phôi là 89% và tỉ lệ nở trên trứng có phôi là 76%, cút loại I là 88%. Thời gian ấp nở là 17 ngày. Đây là giống có năng suất thịt cao 7.4.3. Chọn giống chim cút Khác với gà, vịt… đã có hệ thống và các trung tâm giống quốc gia, nuôi giữ và cung cấp các gia cầm bố mẹ và thương phẩm chất lượng cao. Việc giữ giống chim cút hiện nay hoàn 146 toàn chỉ là phong trào tự phát, các trang trại "tự sản, tự tiêu" con giống nên việc chọn được giống chim cút tiêu chuẩn gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi chờ đợi sự ra đời của các trung tâm giống chim cút tiêu chuẩn, người chăn nuôi cần ý thức cao và chọn mua chim cút từ những cơ sở sản xuất giống bố mẹ có uy tín và trách nhiệm, chẳng hạn Viện Chăn nuôi Quốc gia hay các trang trại quy mô lớn, mà chủ trang trại có nhiều kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm. Đàn bố mẹ phải khỏe mạnh, không bị dịch bệnh, con giống không có dị tật, nhanh nhẹn, ăn khỏe... Đàn chim bố mẹ có tỷ lệ đẻ, tỷ lệ ấp nở, nuôi sống cao, tăng trọng nhanh, ổn định và đồng đều... con trống và mái không đồng huyết. Chim con mới nở được chọn lọc theo các đặc điểm ngoại hình như sau: lông có màu đặc trưng của phẩm giống, đồng nhất, bông, xốp, mắt sáng, nhanh nhẹn, khối lượng sơ sinh lớn, cứng cáp, dáng đi vững vàng, phản xạ nhanh nhẹn; bụng thon, rốn kín. Cần loại những cá thể có khuyết tật về ngoại hình như ủ rũ, khoèo chân, hở rốn, bụng to, vẹo mỏ, hậu môn dính phân, quá nhỏ, lông bết… Muốn vậy, chim bố mẹ phải có nguồn gốc rõ ràng và không có quan hệ huyết thống, họ hàng thân thuộc để tránh đồng huyết, được nuôi tách riêng và ghép đôi giao phối khi thành thục. Cút trống khỏe mạnh, nhanh nhẹn, lông da bóng mượt, thân hình gọn, đầu nhỏ, mỏ ngắn, cổ dài, ngực nở, lông ngực vàng, 25 ngày tuổi nặng 70 - 90 g. Cút mái có đầu thanh, cổ nhỏ, lông da bóng mượt, lông ngực có đốm trắng đen, xương chậu rộng, hậu môn nở, đỏ hồng và mềm mại... khối lượng lớn hơn cút trống. Chim phải trên 3 tháng tuổi mới cho phối giống, phối giống sớm quá sẽ làm cho đàn cút mau tàn. 7.5. NHU CẦU VỀ CÁC CHẤT DINH DƯỠNGCỦA CHIM CÚT Do có tốc độ tăng trọng nhanh, khả năng sản xuất cao hơn nên thức ăn cho chim cút nói chung, chim non nói riêng có nồng độ dinh dưỡng cao hơn ở gà. Đảm bảo được yêu cầu này sẽ góp phần giúp chim con nhanh chóng thích nghi với môi trường sống mới sau khi nở, chim sẽ khoẻ mạnh và sinh trưởng phát triển tốt hơn. Có thể tham khảo tiêu chuẩn ăn của NRC của Hoa Kỳ trong các bảng 8.5 đến 8.7 Bảng 7.5. Nhu cầu dinh dưỡng cho các loại chim cút (NRC, 2004) (Đơn vị tính % hay đơn vị/kg khẩu phần, có 90% chất khô) Chất dinh dưỡng Đơn vị 0 - 4 tuần tuổi; 2,800 KcalME 4-8 tuần tuổi; 2,800 KcalME 9 -17 tuần tuổi; 2,700 KcalME Chim giống; 2,800 KcalME Protein và amino acid Protein % 28 24 18 15 Glycine + serine % 1.8 1.55 1.0 0.50 Linoleic Acid % 1.0 1.0 1.0 1.0 Lysine % 1.5 1.40 0.8 0.68 % 0.50 0.47 0.30 0.30 + cystine % 1.0 0.93 0.6 0.60 Protein % 28 24 18 15 Khoáng đa lượng Calcium % 1.0 0.85 0.53 2.5 Chlorine % 0.11 0.11 0.11 0.11 % 0.55 0.50 0.45 0.40 Sodium % 0.15 0.15 0.15 0.15 Khoáng vi lượng mg 70 70 60 60 Zinc mg 60 60 60 60 Vitamin tan trong nước Choline mg 1,430 1,300 1,000 1,000 Niacin mg 70.0 70 40.0 30.0 acid mg 10.0 10.0 10.0 16.0 mg 3.4 3.4 3.0 4.0 147 Bảng 7.6. Nhu cầu dinh dưỡng cho chim cút Nhật Bản (NRC, 2004) (Đơn vị tính: % hay đơn vị/kg khẩu phần, có 90% chất khô). Chất dinh dưỡng Đơn vị Khởi động và sinh trưởng; 2.900 Kcal ME Chim giống; 2.900 Kcal ME Protein và amino acids Protein % 24.0 20.0 Arginine % 1.25 1.26 Glycine + serine % 1.15 1.17 % 0.36 0.42 % 0.98 0.90 Leucine % 1.69 1.42 Lysine % 1.30 1.00 % 0.50 0.45 + cystine % 0.75 0.70 % 0.96 0.78 + tyrosine % 1.80 1.40 % 1.02 0.74 % 0.22 0.19 Valine % 0.95 0.92 lipit acid % 1.0 1.0 Khoáng đa lượng Calcium % 0.8 2.5 Chlorine % 0.14 0.14 mg 300 500 % 0.30 0.35 % 0.4 0.4 Sodium % 0.15 0.15 Khoáng vi lượng Copper mg 5 5 Iodine mg 0.3 0.3 Iron mg 120 60 mg 60 60 Selenium mg 0.2 0.2 Zinc mg 25 50 Vit tan trong mỡ A IU 1,650 3,300 D3 ICU 750 900 E IU 12 25 K mg 1 1 Vit tan trong nước B12 mg 0.003 0.003 Biotin mg 0.3 0.15 Choline mg 2,000 1,500 Folacin mg 1 1 Niacin mg 40 20 acid mg 10 15 mg 3 3 mg 4 4 Thiamin mg 2 2 148 Bảng 7.7. Nhu cầu dinh dưỡng cho chim cút Mỹ (NRC, 2004) (Đơn vị tính: % hay đơn vị/kg khẩu phần, có 90% chất khô) Chất dinh dưỡng Đơn vị 0 - 6 tuần; Sau 6 tuần; Chim giống; Protein và amino acid Protein % 26 20.0 24.0 + cystine % 1.0 0.75 0.90 Fat Linoleic acid % 1.0 1.0 1.0 Khoáng đa lượng Calcium % 0.65 0.65 2.4 % 0.45 0.30 0.70 Sodium % 0.15 0.15 0.15 Khoáng vi lượng Clo % 0.11 0.11 0.11 Iod mg 0.30 0.30 0.30 Vitamin tan trong nước Choline mg 1,500.0 1,500.0 1,000.0 Niacin mg 30.0 30.0 20.0 acid mg 12.0 9.0 15.0 mg 3.8 3.0 4.0 Ở Việt Nam, có thể tham khảo một số hướng dẫn sau: Bảng 7.8.Công thức hỗn hợp thức ăn cho một số loại chim cút(*) TT Nguyên liệu (%) Cút con 26-28% protein thô Cút thịt 22-24% protein thô Cút đẻ 24-26% protein thô 1 Ngô 2,0 4,0 2,5 2 Tấm 2,0 1,0 1,0 3 Cám 1,0 0,7 1,0 4 Bột cá nhạt 1,5 1,0 1,2 5 Khô dầu lạc 1,2 2,0 1,2 6 Bột đậu tương rang 1,0 0,5 1,5 