QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐẤT

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐẤT

Thể loại: Môi trường
Lượt xem: 40,869Lượt tải: 1Số trang: 37

Mô tả tài liệu

Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người. Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp. - Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%....

Tóm tắt nội dung

Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%. Ô nhiễm đất có thể phân loại theo nguồn gốc phát sinh thành ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải của các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm nước và không khí từ các khu dân cư tập tác nhân gây ô nhiễm có thể phân loại thành tác nhân hoá học, sinh học và vật lý. địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa mang tính chất chuyển tiếp, mạng lưới sông ngòi, nguồn nước ngầm khá phong phú, thảm thực vật khá đa dạng, phong phú, dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, tình hình kinh tế, xã hội ổn định đã có nhiều thuận lợi và cũng gây ra không ít khó khăn cho đất đai Đất phù sa phù hợp với các loại cây trồng ngắn ngày chủ yếu là : lúa du và miền núi chủ yếu tập trung đất badan và sa cổ phù hợp với các loại cây công nghiệp như : chè ,cà phê,cao su,hồ sự phân bố của các loại cây này còn phụ thuộc vào khí hậu mà chủ yếu là độ cao. Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn,giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gien quý ra nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải,điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán),sản xuất nông nghiệp và thủy sản,điều hòa khí hậu địa xói lở ở bờ biển,ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông lũy nước ngầm,cứ trú của chim,giải trí,du nơi đã tăng hiệu quả sử dụng đất ngập nước trong nuôi trồng thủy hải sản: nuôi tôm quảng canh, quản canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp như đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau,Bạc Liêu,Bến Tre, An được hình thành và tiến hoá chậm hàng thế kỷ do sự phân huỷ xác thực vật dưới sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường . Đất được xem như sản phẩm hoạt động của khí hậu (Cl) trên đá mẹ (p) được làm thay đổi dưới ảnh hưởng của thực vật và các cơ thể sống khác (o), địa hình (r) và phụ thuộc vào thời gian (t). Các quá trình tạo thành đất là tổng hợp những thay đổi hoá học, lý học, sinh học làm cho các nguyên tố dinh dưỡng trong khoáng, đá chuyển thành dạng dễ tiêu. Đất có khả năng nông nghiệp là 3.200 triệu ha, hơn gấp đôi mức đã sử dụng (1.475 triệu ha); trong đó tỉ lệ đưa vào sử dụng ở các nước phát triển là 70%, các nước đang phát triển chỉ có 30%. Diện tích đất thế giới hiện nay: 20% ở vùng quá lạnh, 20% ở vùng quá khô, 20% ở vùng quá dốc, 10% có tầng đất mỏng, 10% ở vùng trồng trọt được, 20% có thể làm đồng cỏ, đất trồng trọt chiếm tỉ lệ thấp, trong đó, đất có năng suất cao (14%), trung bình (28%) và thấp (58%) (nguồn sử dụng không hạn chế phân hóa học và thuốc trừ sâu làm cho đất bị chai cứng, bị nhiễm độc. Ô nhiễm môi trường đất đang có chiều hướng tăng lên do tăng mức sử dụng, sử dụng không hợp lý các dạng phân bón, chất thải rắn đô thị chưa được thu gom, vận chuyển và xử lý kịp thờI, phương thức canh tác không đúng kỹ thuật, đốt nương làm rẫy trên các vùng đất dốc, tưới tiêu không hợp lý đã làm thoái hóa đất như rửa trôi, xói mòn, phèn hóa, mặn và chua hóa thứ sinh. Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4, KCl, super photphat còn tồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng. Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối với mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất. Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt nam còn ít, trung bình từ 0,5-1,0 kg tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất. Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt đọng công nghiệp: kết quả của một số khảo sát cho thấy hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây. Sự tích tụ cao các chất độc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng, vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người. Do sử dụng nhiều hóa chất trong nông nghiệp, hiện nay tình hình ngộ độc thực phẩm do các hóa chất độc, trong đó có thuốc bảo vệ thực vật vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia các khoáng vật hình thành nên đất thường chứa một hàm lượng nhất định kim loại nặng, trong điều kiện bình thường chúng là những nguyên tố trung lượng và vi lượng không thể thiếu cho cây trồng và sinh vật đất, tuy nhiên, trong một số điều kiện đặc biệt chúng vượt một giới hạn nhất định và trở thành chất ô thải rắn đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nếu không được quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật. Ô nhiễm môi trường đất tại các bãi chôn lấp có thể do mùi hôi thối sinh ra do phân hủy rác làm ảnh hưởng tới sinh vật trong đất , giảm lượng oxi trong đất. Các chất độc hại sản phẩm của quá trình lên men khuếch tán , thấm và ở lại trong đất. Nước rỉ từ các hầm ủ và bãi chôn lấp có tải lượng ô nhiễm chất hữu cơ rất cao ( thông qua chỉ số BOD và COD) cũng như các kim loại nặng như  Cu , Zn, Pb, Al ,Fe, Cd , Hg và cả các chất như  P ,N, … cũng cao. Ô nhiễm môi trường đất còn có thể do bùn cống rãnh của hệ thống thoát nước của thành phố là mà thành phần các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại tạo nên các hỗn hợp các phức chất và đơn chất khó phân hủy. Các hoạt động công nghiệp rất phong phú và đa dạng, chúng có thể là nguồn gây ô nhiễm đất một cách trực tiếp hoặc gián gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đất, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước, môi trường không khí nhưng do quá trình vận chuyển, lắng đọng chúng di chuyển đến đất và gây ô nhiễm đất. Tác động của quá trình công nghiệp và đô thị đến đất xảy ra rất mạnh từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII – XIX, đặc biệt là trong những thập niên gần đây. Các chất thải công nghiệp ngày càng nhiều và độc tính ngày càng cao, nhiều loại rất khó bị phân hủy sinh học. Các chất thải độc hại có thể được tích lũy trong đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường đất nghiêm chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng (Pb, Zn, Cd, Cu, và Ni) thường có nhiều ở các khu vực khai thác hầm mỏ, các khu công nghiệp và đô có trong các loại thành phần rác, trong đó có 6 loại rác chứa trên 10% Ni. Người ta thấy rằng, bụi bay trong không khí và bụi lắng ở các khu vực đô thị chắc chắn chứa nhiều nguy cơ có nhiều độc tiềm tàng kim loại hơn bụi ở khu vực nông các nguyên nhân này thì đất ở Việt Nam, nhìn chung đã bị tác động cả hai phương   diện: Thoái hóa và ô chì trong khí thải