Đề tài:"Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Longchi nhánh Hà Nội":

Lượt xem: 27,967Lượt tải: 9Số trang: 80

Mô tả tài liệu

Trong giai đoạn hội nhập như hiện nay, một giai đoạn nóng của thị trường tài chính Việt Nam, nhất là đối với các ngân hàng thương mại. Vì vậy, các hoạt động tại các ngân hàng thương mại khá sôi động và đạt rất nhiều kết quả tốt. Với phương châm “Chớp thời cơ và loại bỏ khó khăn”, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã đa dạng hoá dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nhất là đối với các ngân hàng quốc doanh. Trong hệ thống ngân hàng quốc doanh, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu...

Tóm tắt nội dung

Tuy là một ngân hàng non trẻ, Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long đã và đang thực hiện dự án hiện đại hóa ngân hàng theo hướng tự động hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, có nhiều dịch vụ hiện đại phục vụ khách hàng. Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá. Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc có hoàn trả. Hoạt động tín dụng ngân hàng có các hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài vay là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân có sự đồng nhất giữa tín dụng và cho vay trong các ngân hàng. Rất nhiều các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại chưa được phát triển ở Việt Nam. Tín dụng ngân hàng ở Việt Nam (chủ yếu là cho vay) đã đóng vai trò to lớn vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và tín dụng ngân hàng thương mại nói chung là một lĩnh vực phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi những chuyển biến của môi trường kinh tế. NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, có chức năng huy động vốn, cho vay và làm các dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng phong phú đã tạo đà cho hoạt động ngân hàng phát triển các mặt hoạt động của ngân hàng, tớn dụng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là tiền đề, là cơ sở để phát triển công tác huy động vốn, là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền. Với chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển với sự đa dạng hoá các hình thức cho vay. - Thứ nhất: vốn vay từ ngân hàng đã bù đắp một phần vốn lưu động của doanh nghiệp tạm thời thiếu, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên nền kinh tế thị trường, những thông tin, tín hiệu từ thị trường là rất quan trọng để doanh nghiệp ra những quyết định liên quan đến các hoạt động của mối trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, với mục tiêu lợi nhuận cần nắm bắt thời cơ, tận dụng ưu thế vốn có của mình về mọi mặt: lợi thế so sánh của ngành trong nền kinh tế, lợi thế so sánh của doanh nghiệp trong ngành… Theo đó, tuỳ thuộc vào thời cơ, tín hiệu thị trường mà doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Và chỉ mở rộng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thì các doanh nghiệp mới mong đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo thêm việc làm cho người lao ba: tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và tổ chức quản lý có hiệu quả hơn. Với chức năng là trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng đã có những biện pháp tích cực tác động vào quá trình thanh toán ở các doanh nghiệp, mở rộng các hình thức cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn. -Thứ tư: Đối với Nhà nước, thông qua hoạt động ngân hàng, Nhà nước đã giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp Nhà nước hoạch định những chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ hợp lý, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, kìm chế và đẩy lùi lạm phát. Nói cách khác, tín dụng ngân hàng như là một trong các công cụ của bàn tay vô hình của Nhà nước- tham gia điều tiết nền kinh tế thị trường (thông qua các doanh nghiệp), theo định hướng xã hội chủ lại, tuy tín dụng ngân hàng đã giữ một vị trí rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế thị trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng thực sự đóng vai trò như vậy trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng cao, mở rộng chất lượng tín dụng không những từ góc độ ngân hàng mà còn cả góc độ doanh nghiệp, của nền kinh tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn, đảm bảo khả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế. - Cho vay thấu chi: Thấu chi hình thức cho vay ngắn hạn, là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian nhất định. - Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng cho các khách hàng có nhu cầu vay không thường xuyên, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất tức là vốn vay của ngân hàng chỉ tham gia một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách khoản cho vay này thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ mang tình thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất kinh lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. - Đồng bảo lãnh: Đối với cá thương vụ mà số tiền bảo lãnh xó giá trị rất lớn vượt quá tỷ lệ cho phép đối với một ngân hàng hoặc vượt quá khả năng tài chính hiện thời của ngân hàng hay để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận được một số tiền bằng mậnh giá trừ lãi suất chiết khấu và phí hoa khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn vời thời hạn tối đa là 90 ngày, điều này tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giải phóng vốn cho ngân hàng, nâng cao tính thanh khoản trong tài sản Có của ngân hàng. Tuy nhiên, các NHTM vẫn giữa một vai trò tích cực khi lập ra và tạo điều kiện cho một lượng lớn các tổ chức tín dụng thuê mua phát triển, đương nhiên ngân hàng cũng là người chỉ đạo các tổ chức tín dụng thuê mua và có thể bảo lãnh cho một số nghiệp vụ tín dụng này có những lợi ích to lớn cho mọi doanh nghiệp (đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ) về rất nhiều phương diện (đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, không đảo lộn cơ cấu tài chính, có lợi về thuế). Ở nước ta hiện nay, tín dụng chiết khấu