7 Bột đậu xanh 1,0 0,5 1,0 8 Bột sò 0,1 0,1 0,3 9 Bột xương 0,1 0,1 0,1 10 Premix khoáng 0,05 0,01 0,05 11 Premix vitamin 0,05 0,01 0,05 12 ADE gói 10gr 6 gói 4 gói 4 gói 13 Bột cỏ - - 0,1 (*) Ngu ồn: Đặng Tịnh 149 Bảng 7.9. Đối với chim đẻ, có thể tham khảo một số công thức thức ăn sau đây (*) Công thức Nguyên liệu (%) I II Ngô 28 38 Cám gạo 7 8 Khô dầu lạc 25 10 Đậu tương rang 8 26 Đậu xanh 2 5 Bột cá nhạt 17,5 5 Bột xương 1,5 2 Bột sò 7 5 Premix 1 1 (*)Nguồn: Võ Thị Ngọc Lan; Trần Thông Thái Hãng RTD sản xuất thức ăn cho chim cút có nồng độ dinh dưỡng như sau: Loại chim Chỉ tiêu Chim con (1-35 ngày tuổi) Hậu bị Sinh sản ME (Kcal/kg) 3200 3000 2900 CP (%) 22 19 22 Ca 1,34 0,70 2,5 P 0,68 0,60 0,70 Tác giả Nguyễn Duy Hoan (2000), nghiên cứu về mức năng lượng và protein cho chim cút đẻ, với các mức ME thử nghiệm là 2700, 2800, 2900, 3000 và 3100 Kcal/kg. Kết quả cho thấy, ở mức 2900 Kcal/kg cho kết quả tốt nhất trên các chỉ tiêu theo dõi (tỷ lệ nuôi sống; sản lượng tỷ lệ đẻ; độ đồng đều; tiêu tốn thức ăn/1 kg trứng). Tương tự như vậy, với các mức protein thô trong khẩu phần là 18, 20, 22, 24 và 26% thì mức 22% cho kết quả tốt nhất cũng trên các chỉ tiêu theo dõi nói trên. Như vậy, theo tác giả, trong thức ăn nuôi chim cút đẻ, nên sử dụng mức năng lượng trao đổi 2900 Kcal/kg ME và mức protein thô là 22%. Trong suốt thời gian nuôi, phải đảm bảo đầy đủ số lượng và chất lượng thức ăn theo đúng tiêu chuẩn; không thay đổi chế độ ăn đột ngột. Trong khẩu phần ăn của chim con, ngoài hàm lượng các chất dinh dưỡng còn phải chú ý đến mối cân bằng giữa chúng, đặc biệt là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng axit amin và cân bằng can xi - phốt pho. Để đánh giá mối cân bằng giữa năng lượng và protein, người ta thường dùng tỷ lệ giữa năng lượng trao đổi của khẩu phần và 1% protein thô. Tỷ lệ này ở chim con dao động trong khoảng 135 - 150. Dựa vào tỷ này, từ tỷ lệ protein trong khẩu phần nói trên, cần điều chỉnh nồng độ năng lượng trao đổi (ME) cho phù hợp. Mặt khác, trong giai đoạn chim con cần chú ý cung cấp đủ các axit amin không thay thế, nhất là lyzin và metionin. Ngoài ra còn phải chú ý đến hàm lượng xơ của khẩu phần. Đối với chim cút, tỷ lệ xơ không nên quá 5%. 7.6. KỸ THUẬT NUÔI CÁC LOẠI CHIM CÚT 7.6.1. Nuôi chim cút sinh sản mái Trong chăn nuôi chim cút sinh sản, người ta thường chia làm ba giai đoạn là giai đoạn chim con (0 – 3 tuần tuổi), giai đoạn chim hậu bị (4-9 hoặc 10 tuần tuổi) và giai đoạn đẻ trứng (sau 10 tuần tuổi). 