từ các hoạt động công nghiệp (chủ yếu là giao thông vận tải), lắng xuống và tích tụ gây ô nhiễm đất. Vậy CO2, SO2, NO2 trong không khí bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra mưa axít, làm tăng quá trình chua hoá đất. Các chất thải có khả năng gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn như: chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hoá chất. Đa số các chất này được phóng ra mặt đất, một số chất được phóng ra biển, đi vào sông ngòi, hệ thống nước ngầm, và được tưới cho cây trồng. Hồ Chí Minh, với dân số gần 7 triệu người, nên hàng ngày thải ra một lượng rác vô cung lớn, và có thành phần hết sức phức tạp, nguồn gốc khác nhau từ bùn cống, rừ nước thải, phế thải của nhà máy, trong đó có chứa các chất như mảnh vụn, kim loại linh tinh, mảnh vỏ đồ hộp, sành sứ, chai lọ. Ngoài ra các cơ sở sản xuất xi mạ, pin acquy,… cũng đã thải ra một lượng lớn kim loại nặng vào cống và chính những độc tố náyex đi vào môi trường nông nghiệp qua việc tưới nước cho cây lại, về tương tác giữa ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất và thực vật, được ghi nhận ở hình 7.1. Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương thực, thực phẩm ngày càng tăng và phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu của đất bằng nhiều biện pháp : Tăng cường sử dụng hóa chất như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, sử dụng chất kích thích sinh trưởng làm giảm thất thoát và tạo nguồn lợi cho thu hoạch, mở rộng các hệ tưới tiêu. Tuy nhiên trong phân bón và thuốc  bảo vệ thực vật (BVTV) thường có sẵn kim loại nặng và chất khó phân hủy, khi tích lũy đến một giới hạn nhất định, chúng sẽ thành chất ô khác, các anion NO3- và NO2-   ít bị hấp phụ trong đất (vì hầu hết các keo trong đất là keo âm) sẽ đi vào nước, gây ô nhiễm nước. + Hàm lượng K2SO4, KCl, còn tồn dư acid nếu bón liên tục mà không có biện pháp trung hòa sẽ làm chua đất, nghèo kiệt các ion bazơvà xuất hiện nhiều độc tố đối với cây trồng (như: Al3+, Fe3+, Mn2+…) làm giảm hoạt tính sinh học của đất. Do trong đất có các ion kim loại như kết hợp với lượng phân bón supe lân dư thừa tạo thành photphat kim loại không tan làm cho đất chai cứng và hủy diệt các vi sinh vật có ích trong đất. - So sánh với các nước có nền nông nghiệp hiện đại trên thế giới thì lượng phân của nước ta còn thấp, nhưng nó là một nguyên nhân gây ô nhiễm đất, nước là do: Việc bón phân mất cân đối sẽ làm giảm hiệu quả của phân bón đối với cây trồng và ảnh hướng xấu đến chất lượng bón được chế biến từ rác thải đô thị, phế phẩm sản xuất có chứa nhiều kim loại nặng và các vi sinh vật gây phân chuồng cũng có chứa rất nhiều các loại kim loại nặng và các vi sinh vật gây hại. Ở Việt Nam, phân chuồng thường ít được ủ đúng kỹ thuật và bón đúng liều lượng nên dễ gây ô nhiễm môi trường đất, gây hại cho động vật và bón vào đất chúng có điều kiện phát triển làm ô nhiễm môi trường sinh thái qua lan truyền trong nước mặt hoặc bốc hơi trong không khí. Mặt khác, lạm dụng quá nhiều phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí sẽ làm tăng quá trình khử, sinh ra các chất ô nhiễm như: H2S, CH4 và tạo mùi khó chịu, làm giảm pH của đất. Cùng với phân bón thì hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y cũng được sử dụng ngày càng nhiều, hiện nay Việt Nam sử dụng trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng( có