và tín dụng thuê mua còn chưa hoàn thiện, nguyên nhân của điều này là chưa có một hành lang pháp lý chuẩn để thực hiện, chưa có những văn bản pháp lý cụ thể để điều chỉnh những mối quan hệ liên quan đến hai nghiệp vụ điều kiện nước ta hiện nay, vai trò can thiệp, điều tiết của Chính phủ tạo môi trường kinh tế là rất lớn – thông qua các công cụ của Nhà nước như chính sách tài khoá, tiền tệ, nhằm thực hiện các mục tiêu, đường lối, chiến lược trong quá trình đưa nền kinh tế hội nhập và phát triển theo định hướng xã hội chủ những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, hoạt động tín dụng còn chịu tác động của môi trường kinh tế thông qua chính sách về xuất nhập khẩu, chính sách về quản lý đất đai, chính sách đối ngoại… Vì những chính sách này tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các doanh nghiệp vay vốn, nó ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến việc trả nợ ngân hàng. Vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt các công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có biến động nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng của động tín dụng của ngân hàng cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, đều phải thực hiện trên cơ sở các điều khoản quy định của pháp luật. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy đủ và ổn đinh, việc thực thi pháp luật chưa nghiêm sẽ tạo các khe hở trong quản lý tín dụng, gây ra lừa đảo, chụp giật vốn vay của ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng lạm dụng tài sản làm sai trái ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mối trường chính trị – xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và ngân hàng cũng có thể mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng cũng như các hoạt động khác. Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị hay nếu có bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các khoản tín dụng của mình - điều này sẽ đẩy các ngân hàng đến bờ vực phá hoạt động tín dụng, các ngân hàng còn bị chịu tác động của những nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh, sự bất ổn về chính trị… Những nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của các đơn vị vay vốn và vì thế ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng. Tóm lại, qua phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng, từ nhiều góc độ khác nhau, từ trong hệ thống ngân hàng đến các doanh nghiệp và nền kinh tế; từ các yếu tố chủ quan và khách quan, điều đó cho thấy hoạt động tín dụng đã, đang và sẽ là cái đích mà tất cả các NHTM hướng vì vậy mà việc nghiên cứu hoạt động tín dụng là việc làm rất cần thiết vì nó giúp cho các nhà hoạt động ngân hàng cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng điều hiểu được những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và chất lượng của nó. Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hình và sự thay đổi của các yếu tố môi trường kinh tế như thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ cuất nhập khẩu, GDP, tỷ lệ lạm pháp, sự ổn định về kinh tế, các chính sách của Chính Phủ: chính sách tiết kiệm, chính sách đầu tư, các nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước,… có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của NHTM nói nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp gia tăng, hoạt động các doanh nghiệp sụt giảm thì khiến cho lãi suất tín dụng tăng để bù đắp lạm phát, các doanh nghiệp không đủ khả năng để vay mượn ngân hàng khiến cho môi trường kinh doanh của các NHTM không thuận lại, khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Xu hướng toàn cầu hoá với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự di chuyển tự do hơn của các dòng vốn quốc tế làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngân hàng có những thay đổi mạnh mẽ. Các ngân hàng nước ngoài vừa có nhiều uy tín, có tiềm lực vốn dồi dào nên việc họ đầu tư vào Việt Nam gây cho hoạt động tín dụng của các NHTM gặp khó khăn trong việc tiếp cận các doanh nghiệp lớn. Song nói cách khác, việc gia nhập WTO và xu hướng toàn cầu hoá lại tạo điều kiện cho NHTM trong nước tiếp cận được với các đối tác khách hàng mới, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài, tận dụng được công nghệ phát triển trên thế giới để hoàn thiện hệ thống bank của ngân điều này giúp cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi phát triển, mở rộng các hoạt động tín dụng, khiến cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả và có độ an toàn tối đa. Môi trường văn hoá xã hội được hình thành từ những tổ chức và nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị xã hội như: cách thức nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữ tiền tệ, sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động ngân hàng. Do đó, đòi hỏi ngân hàng phải tích cực hơn nữa việc tự điều chỉnh cho phù hợp với các yếu tố này để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mình theo cơ chế thị đảm bảo khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan lực của khách hàng được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đòi hỏi của hoạt động tín kiện tín dụng được đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của doanh nghiệp trong quá trình vay vốn đồng thời đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn của ngân quy trình tín dụng các ngân hàng thường chỉ đưa ra quyết định cho vay sau khi đã phân tích cẩn thận các yếu tố có liên quan đến uy tín và khả năng trả nợ của người vay nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro do chủ quan của người vay có thể gây nên. Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩm định, tính cách của người vay không chỉ được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức chung mà còn phải kiểm nghiệm qua những kết quả hoạt động trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong tương lai. Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng quan tâm, uy tín của khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và Ngân hàng. Do đó, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng với những thời gian khác nhau mới có kết luận chính xác. Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín dụng trung – dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểu cho việc duy trì hoạt động thường xuyên của tài sản cố định. Vì vậy, năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao thì càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng hoạt động tín xem xét khả năng thích nghi của bộ máy quản lý doanh nghiệp vói biến động của cơ chế thị trường là điều cần thiết trước khi Ngân hàng quyết định cho vay. Như vậy, vốn tín dụng chỉ thực sự mang lại hiệu quả đối với ngân hàng và bản thân đơn vị vay vốn khi các đơn vị vay vốn hoạt động kinh doanh thực sự có hiệu quả, các dự án đơn vị đầu tư có tính khả thi. Nếu doanh nghiệp vay vốn làm ăn không hiệu quả hoặc dự án không có tính khả thi thì việc hoàn trả các khoản vay là vô cùng khó khăn, các ngân hàng sẽ không thể htu hồi các khoản nợ đúng hạn được, chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ thấp. Một chiến lược kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, giúp ngân hàng khai thác tốt nhất năng lực hiện có của đơn vị đồng thưòi nó cũng giúp cho ngân hàng có thể thích ứng một cách nhanh nhất với những biến đổi trong môi trường kinh doanh của vì vậy, công tác lập chiến lược kinh doanh hiện được các ngân hàng rất coi trọng và nó có ảnh hưởng tới chất hoạt động tín dụng. Để các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, linh hoạt, ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp các bộ phận, phòng ban liên quan một cách khoa học, trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng, quản lý được tài sản nợ và tài sản có của ngân bộ phận, phòng ban cần được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và có ý thức trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, đây là cơ sở để có nghiệp vụ tín dụng lành mạnh. Tuy nhiên, công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó. Trong quy trình tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ trực tiếp tiếp xúc với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu thập thông tin về khách hàng, về dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao thông tin về khách hàng và dự án sau khi được các phòng ban chức năng của ngân hàng xem xét, nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể về phương thức giải ngân và thu nợ sau này. Ngân hàng như vậy, các bộ phận phòng ban của ngân hàng cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau trong hoạt động kinh doanh, phòng này hoàn thành nhiệm vụ sẽ tạo điều kiện, cơ sở để phòng kia hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, với mục đích chung là cho vay an toàn và hiệu quả. Nếu tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng đều được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng được lựa chọn được những dự án tốt để cấp tín dụng cũng như tạo uy tín tốt cho ngân hàng trong lòng khách hàng. Nói tóm lại, công tác tổ chức hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện tốt công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM. Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện hay là những kế hoạch sử dụng vốn vay. Thẩm định tín dụng là việc ngân hàng thực hiện một loạt các nghiệp vụ để thu thập thông tin, lựa chọn, phân tích và đánh giá tổng hợp đưa ra những kết luận về mọi mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả của phương án xin vay, tình hình bảo đảm tiền vay… Trên cơ sở đó đưa ra quyết định cho vay, đảm bảo khả năng thu hồi vốn. Thẩm định tín dụng là phương pháp phân tích tổng hợp trên nhiều mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, chịu ảnh hưởng của các nhân tố phức tạp tác động, đòi hỏi phải có sự nhanh nhạy, tính toán và cân nhắc chính xác, loại bỏ những thông tin nhiễu, tổng hợp xử lý thông tin chính xác thì mới có thể phê duyệt cho vay có hiệu quả. Đối với các dự án xin vay vốn, thông qua công tác thẩm định, ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn và cũng giúp cho ngân hàng có thể mở rộng hoạt động tín dụng của muốn có thông tin nhanh, chính xác và toàn diện thì phải có bộ phận tổng hợp phân tích và xử lý thông tin, loại trừ những thông tin nhiễu; chất lượng của thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến khoản cho vay, vì vậy, chất lượng thông tin càng cao thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn. ở nước ta hiện nay, chưa có các hãng kinh doanh thông tin tín dụng… Hiện tượng một khách hàng vay nhiều ngân hàng với dự án khác nhau là phổ biến, nhưng các ngân hàng không có thông tin đầy đủ, nên nhiều trường hợp vỡ nợ, mất khả năng thanh toán mới nhận ra. Một vấn đề nữa là việc mở rộng tín dụng một cách thái quá, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn dẫn đến tình trạng dư nợ cao, vượt quá khả năng quản lý của cán bộ ngân hàng. Mặt khác, công tác kiểm soát nội bộ còn đóng vai trò là ‘những hồi chuông’ nhắc nhở những phòng ban (đặc biệt là phòng kinh doanh) và các cán bộ tín dụng trong việc chấp hành tốt quy chế tín dụng, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ để theo kịp nhịp độ phát triển của nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác, chất lượng tín dụng. Con người có vai trò quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn, tài sản của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng ngân hàng nói động của ngân hàng ngày càng phát triển, đa dạng hoá các hình thức kinh doanh dịch vụ, sử dụng các phương tiện làm việc hiện đại, tiên tiến. Cụ thể hơn, yếu tố quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng chính là nguồn nhân lực của ngân hàng, việc này ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề mở rộng hoạt động tín dụng cảu ngân lại, trình độ cán bộ quản lý điều hành và cán bộ tín dụng hạn chế sẽ làm giảm chất lượng thẩm định tín dụng, quyết định cho vay thiếu cơ sở khoa học và kinh tế, ảnh hưởng đến chất lượng món vay, không có biện pháp xử lý kịp thời khi có tình huống bất lợi xảy ra cho ngân hàng. Các cán bộ của các phòng ban, bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu ấn của ngân hàng trong lòng thị ngân hàng có chi nhánh, trụ sở tại các trung tâm kinh tế của cả nước hay các thành phố lớn sẽ giúp cho ngân hàng đó có điều kiện phát triển nhiều hình thức tín dụng hơn những ngân hàng khác. Ví dụ như ngân hàng tập trung cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì nên có chi nhánh tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… còn tập trung vào các doanh nghiệp lớn thì nên đặt chi nhánh tại các khu công nghiệp, khu chế hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội (MHB Chi nhánh Hà Nội) được thành lập theo công văn số 675/NHN- CNH ngày 27/ 06/ 2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Quyết định số 47/ 2003/ ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động theo các quy định của pháp luật, theo Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc và theo Quy chế của Ngân gian hoạt động của Chi nhánh phù hợp với thời gian hoạt động của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long ghi trong Điều lệ đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn y theo Quyết định số ngày 8/ 12/ 1997. Khi mới hình thành, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- Chi nhánh Hà Nội tại trụ sở chính có các phòng: Tín dụng, Kế toán - Ngân quỹ, Hành chính nhân sự, Kiểm soát nội bộ. Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, tái bảo lãnh, vay vốn đầu tư phát triển theo các quy định của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và quy định của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Lập các báo cáo thống kê về nghiệp vụ tín dụng, ngoại hối, bảo lãnh, tái bảo lãnh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và theo chế độ thông tin báo cáo do Tổng giám đốc ban hiện công tác hạch toán kế toán, theo dõi, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính, quản lý các loại vốn, tài sản tại Chi nhánh; báo cáo các hoạt động kinh tế - tài chính theo quy định của Nhà nước, theo chế độ thông tin báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Tổ chức việc thu, chi tiền mặt; xuất, nhập ấn chỉ có giá, bảo quản an toàn tiền bạc, tài sản của Ngân hàng và của khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu hiện việc kiểm tra, kiểm toán nội bộ các hoạt động của Chi nhánh theo đúng pháp luật, theo Điều lệ của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, theo qui định về tổ chức và hoạt động của bộ máy kiểm tra nội bộ trong hệ thống Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. MHB Hà Nội có trụ sở tại Thủ đô Hà Nội, là trung tâm tài chính tiền tệ hết sức sôi động chỉ đứng sau TP Hồ Chí Minh, là nơi tập trung cơ quan đầu não của các định chế tài chính, các tổ chức kinh tế lớn nhất nước ta, là khu vực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh, thu nhập bình quân đầu người và trình độ dân trí Hà Nội cũng là môi trường cạnh tranh rất khốc liệt giữa hàng trăm Chi nhánh ngân hàng thương mại lớn mạnh và huy động vốn là một sản phẩm chiến lược của tất cả các ngân hàng này, trong khi năng lực cạnh tranh của bản thân MHB Hà Nội còn hạn chế vì: + Thương hiệu MHB còn ít được biết đến trên thị trường Hà Nội trong khi đặc thù của hoạt động huy động vốn thì “uy tín thương hiệu” là một yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu nhất là đối với thị trường dân cư + Hệ thống sản phẩm dịch vụ tiện ích của MHB còn chưa đa dạng, phong phú, công nghệ ngân hàng còn chưa hiện đại so với các hệ thống ngân hàng lớn mạnh khác trên cùng địa bàn là một rào cản đối với quyết định mua sản phẩm của khách hàng nhất là những khách hàng muốn sử dụng nhiều loại dịch vụ của ngân hàng Với nguồn vốn lớn mạnh như trên, Chi nhánh Hà Nội đã hoàn toàn tạo được thế chủ động trong đầu tư tín dụng cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn, đồng thời đã đáp ứng vốn cho toàn hệ thống tăng trưởng và phát triển, và quan trọng là đã khẳng định được vị thế của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long Hà Nội trên thị trường Thủ đô Hà Nội và khẳng định được hiệu quả hoạt động của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long khi mở hoạt động ra phía Bắc. MHB Chi nhánh Hà Nội đã rất tích cực trong việc tìm kiếm, đa dạng các nguồn huy động cụ thể: nguồn huy động vốn chủ yếu của ngân hàng tập trung phần lớn vào khối các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế. Trong thời gian qua, nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn, song song với hoạt động nguồn vốn trên thị trường II, Chi nhánh đã tích cực phát triển thị trường dân cư và doanh nghiệp bằng cách nghiên cứu thị trường, nắm bắt được nhu cầu mong muốn của khách huy động của ngân hàng được mở rộng với nhiều hình thức huy động đa dạng, linh hoạt nhằm thu hút được một lượng tiền gửi lớn: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng…., các loại hình sản phẩm tiết kiệm đa dạng như tiết kiệm phú lộc, tiết kiệm lãi suất ưu đãi dành cho người cao tuổi, ngoài ra ngân hàng còn huy động vốn bằng hình thức phát hành các loại kỳ phiếu, trái triệt ý kiến chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, của Hội đồng quản trị Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long về việc không được tăng trưởng "nóng" hoạt động tín dụng, trong năm 2004, Chi nhánh Hà Nội đã rất thận trọng trong việc đầu tư vốn, đề ra chiến lược khách hàng phù hợp, ưu tiên đối tượng khách hàng có tài sản thế chấp, bảo đảm tiền vay. Với thế mạnh là ngân hàng thương mại Nhà nước chuyên sâu trong lĩnh vực cho vay phát triển nhà ở, cơ sở hạ tầng, Chi nhánh Hà Nội đã chú trọng tiếp cận, đầu tư các dự án xây dựng đô thị mới, khu chung cư, cho vay các hộ dân xây nhà, mua nhà, sửa chữa nhà. Nắm bắt được điều này, MHB chi nhánh Hà Nội hết sức quan tâm đến hoạt động sử dụng vốn, đến chất lượng tín dụng với mục tiêu đặt ra là tăng trưởng trong ổn định, đảm bảo an toàn vốn tín dụng, không phát sinh nợ xấu… do vậy công tác đầu tư và cho vay của MHB Chi nhánh Hà Nội đã đạt được những thành công đáng kể. Chi nhánh đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm khách hàng, tăng trởng dư nợ như