150 a. Mục tiêu cần đạt được với chim sinh sản Mục tiêu là có được đàn giống khoẻ mạnh, tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn cao; đạt khối lượng chuẩn của phẩm giống (từ 120 -130 g/ con trống; 167-170 g/ con mái đối với chim cút Nhật bản; 200-210 g/con trống; 230-250 g/ con mái đối với chim cút Mỹ) ở 10 tuần tuổi tuỳ theo giống và có độ đồng đều trên 80%. Trong giai đoạn đẻ trứng, chim không quá béo, có năng suất trứng cao; kết quả ấp nở tốt. Số chim con loại I sinh ra từ một chim mái cao (250 chim con loại 1/mái /năm). b. Kỹ thuật nuôi dưỡng chim mái giai đoạn chim con (0-3 tuần tuổi). Chim con có thân nhiệt chưa ổn định, nhiều cơ quan bộ phận chưa hoàn thiện, sức đề kháng còn yếu, trong khi cường độ sinh trưởng lại rất nhanh, vì vậy cần phải có qui trình nuôi dưỡng thích hợp mới có thể đạt kết quả tốt. Vận chuyển chim con Khi vận chuyển chim con, người ta thường dùng hộp bằng bìa cứng theo tiêu chuẩn để chống lạnh và tránh chim đè lên nhau. Kích thước hộp (chiều dài x chiều rộng x chiều cao) phải đảm bảo theo qui định. Khi trời lạnh, có thể dùng hộp có kích thước tối thiểu là 45 x 45 x 10cm chia làm 4 ngăn. Khi trời nóng, dùng hộp có kích thước tối đa là 80 x 60 x 10cm chia 4 ngăn. Xung quanh và trên nắp hộp có hệ thống các lỗ thông thoáng. Nhãn hộp đựng chim con loại I phải ghi đầy đủ các thông số cần thiết như tên trạm ấp, giống, ngày nở… Trước khi cho chim vào hộp phải lót chất độn vào hộp. Để chim khỏi lạnh và không bị ngạt thì mỗi ngăn hộp xếp không quá 100 - 125 chim con, cả hộp là 400- 500 con. Khi xếp hộp cần chú ý sự thông thoáng cho chim con. Nhiệt độ trong hộp cần đảm bảo 30 - 32 oC. Không nên giữ chim con trong hộp quá 48 giờ. Để đảm bảo tỷ lệ chết thấp nhất, vào mùa hè nên vận chuyển vào sáng sớm hay chiều tối. Khi vận chuyển chim con phải mang theo giấy chứng nhận sức khoẻ chim con, trong đó ghi đầy đủ các thông số kỹ thuật cần thiết như số lượng chim con, giống, dòng; nguồn gốc, xuất xứ của trứng ấp; địa chỉ trạm ấp; tình trạng của đàn chim khi nở; khối lượng bình quân của đàn chim; giấy chứng nhận đàn chim sạch bệnh; tình hình tiêm phòng vacxin. Chuẩn bị chuồng nuôi trước khi nhận chim Cần phải vệ sinh tiêu độc chuồng trại, trang thiết bị và dụng cụ chăn nuôi theo đúng qui định. Một tuần trước khi đưa chim vào chuồng phải chuẩn bị đầy đủ tất cả các hệ thống điện nước, trang thiết bị và dụng cụ cần thiết cho số lượng chim định nuôi (rèm che, quây, nguyên liệu độn chuồng nếu úm trên nền, phương tiện sưởi ấm, làm mát, thức ăn, nước uống, thuốc thú y, máng ăn, máng uống …). Phải có thời gian để sưởi nóng tường, nền