cả các loại thuốc bị cấm như Wolfatox, Monitor, sử dụng là không lớn( từ khoảng 0,5-1 tuy nhiên, cũng như phân bón, việc sử dụng không hợp lý đã làm cho thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y trở thành một nguồn gây ô áp  dụng các biện pháp đó là không thể thiếu trong nền nông nghiệp hiện đại tuy nhiên các biện pháp đó đang bị lạm dụng và sử dụng một cách không phù hợp đã trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước. Các thuốc bảo vệ thực vật thường là những hóa chất độc, khả năng tồn dư lâu trong đất tươi, tác động tới môi trường đất, sau đó đến sản phẩm nông nghiệp, đến động vật và người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn. Hiện nay do sử dụng và bảo quản thuốc BVTV chưa đúng quy định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm quá nhiều nước, lớp đất mặt sẽ bị rửa trôi làm biến đổi tính chất vật lý và hóa học của đất, gây úng xói mòn đất. Các kim loại nặng là nguồn chất độc nguy hiểm đối với hệ sinh thái đất, chuỗi thức ăn và con tế các chất hoá học nếu ở hàm lượng thích hợp rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật, của động vật và con nếu chúng tích luỹ nhiều trong đất thì rất độc hại. Bảng 3.8 dưới đây là đặc diểm chính, nguồn gốc cũng như ảnh hưởng của một số nguyên tố hoá học đến đất, vật nuôi, cây trồng và con gây Ô tồn tại chính trong đất Đặc điểm của chất Tác động của chất đó đến cây trồng, vật nuôi và con huỳnh(với hàm lượng lớn) Có nguồn gốc từ đá, vỏ phong hoá, khí quyển và sản phẩm nhân sinh Từ các nhà máy công đất, S tồn tại dạng khoáng vật của Ca, Mg, sunfua( FeS2, ZnS) dạng hấp thụ trên bề mặt khoáng vật các hợp chất hữu cơ như ( amino acid, methionin của lớp trên cùng của đất, S hoá trị thấp của các hợp chất hữu cơ và vô cơ dễ dàng bị ôxi hoá bởi oxi của không khí và VSV lên hoá trị cao hơn, làm thay đổi tính chất của đất Với hàm lượng lớn, làm cho đất bị phèn, suy giảm nghiêm trọng chất lượng của đất, ảnh hưởng đến năng suất cây với hàm lượng lớn) Có nguồn gốc từ nguyên sinh(do phong hoá từ đá mẹ) thứ sinh từ nước biển tràn vào Do con người tưới nước giàu Cl- hoặc đổ thải các hợp chất chứa clo vào đất Clo thường tồn tại ở dạng muối với các kim loại kiềm và kiềm đất As thường tồn tại ở dạng hấp thụ, hợp chất với Al, Fe,Ca và các hợp chất hữu cơ. Trên 94% As trong đất tồn tại ở pha rắn còn lại chỉ khoảng 6% tổng As tồn tại trong dung dịch đất,là dạng dễ dàng di chuyển và ra khỏi đất.Khi tồn tại ở dạng linh động,As đặc biệt nguy hiểm cho sinh vật và con người.Sự biến đổi trong điều kiện ôxi hoá khử trong đất làm cho As di chuyển và phân bố lại trong đất và thông qua đó làm thay đổi hàm lượng As đi vào sinh vật và con đất là phong hoá các đá mẹ Công nghiệp luyện kim, lọc dầu, khai khoáng, mạ kim loại, ống dẫn đất Cd có thể tồn tại ở 2 dạng: rất linh động và kém linh động.Dạng linh động chủ yếu của Cd là các ion và phức hữu cơ của Cd.Dạng kém linh động của Cd tồn tại dưới dạng và một số hợp chất hữu cơ gốc ôxalate với Cd. Hàm lượng Cd trong đất không bị ô nhiễm dao động trong khoảng < 0,1- 10 ppm Rối loạn vai trò hóa sinh của enzym, gây cao huyết áp, gây hỏng thận , phá hủy các mô và hồng cầu, có tính độc đối với thủy sinh vật. Từ phong hóa đá mẹ Chất thải công nghiệp, sử dụng bùn và nước cống,xe cộ sử dụng xăng dầu Chủ yếu là các muối dễ tan (clorua, bromua) hợp chất hữu cơ hất thụ trên keo