liên hệ với Chi cục Thuế, với UBND các quận trên địa bàn để sàng lọc, lựa chọn và tiếp thị khách hàng tiềm năng; đánh giá chất lượng hoàn thành công việc xếp lương kinh doanh trên cơ sở mức độ hoàn thành chỉ tiêu dư nợ được giao hàng tháng của từng đơn vị, cá nhân; thường xuyên phát động thi đua. Cán bộ thủ quỹ, kiểm ngân luôn nêu cao và phát huy tính trung thực, liêm khiết, nhiều lần trả lại tiền thừa cho khách hàng, phong cách giao dịch văn minh lịch sự, tận tình chu đáo, "vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi", góp phần tạo lập niềm tin của khách hàng đối với Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long. Nội dung phỏng vấn gồm: tính pháp lý, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh, tình hình tài chính, trình độ chuyên môn quản lý, uy tín của khách hàng đối với ngân hàng, trong quan hệ kinh doanh, mục đích khoản vay, lãi, gốc, tài sản đảm bảo, cách thức trả nợ,… Xác định các điều kiện tác động của mọi vấn đề liên quan có thể tác động đến việc triển khai phương án kinh doanh: kinh nghiệm của khách hàng về lĩnh vực kinh doanh, lợi thế của yếu tố đầu vào, yếu tố đầu ra, các điều kiện khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến phương án kinh nay, hoạt động tín dụng của MHB Hà Nội ngoài tuân theo các quy trình tín dụng chung, quy trình tín dụng cho từng loại dịch vụ, hoạt động tín dụng phải tuân theo các văn bản pháp luật của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính ban hành có liên quan đến hoạt động tín dụng ra, hoạt động tín dụng của MHB Hà Nội cũng được điều chỉnh theo các quy chế bảo đảm tiền vay, các quy chế về hạn mức tín dụng, phân loại, chấm điểm tín dụng, những Quyết định và quy định riêng khi ngân hàng có những dịch vụ tín dụng mới như Công văn số 552 của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long về hướng dẫn cho vay doanh nghiệp vừa và này chứng tỏ chiến lược kinh doanh của ngân hàng là tăng tính thanh khoản của các món vay, tăng vay ngắn hạn và giảm cho vay dài hạn để đảm bảo cho rủi ro rín dụng của ngân hàng đạt mức thấp. Với đặc điểm là một chi nhánh mới thành lập tại Hà Nội, một nơi có nhu cầu tín dụng rất lớn song cũng là nơi có môi trường cạnh tranh khốc liệt với hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần hiện đại, có nguồn vốn lớn và thương hiệu mạnh, MHB Hà Nội tạo điều kiện tốt nhất đối với việc chiết khấu các giấy tờ có giá. Song với lượng khách hàng còn hạn chế, doanh số của hoạt động chiết khấu chưa cao, chủ yếu chiết khấu trong ngắn hạn, các loại giấy tờ thường chiết khấu là kỳ phiếu của các ngân hàng thương mại quốc doanh như là chủ yếu, thưong phiếu của doanh nghiệp lớn. Tuy vậy, với xu hướng phát triển của MHB Hà Nội, ngân hàng đã có nghiệp vụ chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, song với trình độ chuyên môn của ngân hàng cũng như của khách hàng mà dịch vụ này chưa được triển khai. Cho thuê tài chính (CTTC) được xem là giai đoạn phát triển cao của hoạt động tín dụng thuê mua và được đánh giá là một hình thức mới để đầu tư vốn vào tài sản sản những năm qua, nền kinh tế tiếp tục phát triển ổn định và vững chắc, tình hình chính trị cũng ổn định đã tạo đà phát triển cho các doanh nghiệp, một số doanh nghiệp đã dần tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tích cực đầu tư đổi mới máy móc thiết bị. Một số chính sách kinh tế thông thoáng của Nhà nước và của ngành ngân hàng đã có tác dụng tích cực thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, các nguồn thu Nhà nước tăng. Vì vậy, trong năm qua, hoạt động tín dụng của MHB Hà Nội đạt được những kết quả rất đáng khích lệ do có những điều kiện thuận lợi khách quan và do những nỗ lực của chi nhánh trong kinh doanh, khẳng định vị trí và uy tín của cơ sở nguồn vốn ổn định của Nhà nước, ngân hàng đã chủ động đầu tư tín dụng cho tất cả các thành phần kinh tế, đặc bịêt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý, hợp pháp, đáp ứng kịp thời đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này được thường xuyên liên tục. Dư nợ cho vay đối với daonh nghiệp vừa và nhỏ luôn tăng và vốn tín dụng ngân hàng đã phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, tăng nhanh quá trình chu chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định tiền tệ. Đối với bản thân ngân hàng, kết quả kinh doanh tăng trưởng qua các năm thể hiện ở sự tăng trưởng lợi nhuận hàng năm khoảng 10% trong đó lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng luôn chiếm khoảng thu từ lãi cho vay có thể đảm bảo, duy trì, ổn định và tăng trưởng cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Lợi nhuận ngày một tăng đã tạo điều kiện cho ngân hàng đảm bảo không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống hàng ngày cho cán bộ công nhân viên, thực hiện tốt nghĩa vụ với MHB Hà Nội. Đồng thời, những kết quả thu được cũng là tiền đề cho ngân hàng có dịp tích luỹ lập quỹ dự phòng rủi ro, chủ động xử lý những tổn thất trong kinh doanh tiền tệ mà vẫn đảm bảo khả năng thanh toán của ngân kết quả nổi bật trong công tác tín dụng, một cách cụ thể hơn là Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội đã tích cực tìm kiếm các dự án nên dư nợ tăng trưởng cao, đạt được và vượt kế hoạch đề ra mỗi ra còn có thêm một số doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn về vay vốn và đặt quan hệ giao dịch với MHB Hà Nội như Tổng công ty dầu khí Việt Nam, Công ty tài chính dầu khí,… - Trong quan hệ tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn đối với khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, MHB Hà Nội đã giải quyết cho vay nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn tôn trọng đầy đủ nguyên tắc tín dụng, đặc biệt chú ý đến an toàn và hiệu quả tín dụng. - Ngoài ra Ngân hàng luôn có những biện pháp hữu hiệu để tiếp cận với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu quả, để chào và giới thiệu về khả năng đáp ứng các nguồn vốn với mức lãi suất và các dịch vụ tiện ích khác có thể đem lại cho khách hàng. - Hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của Ngân hàng cũng thuận