và lớp độn chuồng (nếu nhận chim vào mùa đông). Đóng kín rèm che trước khi thả chim con vào chuồng nuôi. Lớp độn chuồng đã được sát trùng và trải theo độ dày qui định, từ 5 – 10 cm. Sắp xếp máng ăn, máng uống theo hàng và khoảng cách đều đặn với số lượng đầy đủ. Trước khi cho chim vào chuồng, nước uống đã chuẩn bị sẵn trong máng. Tuyệt đối không chuẩn bị sau khi đã đưa chim vào chuồng, gây stress cho chúng. Kiểm tra giấy chứng nhận sức khoẻ của chim con trước khi nhận vào chuồng nuôi. các hộp chim từ phương tiện vận chuyển xuống nhẹ nhàng, cẩn thận. Đặt từng hộp xung quanh quây, sau khi xếp đủ số hộp tương ứng cho mỗi quây, nhẹ nhàng thả chim vào quây. Kiểm tra lại số lượng và tình trạng sức khỏe của chim con ở từng hộp. Loại bỏ tất cả con bị chết ra khỏi khu nuôi dưỡng. Những con yếu cần được nuôi dưỡng và chăm sóc riêng. Chuẩn bị thức ăn Thức ăn cho chim con cần loại chất lượng cao, giàu dinh dưỡng nhưng phải dễ tiêu hoá. Thức ăn cho chim cút nói chung, chim non nói riêng có nồng độ dinh dưỡng cao hơn ở gà. Chim cút từ 1-3 tuần tuổi có nhu cầu protein rất cao: 24-26%, sau đó, dần giảm xuống 22-24 % trong các tuần tiếp theo. Đảm bảo được yêu cầu này sẽ góp phần giúp chim con nhanh chóng thích nghi với môi trường sống mới sau khi nở, chim sẽ khoẻ mạnh và sinh trưởng phát triển tốt hơn. Trong giai đoạn dưới 3 tuần tuổi, người ta cho ăn tự do. Thực hiện quy trình úm chim non Hình 7.5. Nhà úm chim cút mới nở Sau khi xe vận chuyển chim giống về, nhanh chóng thả chim vào quây, cho uống nước ngay, pha thêm 50g đường glucoz +1g vitamin C vào 1 lit nước cùng với chất điện giải (theo hướng dẫn của nhà sản xuất) cho chim con uống trong 2 giờ đầu tiên, sau đó bắt đầu cho ăn tự do. Nếu biết rõ thời gian chim nở, phải sau 6 giờ mới cho ăn, nếu cho ăn quá sớm hay quá muộn sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh trưởng và sức khoẻ của đàn chim. Trong một tuần lễ đầu tốt nhất là cho ăn tự do. Nếu cho ăn theo bữa, thì mỗi ngày đổ và lắc thức ăn 6 lần. Số bữa ăn hàng ngày giảm dần theo tuần tuổi, từ tuần thứ hai đổ và lắc thức ăn 4 - 3 lần /ngày. Chăm sóc - Yêu cầu về nhiệt độ và độ ẩm Khả năng điều tiết nhiệt của cơ thể chim con còn rất kém, nhất là trong 10 ngày tuổi. Trong 4 ngày đầu tiên, nhiệt độ môi trường là 1 - 10oC thì tỷ lệ chim con chết từ 40 - 50%; sau 10 ngày tỷ lệ chết là 60%, số còn lại khả năng sinh trưởng kém, còi cọc và ảnh hưởng xấu tới sức sản xuất sau này. Cần lưu ý là chim cút non nhỏ, yếu hơn gà con rất nhiều nên cần phải được chăm sóc chu đáo để có tỷ lệ nuôi sống cao.