sét, humic và các hợp chất khó tan lượng của Pb trong đất không bị ô nhiễm thường dưới 1ppm  nhưng có khi đến 20 ppm ở những nơi ô nhiễm nặng như ( gần đường cao tốc, nhà máy, các khu công động đến tủy xương hệ thần kinh, giảm trí thông minh, máu, thận, các hệ enzym liên quan đến sự tạo máu và liên kết với sắt trong máu Trong môi trường đất các hợp chất vô cơ,hữu cơ có thể chuyển hóa về nguyên tố Hg, HgS,phức chứa Hg. Ngoài ra, trong đất Hg dễ bị chelat hóa bởi hợp chất hữu cơ, bởi humic chứa S với Hg ở dạng hòa tan.Các dạng clorua và hidroxit của Hg rất bền trong dung dịch Se trong đất liên quan tới hoạt động núi lửa , phong hóa các đá Xả thải công nghiệp, sử dụng thuốc BVTV Se tồn tại trong đất chủ yếu ở các dạng chủ yếu sau đây: Selenite ( SeO32- ) selenate hợp chất hữu cơ hấp thụ trên bề mặt khoáng vật sét và keo vô cơ, hữu cơ. Hàm lượng Se trong đất không bị ô nhiễm khoảng 0,1-2 ppm, Se tập trung khá cao trong đất giàu khoáng vật sét và vật liệu hữu cơ. Do hoạt động của VSV trong đất mà Se dễ dàng bị bimethyl hóa tạo ra các phức hữu cơ kém bền ( đất Se dễ dàng thâm nhập vào thực vật , từ thực vật đi vào cơ thể con còn có thể bị ô nhiễm bởi  Cr, Ni, Mo, Cu, Zn và các nguyên tố kim loại có nguồn gốc từ phong hóa các đá và khoáng vật chứa các nguyên tố này đổ thải công nghiệp trực tiếp vào đất từ bụi khí quyển. Ví dụ: Đất bị ô nhiễm bởi các kim loại như  As, Se, Hg, Pb, Ni, Co, Cr  được phát hiện ở nhiều nơi chung quanh các nhà máy, khu vực khai thác và chế biến khoáng sản, các đường giao chất ô nhiễm hữu cơ trong đất chủ yếu là thuốc BVTV (diệt côn trùng, diệt cỏ), các phtalate, các chất polime không chứa đất của nhiều vùng ở Việt Nam gặp chất độc màu da cam (Dioxine) đặc biệt nguy hiểm đối với con người và động vật. Các chất độc hữu cơ trong đất là sản phẩm do con người tạo ra từ sản xuất công nghiệp và nông các quá trình sinh địa hóa nên một số chất ô nhiễm ở trong đất bị biến đổi và suy giảm tính độc.Ngược lại một số chất khác biến đổi thành các chất độc bị ô nhiễm có độc tố cao hơn. Hiện nay lắng đọng acid (acid đang là nột trong những vấn đề gây ô nhiễm môi trường đất không chỉ vì mức độ ảnh hưởng mạnh mẽ tới cuộc sống của con người và các hệ sinh thái (HST) mà còn vì quy mô tác động của chúng đã vượt ra khỏi phạm vi kiểm soát của mỗi quốc gia. + Nguồn điểm : Đốt than ở các nhà máy nhiệt điện , các nhà máy đúc quặng và công nghiệp chưng cất, các nồi hơi công nghiệp .Nguồn điểm phát thải hầu hết lượng SO2 và chiếm khoảng 35% NOx do con người tạo ra.Các nhà máy có ống khói cao trên 300m có thể đưa vào khí quyển những lượng khí thải lớn và trong những điều kiện thuận lợi về gió, lượng khí thải này được đưa đi xa hàng nghìn cây số trước khi gieo tai họa lắng đọng acid cho các quốc gia lân phát thải khoảng 30 – 50 % lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOCs) tạo ra ozon mặt lại, ở đất nghèo bazơ; khả năng đệm thấp sẽ làm tăng đột ngột hàm lượng Al3+ linh động có tác động xấu đến quần xã sinh vật đất và phát triển của cây trồng, thậm chí cây trồng bị thời gian đất và nước mặt dần dần bị acid hóa làm cho hàm lượng nhôm linh động (Al3+) và Mn2+ tăng nhanh gây độc hại cho các loại cây trồng và nhiều sinh vật nước ngọt. Ở Cúc Phương  năm 1990, pH trung bình của nước mưa ở các tháng trong năm là pH của đất giảm làm tiêu diệt các vi sinh vật sống trong đất, thay đổi tính chất