lợi hơn nhờ khu vực này cũng đang tự thay đổi theo hướng tích cực. Sự nghèo nàn trong dịch vụ tín dụng đã khiến cho ngân hàng khó có thể thu hút được nhiều đối tượng khách hàng, nhất là các đối tượng doanh nghiệp ngoài quốc hết là do phương pháp điều tra, thu thập và xử lý thông tin về khách hàng mà nhân tố chủ quan là tinh thần trách nhiệm và trình bộ đội ngũ cán bộ tín dụng – vì thế không hiểu rõ về khách hàng, về tình hình thị trường và ngành kinh tế mà ngân hàng cho khi đó, ngân hàng lại căn cứ vào việc thẩm định và phê duyệt phương án sản xuất kinh doanh của cơ quan có thẩm quyền để cho vay, cho nên nhiều phương án khi đi vào thực thi mới bộc lộ những hạn chế. Ngày nay, các định chế ngân hàng hoạt động trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh và cuộc chiến giành giật thị trường diễn ra ngày càng khốc liệt cả trong và ngoài đó đòi hỏi các ngân hàng phải lựa chọn cấu truc và điều chỉnh phương thức hoạt động cho phù hợp với môi trường, nâng cao khả nanưg khám phá co hội kinh doanh và vị thế cạnh những vậy, đội ngũ nhân viên Marketing không có chuyên môn, nghiệp vụ, không có chiến lược nghiên cứu thị trường bài bản, dẫn đến sự không hiệu quả của hoạt động tín dụng, đánh giá sai các đối tượng khách hàng, … Theo nguyên tắc tín dụng và theo các văn bản hướng dẫn việc thẩm định, tái thẩm định của cán bộ tín dụng đối với các khoản vay, khi các đơn vị xin vay cần phải cung cấp đầy đủ các thông tin, các báo cáo tài chính, kế toán, tài sản cầm cố, thế chấp, báo cáo kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc hiện nay chưa có quy định bắt buộc kiểm toán đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nên các tài liệu này của họ không theo đúng chế độ hiện hành gây khó khăn trong quá trình thẩm định, mang lại rủi ro cho ngân hàng. Vì thế các cán bộ tín dụng thường không muốn cho họ vay, hoặc cho vay với quy trình thẩm định, tái thẩm định hết sức chặt chẽ, và với số lượng nhỏ gây khó khăn và làm mất thì giờ của khách khi đó đối với các đơn vị ngoài quốc doanh, nhiều khách hàng đã không đủ điều kiện về tài sản đảm bảo khoản vay của mình. Hơn nữa Ngân hàng cũng chưa có bộ phận chuyên trách về nghiên cứu thị trường và về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật để vừa tư vấn cho các bộ phận trong ngân hàng khi cần, vừa tư vấn cho khách hàng vay vốn vì lợi ích của cả hai phía. - Một số nguyên nhân khách quan khác: nền kinh tế nước ta trong những năm qua tiếp tục phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách khiến cho môi trường kinh doanh và đầu tư bị ảnh hưởng không nhỏ, phần nào gây khó khăn cho hầu hết các doanh nghiệp và ngành ngân hàng nói hàng phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội cần phải hoạt động đa năng trong cơ chế thị trường hiện nay, nhất là trong môi trường đang có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng trên địa bàn Hà thách thức của nền kinh tế đang hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hơn lúc nào hết, cần vạch ra chiến lược lâu dài và định hướng hoạt động trong giai đoạn tới, nhằm phát huy tốt những thành tựu đã đạt được và hạn chế từng bước những tồn tại, khó khăn để đưa hoạt động kinh doanh tăng trưởng vững vàng trong cơ chế mới. Mặc dù có những khó khăn, thách thức trong hoạt động ngân hàng, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu, đoàn kết nhất trí cao của lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên, ngân hàng quyết tâm thực hiện tốt một số mục tiêu chủ yếu tập trung vào cho vay các doanh nghiệp nàh nước làm ăn hiệu quả, nhất là các doanh nghiệp cổ phần hoá, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tín nhiệm và đủ điều kiện vay vốn, tìm kiếm những dự án có tính khả thi, hiệu quả cao, tạo tiền đề để nhanh chóng mở rộng tín dụng bằng nhiều hình thức, nhưng phải đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra những giải pháp hữu hiệu để thu hồi những khoản nợ quá hạn và lãi treo. - Tích cực tìm kiếm các dự án đầu tư trung và dài hạn có tính khả thi cao, các dự án đồng tài trợ với các ngân hàng khác để tăng trưởng dư nợ, giảm thấp rủi ro, tìm kiếm các khách hàng làm ăn hiệu quả, vay vốn lớn thuộc các tổng công ty. Để góp phần hoàn thành các mục tiêu cơ bản của ngân hàng trong những năm tới và góp phần mở rộng hoạt động tín dụng của MHB Hà Nội. Do sản phẩm của ngân hàng rất đơn điệu, bất cứ một ngân hàng nào cũng có ba hoạt động chính: nhận gửi, cho vay, làm phương tiện thanh toán nên để thu hút được khách hàng thì ngân hàng phải tạo ra sự khác biệt cho mình. Cho vay luân chuyển, là phương thức cho vay phù hợp với tính năng động và nhanh nhậy của nền kinh tế, rất thuận lợi cho khách hàng vay vốn thường xuyên, tạo điều kiện để vốn tín dụng luân chuyển đều đặn qua ngân hàng. Chi nhánh nên mở rộng loại tiền cho vay, không chỉ cho vay VND, USD mà có thể cho vay Nhân dân tệ, Yên Nhật,… Chi nhánh nên mở rộng quan hệ đối với các ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực sở trường của mình là lĩnh vực nông nghiệp, vật tư nông sản,… để mở rộng cho vay nội tệ. Thực hiện cấp tín dụng tại nhà giúp ngân hàng xem xét được tận nơi cơ sở vật chất, trang thiết bị của doanh nghiệp, có điều kiện đánh giá về tình hình làm ăn của khách hàng. Bởi vì hiện nay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất cần sự tư vấn của chi nhánh vì các doanh nghiệp này mới ra đời, trình độ quản lý, trình độ lập dự án và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này còn rất hạn chế và kém nhạy bén trên thị trường, không có khả năng dự đoán về những biến động mạnh. MHB Hà Nội chịu sự điều chỉnh của Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, vì thế việc điều chỉnh lãi suất không những phải kết hợp giữa khách hàng và ngân hàng mà còn với Hội sở chính. Để khắc phục vẫn đề trên và thu hút được nhiều khách hàng, mở rộng quy mô hoạt động tín dụng thì ngân hàng cần phải phân loại khách hàng theo quy định của Hội sở chính để có chính sách lãi suất phù hợp. + Thực hiện đa dạng hoá khách hàng theo hướng: duy trì và củng cố quan hệ tín dụng với khách hàng đang có quan hệ tín dụng với ngân hàng đặc biệt là các doanh nghiệp làm ăn hiệu tắc quan trọng đặt lên hàng đầu trong cho vay là “an toàn và hiệu quả”, thực tế trong công tác cho vay đã xảy ra một số mâu thuẫn cần giải quyết hài hoà đó là tăng cường doanh số cho vay, tăng dư nợ nhưng phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gia tăng cùng với sự tồn tại của nhiều hình thức sở hưũ, ngành nghề kinh doanh, vì vậy thường xuyên đổi mới cơ chế cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là điều cần cầu đặt ra đối với cơ chế cho vay là phải gọn nhẹ, linh hoạt, phù hợp với từng loại hình kinh tế, từng loại hình doanh nghiệp, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động cho vay trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. - Tạo sự đơn giản, dễ hiểu về thủ tục cho vay phù hợp với trình độ của mọi đối tượng khách hàng: Cán bộ tín dụng cần hướng dẫn khách hàng về những giấy tờ cần thiết một cách rõ ràng, để họ hiểu và thông cảm với những khó khăn của ngân xác định kỳ hạn nợ không chỉ đơn thuần căn cứ vào bảng tổng kết tài sản, kế hoạch sản xuất mà còn phải dựa vào hợp đồng mua bán, tiêu thụ sản phẩm, do vậy Ngân hàng cần xác định kỳ hạn cho vay sao cho phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách hàng và tuổi thọ của máy móc thiết bị. Mỗi khách hàng có một chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau do đó đối với từng loại hình kinh doanh của khách hàng mà Ngân hàng tiến hành cho vay với kỳ hạn phù hợp. Ngân hàng nên mở rộng cho vay kinh tế ngoài quốc doanh thông qua việc sử dụng mức lãi suất “mềm” hơn tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này có thể vay vốn và kinh doanh có khi đó đối với các khoản vay trung và dài hạn thì tài sản đảm bảo thường là có giá trị lớn mà khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không đủ yêu cầu, thậm chí họ không có tài sản đáng kể để đem đi thế chấp do đó họ không có điều kiện để vay vốn nhất là các nguồn vốn lớn. - Đối với những đơn vị không đủ điều kiện để thực hiện như hai dạng trên thì Ngân hàng phải chú trọng thẩm định dự án, phương án vay vốn thông qua hội đồng tín dụng trong đó có các chuyên gia tư vấn theo chuyên môn yêu cầu để quyết định có cho vay hay không và cho vay ở mức nào. Tuy nhiên trong điều kiện thị trường chứng khoán như nước ta hiện nay thì loại giấy tờ có giá, tính ổn định cao, chứa đựng ít rủi ro là các trái phiếu Chính phủ, Ngân hàng nên mở rộng hình thức bảo đảm bằng loại tài sản này. - Bảo lãnh cũng là hình thức có nhiều ưu điểm giúp cho các đơn vị ngoài quốc doanh mới thành lập có điều kiện vay vốn ngân hàng. - Mỗi hình thức bảo đảm đều có những ưu và nhược điểm khác nhau, tuy nhiên việc sử dụng chúng một cách tổng hợp và linh hoạt để chúng bù đắp và bổ sung cho nhau thì sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tiếp cận được tới nguồn vốn mà vẫn đảm bảo an toàn cho Ngân hàng. Còn cho vay theo hạn mức tín dụng thì Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau một mức dư nợ tối đa trong thời gian nhất định căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh và tài sản đảm bảo của khách ra, Ngân hàng nên áp dụng nghiệp vụ thấu chi, ưu điểm của nghiệp vụ này là khách hàng được sử dụng vốn và tiền vay một cách linh hoạt và chủ nay các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh làm ăn thực sự chưa có hiệu quả nhưng với sự nỗ lực của bản thân họ cùng với sự ủng hộ, khuyến khích của Nhà nước thì trong tương lai không xa các ngân hàng có thể áp dụng nghiệp vụ này. Đối với ngân hàng, với đặc điểm và vị trí của hoạt động tín dụng, muốn nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn vốn kinh doanh, vấn đề tiêu chuẩn hoá cán bộ đào tạo và đạo tạo lại, đào tạo liên tục cán bộ có ý nghĩa rất lớn. Thực tế cho thấy, một trong những vấn đề quyết định đến chất lượng tín dụng cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào các công việc – từ việc chấp hành các cơ chế chính sách đến việc thẩm định dự án, xét duyệt hồ sơ, quyết định cho vay, kiểm tra sử dụng vốn, thu nợ. Trong điều kiện chúng ta đang hội nhập và phát triển, hơn lúc nào hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, hiện đại hoá ngành ngân hàng nói riêng mà trong đó mục tiêu mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu. Để có được một đội ngũ cán bộ đạt tiêu chuẩn, ngân hàng cần thường xuyên hướng dẫn, tổ chức tập huấn kiến thức chuyên môn, cơ chế chế độ, thể lệ của ngành, liên ngành, đường lối chủ trương của Đảng cũng như mục tiêu phát triển kinh tế của Nhà nước, của thành phố. Như vậy, trong kinh doanh sẽ hạn chế bớt rủi ro không đáng có do ý thức chủ quan của cán bộ ngân hàng, tình hình nợ qúa hạn giảm thấp, chất lượng tín dụng nâng cao. Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả cho vay sau này vì kết thúc khâu thẩm định sẽ đưa ra kết quả là có chấp nhận cho khách hàng vay hay không .Khi có được các thông tin cần thiết thì việc lựa chọn dự án đầu tư là rất quan trọng .Thực ra đây là quan hệ hai hàng lựa chọn ngân hàng và ngân hàng lựa chọn khách hàng.Điều này rất quan trọng vì nó hạn chế rủi ro cho ngân hàng,đảm bảo vốn cho vay ra được thu hồi đầy đủ,đúng hạn và có lãi,góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khi lựa chọn dự án đầu tư,ngân hàng cần chú ý lựa chọn khách hàng có hoạt động hiệu quả,làm ăn có uy tín và sẵn lòng trả nợ đúng hạn.Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các tổ chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh giá mức độ uy tín của khách lựa chọn dự án đầu tư phải được thực hiện một cách chủ động ,không nên ở thế bị động ,ngồi chờ khách hàng đến gõ cửa xin vay.Việc lựa chọn khách hàng phải áp dụng cho mọi thành phần kinh tế ,tránh tình trạng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngân hàng cứ cho vay mà không xem xét đơn vị đó có hiệu quả hay không. Để việc lựa chọn dự án đầu tư được khoa học ,Ngân hàng nên tiến hành phân tích và xếp loại các doanh nghiệp theo 4 nhóm tiêu thức:Qui mô doanh năng thanh toán,quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh số nội dụng trong chính sách cho vay mà ngân hàng cần xác định và xây dựng cho được là: Để xây dựng được bảng này đòi hỏi phải có sự xem xét cân nhắc kỹ lưỡng tình hình thị trường, nó phải được chỉnh sửa cho phù hợp với từng thời kỳ, với sự biến động của tình hình kinh doanh thực tế của ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống nói chung. - Xây dựng được các bước cụ thể cần tiến hành để “tìm kiếm”, phân tích và phát hiện những khoản cho vay có vấn đề nhằm hướng dẫn, hỗ trợ cho cán bộ tín dụng nâng cao chất lượng, hiệu quả khoản cho vay. Muốn xây dựng được, ngân hàng phải nắm được xu thế vận động của nền kinh tế, của các ngành, lĩnh vực cũng như những chủ trương của Nhà nước trong việc phát triển những ngành nghề lĩnh vực đó và phải nắm được sự chuyển dịch các loại cơ cấu trong nền sản xuất hàng hoá nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói có vốn thì không thể đầu tư, ngân hàng không có nguồn vốn đủ lớn, đủ ổn định thì không thể đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng một cách thoả đáng, không thể có đầu tư tín dụng và đương nhiên không thể đặt ra vấn đề chất lượng tín dụng. Hơn nữa, các khoản cho vay trung và dài hạn thường có chất lượng cao, tỷ lệ nợ quá hạn thấp do các khoản vay này được các đơn vị vay vốn sử dụng hiệu quả hơn, vốn dài hạn có tác động tích cực hơn, mạnh mẽ hơn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và vì thế nó được hoàn trả tốt, đúng hạn và đầy đủ. Các biện pháp huy động vốn phải được thực hiện linh hoạt đối với mỗi đối tượng, mỗi nguồn khác nhau (từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng), đó là một chính sách lãi suất mềm dẻo, linh hoạt vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, đó là tạo tính lỏng cao cho các loại tiền gửi, sẵn sàng đáp ứng nhanh nhất nhu cầu rút tiền của khách hàng, tạo lòng tin cho khách thời, cũng nên có giải pháp đối với loại tiền gửi có thời hạn ngắn chẳng hạn áp dụng mức lãi suất thấp, có thể là lãi suất bằng không, cải thiện phương thức thanh toán, áp dụng nhiều máy móc, thiết bị hiện đại vào công tác thanh toán, đảm bảo việc gửi, lĩnh, chi trả được thực hiện thuận tiện, nhanh chóng, chính xác thì việc huy động vốn dài hạn có thể thành công, ngân hàng sẽ có nguồn vốn lớn, ổn định đảm bảo đáp ứng cho các dự án kinh tế khả thi có hiệu quả, doanh nghiệp có cơ hội để đổi mới công nghệ, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đứng vững trong cạnh tranh. Về phía ngân hàng, chất lượng tín dụng sẽ được nâng lên trên cơ sở sự ổn định và phát triển của doanh mới và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng sẽ phát huy được ưu điểm của nó và tạo điều kiện trong công tác kinh doanh của ngân hàng như thời gian thực hiện thanh toán diễn ra nhanh gọn, an toàn và nâng cao chất lượng dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh nghệ mới tạo điều kiện tốt để nâng cao chất lượng công tác quản trị, điều hành: công nghệ mới cho phép Hội sở chính của ngân hàng thu thập thông tin, giám sát từ xa một cách chặt chẽ hơn các mặt hoạt động của chi nhánh, điều hành tập trung về công tác huy động và điều hoà vốn trong toàn hệ thống, thực hiện công tác thống kê nợ quá hạn, nợ xấu một cách khách quan, chính xác và kịp thời hơn. Thật vậy, để sử dụng hiệu quả công nghệ mới, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải học hỏi thêm và thích ứng với yêu cầu mới cao hơn: kỹ năng sử dụng máy tính và tiếng anh phải được nâng lên, cán bộ tín dụng phải có phong cách làm việc hiện đại, tuân thủ nghiêm ngặt các cơ chế và quy trình nghiệp vụ liên quan để phát huy hiệu quả của công nghệ mới, tránh gây thiệt hai do sự cố kỹ thuật gây nên. Như việc áp dụng công nghệ mới theo dự án hiện đại hoá ngân hàng đã tạo ra bước vượt bậc tiến bộ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đến gần với thông lệ quốc tế cả trong đổi mới tổ chức bộ máy, cơ chế quản trị, điều hành lẫn trong việc nâng cao năng lực và điều chỉnh hành vi của đội ngũ cán bộ. NHNN nên nâng cao hiệu quả hoạt động của CIC bằng các biện pháp như: kết hợp với bộ tài chính, cơ quan thuế để thu nhập thông tin về nghĩa vụ thuế và tình hình nộp Ngân sách nhà nước của các đơn vị. Điểm này có thể giúp cho cán bộ ngân hàng kiểm tra được một phần tính xác thực của các báo cáo tài chính và tình hình làm ăn thực tế của các đơn vị xin vay vốn. Hiện đại hoá ngân hàng trên cơ sở tiếp tục đổi mới công nghệ ngân hàng, tạo tiền đề cho các NHTM trong chiến lược huy động và sử dụng vốn. Từng bước quốc tế hoá các hoạt động ngân hàng, hội nhập với cộng đồng tài chính và tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế. Chi nhánh kiến nghị Ngân hàng khi giao kế hoạch năm cũng đồng thời công bố chính sách tín dụng cụ thể trong đó xác định các đối tượng: loại hình nghành nghề, tỷ trọng, mức cho vay, loại tài sản thế chấp cầm cố… được phép hoặc hạn chế hoặc phải xin ý kiến Ngân hàng trước khi tiếp cận cho vay để chi nhánh chủ động hơn trong kinh doanh và tránh rủi ro đáng tiếc ( rủi ro về tín dụng, rủi ro về chi phí nhân viên tiếp cận…) Để chuẩn bị cho hội nhập quốc tế, trong năm 2006 MHB tiếp tục thực hiện mục tiêu và định hướng hoạt động trong đề án cơ cấu lại đã được Chính phủ phê duyệt, thực hiện các công việc chuẩn bị để cổ phần hóa theo chủ trương của Chính phủ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực quản lý, điều hành theo thông lệ quốc tế; cung cấp các dịch vụ và tiện ích tiên tiến cho khách hàng; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư, khách hàng và không ngừng nâng cao đời sống của người lao động của MHB. Với mục tiêu phấn đấu trở thành một trong những sự lựa chọn hàng đầu của các cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện thành công việc cổ phần hóa, trong những năm tới, MHB sẽ tiếp tục xây dựng và cơ cấu lại mô hình tổ chức và phương thức quản trị theo chuẩn mực quốc tế, xây dựng nguồn nhân lực, đẩy mạnh đầu tư công nghệ tạo điều kiện cung cấp thêm các sản phẩm, dịch vụ tiện ích cho khách hàng nhằm nhanh chóng thích nghi với điều kiện hoạt động mới: hoạt động trong môi trường cổ phần hóa, hội nhập quốc tế, cạnh tranh thị trường.