của đất làm đất chết. Khi nhiệt độ trong đất tăng sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn đến khu hệ vi sinh vật đất phân giải chất hữu cơ và trong nhiều trường hợp làm đất chai cứng, mất chất dinh độ trong đất tăng, dẫn đến giảm hàm lượng oxy làm mất cân bằng oxy và quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ tiến triển theo kiểu kị khí, tạo ra nhiều sản phẩm trung gian có mùi khó chịu và độc cho cây trồng, động vật thủy sinh như: NH3 ,H2S, CH4 và gây ô nhiễm nhiệt là do sự thải bỏ nước làm mát các thiết bị máy móc của nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện nguyên tử và các nhà máy cơ ô nhiễm đất bởi các phóng xạ là những phế thải của các trung tâm khai thác các chất phóng xạ, trung tâm nghiên cứu nguyên tử, các nhà máy điện nguyên tử, các bệnh viện dùng chất phóng xạ và những vụ thử vũ khí hạt nhân. Tỷ lệ giữa lượng đồng vị phóng xạ có trong cơ thể động vật với lượng đồng vị phóng xạ có trong môi trường được gọi là” hệ số cô đặc” sau các vụ nổ bom nguyên tử trong đất thường tồn lưu ba chất phóng xạ Sn90; tác nhân sinh học có thể làm ô nhiễm đất, gây ra bệnh ở người và động vật như trực khuẩn lị, thương hàn hoặc amip, ký sinh trùng( giun, sán…). Sự ô nhiễm này xuất hiện là do những phương pháp đổ bỏ chất thải mất vệ sinh hoặc sử dụng phân bắc tươi, bùn ao tươi, bùn kênh dẫn chất thải sinh hoạt bón trực tiếp vào đất. Chỉ tính riêng trong nội thành Hà Nội, hằng năm lượng phân bắc thải ra khoảng 550.000 tấn, trong khi đó công ty vệ sinh môi trường đô thị chỉ đảm bảo thu được 1/3, số còn lại được nông dân chuyên chở về bón cho cây trồng gây mất vệ sinh và gây ô nhiễm đất. Cách bón phân tươi này gây ô nhiễm sinh học nghiêm trọng cho môi trường đất, không khí và Người Việt Nam có truyền thống sạch sẽ , lành mạnh, tuy vậy do thiếu kiến thức khoa học nên vẫn còn tồn tại một số thói quen, tập quán mất vệ sinh, gây ảnh hưởng đền môi trường như: + Phóng uế bừa phân tươi bón ruộng và rau + Vứt rác động vật chết ra đường , ao , hồ ,sông, chuồng trâu ,bò dưới nhà sàn, +Thả rông lợn, trâu, bò. - Khi trên bề mặt đất có một lớp dầu mỏng (dù chỉ 0,2 -0,5 mm) thì cũng cản trở quá trình trao đổi chất của các sinh vật trong đất (vi sinh vật, động thực vật), đất thiếu oxy do không tiếp xúc với không khí, các sinh vật trong đất sẽ chết dần. - Khi dầu thấm dần vào trong lòng đất, sẽ chiếm chỗ các mao quản và phi mao quản, đẩy nước và không khí ra ngoài làm môi trường đất bị giảm thiểu không khí và nước, ảnh hưởng tới tính chất của đất và hệ sinh thái trong đất. - Khi dầu xâm nhập vào đất, chúng làm thay đổi cấu trúc, đặc tính lí học và hóa học của đất, chúng biến các hạt keo thành “trơ” , không có khả năng hấp phụ và trao đổi nữa, làm cho vai trò đệm, tính oxy hóa, tính dẫn điện, dẫn nhiệt của môi trường đất thay đổi mạnh, giảm tính dẻo và tính dính. - Dầu là những hợp chất cao phân tử có thể tiêu diệt trực tiếp hầu hết các thực vật, động vật, sinh vật trong đất( trừ một số sinh vật có thể phân giải được dầu như nấm đơn bào thống kê của Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT), từ năm 1987 đến nay đã xảy ra hơn 90 vụ tràn dầu tại các vùng sông và biển ven bờ của nước ta, gây thiệt hại to lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi triệu tấn bom đạn đã thải xuống khắp các miền đất nước, không chỉ gây thiệt hại về người mà còn gây ra sự thay đổi về dòng chảy, tàn phá lớp phủ thực vật, đảo lộn lớp đất canh tác, để lại nhiều hố bom ở các vùng sản xuất nông nghiệp trù phú . - Các chất thải khó phân hủy làm môi trường mất vệ sinh và mất mỹ quan, tạo cơ hội cho các loài nấm và vi khuẩn, côn trùng độc hại phát triển gây độc hại cho con người. - Các loại rác hữu cơ dễ phân hủy gây hôi thối, làm phát triển vi khuẩn dẫn đến ô nhiễm môi trường, không khí, nước và đất. - Ngoài ra, nơi tập trung rác hữu cơ là nơi thu hút, phát sinh chuột, ruồi, muỗi, gián và các loại vi trùng gây nhiều chứng bệnh truyền nhiễm cho con người, vật nuôi và lây lan gây thiệt hại lớn. - Hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các khu công nghiệp và các làng nghề tái chế kim loại như: Cr, Cu, Zn, Pb… Một diện tích đáng kể đất nông nghiệp và làng nghề đã bị ô nhiễm nặng. Sự tích lũy các chất tạp ( kim loại…) có trong phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất. Số lượng lớn nông dược tích lũy trong đất, đặc biệt là các thuốc có chứa các nguyên tố như Pb, Asen, Hg,…có độc tính lớn, thời gian lưu lại trong đát dài, có loại nông dược thời gian lưu trong đất tới 10 đến 30 năm, những loại nông dược này có thể được cây trồng hấp thụ, tích trong quả và lá đi vào cơ thể người và đọng vật qua thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe. Đất úng thường chua có chứa nhiều chất độc, như H2S , CH4, Fe 2+… biện pháp là thoát nước sau đó phơi ải cho bớt độc và tạo điều kiện cho mùn bị khoáng hóa, bon vôi để khử chua và cân đối ô nhiễm đất : xử lý và quản lý tốt việc sả thải chất thải rắn , áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp sinh học xử lý nước thải, Ô nhiễm đất hiện nay là một vấn đề đang cần được quan tâm sâu sắc bởi những tác hại  to lớn gây ra cho con người và những sinh vật khác .Ô nhiễm đất cùng với những ô nhiễm khác như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước… đang hủy hoại môi trường sống của chúng ta. Các loại ô nhiễm này có quan hệ mật thiết với nhau, ô nhiễm không khí tạo mưa axit rơi xuống làm ô nhiễm đất , ô nhiễm nước thải vào đất gây ô nhiễm và ngược lại ô nhiễm đất làm ô nhiễm mặt nước ngầm và ảnh hưởng đến môi trường không khí xung nhân chủ yếu của ô nhiễm đất đến từ các chất thải công nghiệp do các hoạt động sản xuất, khai thác khoáng sản, các chất khí độc hại được thải ra ngoài môi trường, các chất thải hữu cơ. Thứ hai là các loại chất thải sinh hoạt của con người hàng ngày mà trong đó đặc biệt nguy hại là chất thải y tế và các loại chất thải có tính độc hại khác mà hiện nay vẫn chưa được xử lí triệt để trước khi thải ra ba ô nhiễm do chất thải nông nghiệp, chúng tích lũy dần trong đất và các loại cây trộng và chất độc tăng lên rất lớn khi đi vào cơ thể con người ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Do đó cần phải có biện pháp ngăn chặn ô nhiễm đất trong đó giải pháp quan trọng nhất là nâng cao ý thức của con người trong việc thải bỏ chất thải,ý thức xử dụng thốc trừ sâu, phân bón hóa học của những người nông dân. Đồng thới cần khuyến khích sử dụng phân bón sinh học, sử dụng các giống cây trồng không có sâu bệnh để hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, tuyên truyền cho người dân thực hiện luật môi trường để bảo vệ môi trường đất, bảo vệ các sinh vật sinh sống trên Trái Đất để cuộc sống của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn.