Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật: Xây dựng Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động

Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật: Xây dựng Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động

Lượt xem: 67,563Lượt tải: 2Số trang: 107

Mô tả tài liệu

Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật: Xây dựng Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động

Tóm tắt nội dung

GIÁ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động" được thực động ngoài nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bạn đồng nghiệp Sơ đồ PL1: Hệ thống quản lý lao động ở ngoài nước của Hàn Bảng 2.1: Số lao động Việt Nam đi làm việc ở các nước XHCN từ 1980 - 1990 Bảng 2.2: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 2.3: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 2.4: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 2001 - hợp số liệu lao động về nước và số lao động bỏ trốn của các CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC Phân loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao Phân loại doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước XKLĐ và tiêu chí phân loại, đánh giá doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ hiện lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trạng đánh giá và phân loại doanh nghiệp hoạt động cung ứng dịch Đánh giá phương pháp tính điểm và xếp hạng doanh nghiệp hoạt động ĐÁNH GIÁ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG TRONG Xây dựng bộ tiêu chí phân loại các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá doanh nghiệp Việt Nam hoạt động doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực người lao động đi làm việc ở nước ngoài (hay còn là xuất khẩu lao động) là trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài những năm qua đã phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và gia đình, tăng nguồn cạnh đó, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng là một bộ lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, hoạt động nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp dịch vụ) tức là doanh nghiệp được Bộ Lao động - Thương binh nhiều nhất để đi làm việc ở nước ngoài (chiếm 80% tổng số lao động được đưa đi). 1998 của Bộ Chính trị (Khóa XIII về Xuất khẩu lao động và chuyên gia) nhiệm vụ người lao động đi làm việc ở nước tăng số lượng lao động Việt nam ra nước ngoài làm việc đang nảy sinh ngày Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước số doanh nghiệp không chú trọng công tác quản lý lao động làm việc ở nước ngoài, chậm phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh đối với người lao động, nghiệp không quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước pháp, đánh giá được hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi động Việt Nam (VAMAS) đã đưa ra bảng xếp hạng các doanh nghiệp dịch vụ xuất giá trị khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động của đối với loại hình doanh nghiệp dịch vụ này nhằm đảm bảo an toàn việc làm và phát giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là rất cần loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu người lao động đi làm việc ở nước ngoài như: quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai đoạn quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện cao hiệu quả quản lý XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam, đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý dịch vụ XKLĐ của Bộ Lao động- dịch chuyển quốc tế về sức lao động, kinh nghiệm của các nước: động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ XKLĐ ở Việt tiêu chí như: số lượng lao động do các doanh tổ chức đưa đi làm việc ở nước ngoài; tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở trường XKLĐ và bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ XKLĐ, từ đó đề xuất xây dựng bộ tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong - Các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm - Các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động. - Tổ chức điều tra xã hội học và khảo sát hoạt động của 60 doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thuộc khu vực phía Bắc nghiệp (trong nước và ngoài nước), các địa phương, người lao động đã đi làm việc doanh nghiệp tiếp nhận hoặc xuất khẩu lao động thông qua cơ quan và cán bộ quản XKLĐ; tiêu chí phân loại và đánh giá doanh nghiệp XKLĐ ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ. - Hệ thống hóa kinh nghiệm của một số nước trong hoạt động XKLĐ và kinh nghiệm phân loại, đánh giá các doanh nghiệp tiếp nhận hoặc xuất khẩu lao động của Nam đi làm việc ở nước ngoài; quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp dịch vụ và hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ. Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cho phù hợp Chương II: Thực trạng hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và hệ thống phân loại doanh nghiệp xuất khẩu lao động hiện Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động. CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT HOẠT ĐỘNG TRONG Phân loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động Người lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao a) Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là thuật ngữ được sử việc đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải 2006 thì người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động. lao động đi làm việc ở nước ngoài theo một trong các hình thức sau đây: - Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; - Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp - Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình trực tiếp sử dụng lao động ở nước ngoài mà không phải thông qua doanh nghiệp bản với bên nước ngoài về việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài. có người bảo lãnh và người bảo lãnh phải cam kết với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người lao động. b) Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm: Ký kết các hợp đồng liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tuyển chọn lao động; người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài; các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài. c) Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Theo Điều 8 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và "Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có vốn pháp định theo quy định của vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước động đi làm việc ở nước ngoài. Từ khái niệm nêu trên cho thấy doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có các điều kiện sau đây: dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. d) Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động doanh nghiệp bỏ ra để tổ chức và quản lý hoạt động đưa người lao động Việt Nam Kết quả là toàn bộ những gì doanh nghiệp thu được do hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mang lại nhưng chưa trừ chi phí đầu tư, ngoài; bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài, đưa người lao động đi làm việc ở thị trường có thu nhập cao; khuyến khích đưa người lao động đi làm việc tại công trình, dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh do doanh Phân loại doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm soát đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhà nước còn Ở Việt Nam, các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước được hình thành chủ Việc phân loại doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh và kiểm soát được các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nhằm thực hiện các Từ thực tiễn tổ chức cung ứng dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước Việc phân loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ ở Việt Nam hiện được 1 điểm, tối đa không quá 5 điểm), số lao động thực tế của doanh lao động làm việc ở nước ngoài, số lượt lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài hàng năm và số lao động thực tế đang quản lý ở nước ngoài hàng năm Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài khuôn khổ hoạt động cho doanh nghiệp, các giá trị và tạo động lực cho nhân viên, Với tầm quan trọng như vậy, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở kiện đối với doanh nghiệp để được xem xét cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là “người lãnh đạo điều hành hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải có trình độ từ đại học trở lên, có ít nhất 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp dịch vụ quan hệ với các đối tác quốc tế, làm việc với người sử dụng lao động và các cơ quan Tính chất đặc thù của ngành dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước đã dẫn tới sự không hiệu quả, thiếu chuyên nghiệp của hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tại rất nhiều doanh nghiệp dịch vụ và đây là một động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam còn chậm, chưa bắt kịp xu thế vận tố quyết định hiệu quả hoạt động tổ chức đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy bồi dưỡng kiến thức cần thiết yêu cầu cán lao động ngoài nước phải có trình độ cao đẳng trở lên trong các ngành có liên quan thức và luật pháp về liên quan đến XKLĐ của Việt Nam và các nước đối tác, có động và giữa người lao động với chủ sử dụng lao động ở nước động và các cơ quan liên quan tại nước ngoài tạo điều kiện cho các cán bộ tham hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ do thiếu hụt cán bộ có kinh được cấp phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Luật có bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy + Trung tâm XKLĐ hoặc các Phòng nghiệp vụ xuất khẩu lao động; + Các chi nhánh được giao nhiệm vụ hoạt động đưa người lao động đi làm Trong Quyết định cũng nêu rõ Bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp dịch vụ phải trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Giấy phép hoạt động Tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh đạo điều hành hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp dịch vụ tăng cường quản lý hoạt động của doanh nghiệp mình, gắn trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếp thực hiện động xuất khẩu lao động cùa các chi nhánh trong doanh nghiệp, tránh tình trạng của trung tâm xuất khẩu lao động với các chi nhánh thực hiện nhiệm vụ XKLĐ tách Bên cạnh đó điểm hạn chế của các doanh nghiệp dịch vụ còn nằm ở công tác giám sát hoạt động của các đơn vị trong doanh nghiệp, giúp Ban lãnh đạo trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã quy định điều kiện về vốn đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước có điều kiện khác, các doanh nghiệp muốn tham gia hoạt động xuất khẩu lao Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và các văn bản hướng dẫn, doanh nghiệp phải thực hiện ký quỹ cho hoạt lao động đi làm việc ở nước ngoài. Để giải quyết công tác tuyển nguồn lao động, các doanh nghiệp người khác sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp (như việc người lao động do doanh động nào có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài là công ty tuyển chọn, không cần biết của doanh nghiệp sẽ làm doanh nghiệp mất đi cơ hội được đối tác và người lao đ) Chất lượng nguồn lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài đã làm cho người sử dụng lao động và các cơ quan có thẩm quyền của Đầu vào của sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là những người trong độ tuổi lao động, đang tham phần lớn sau khi tuyển chọn được người lao động, doanh nghiệp làm các thủ tục kinh tế quốc tế đặt các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ của Việt Nam vào thời cơ trọng trong việc mở rộng thị trường lao động ngoài nước, mở cửa sân chơi cho các doanh nghiệp dịch vụ của Việt Nam trong việc tiếp cận, ký kết hợp đồng với đối tác định, thỏa thuận hợp tác lao động giữa Việt Nam và các nước, mang lại cơ hội về hành lang pháp lý quốc tế vững chắc cho các doanh nghiệp dịch vụ trong hoạt động tổ chức đưa lao động đến làm việc hợp pháp tại nước đó. đã ký kết 12 hiệp định, thỏa thuận và bản ghi nhớ về hợp tác lao động với các nước thời tạo tiền đề cho các doanh nghiệp dịch vụ của Việt Nam đưa người lao động đi nghiệp của các quốc gia cung ứng lao động khác nhau. còn lạc hậu, các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam thua kém, bị động hơn so với doanh nghiệp một số nước chuyên xuất khẩu lao động trong việc giành thị trường và hợp đồng. đến là một số thị trường lao động ngoài nước gần như đóng cửa với lao động Việt Nam, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp dịch vụ không tìm được nguồn ra cho lao thức về việc tạm ngừng sử dụng lao động nước ngoài, trong đó có lao động Việt tình trạng lao động thiếu việc làm, mất việc làm của người lao động Việt Nam ở thanh lý hợp đồng với lao động về nước, dẫn đến hậu quả là giảm lợi nhuận của cảnh khủng hoảng kinh tế khiến người lao động trong nước e ngại về việc làm ở lượng, vì thế sự cạnh tranh giữa các công ty của các nước cung ứng lao động khác doanh nghiệp có thời gian để tập trung đầu tư mạnh vào công tác đào tạo lao động nâng cao chất lượng lao động, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và giảm thiểu rủi ro khi đưa người lao động đi làm việc ở nước tiếp nhận lao động có thể là cơ hội lớn hoặc rào cản cho doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam trong việc ký kết hợp đồng và đưa lao động đi làm việc ở nước tiễn cho thấy, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ của Việt nước đối tác nên việc thương thảo, ký kết các hợp đồng lao động thường bị ép và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ XKLĐ của Việt Nam. Kết quả là không làm lợi cho người lao động Việt Nam và cho đất nước nói chung. d) Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các doanh nghiệp Hiện nay, các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam đang có được sự ủng hộ và hỗ Sự ra đời của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là cơ sở pháp lý cao nhất mà các doanh nghiệp hoạt động trong - Hệ thống các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam được pháp luật bảo vệ và hỗ doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam trong việc mở thị trường, tìm kiếm đối tác và quản lý Khi các doanh nghiệp ký kết được hợp đồng cung ứng lao động với đối tác và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như của doanh nghiệp Việt Nam. đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài làm tăng nhanh số lượng các doanh nghiệp luật pháp hiện hành quy định các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động phải có doanh nghiệp có giấy phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã lên sàn như đối với hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước tổn thất cho doanh nghiệp và bản thân người lao động. lao động có xu hướng gia tăng mạnh từ khi Luật Người lao động đi làm việc ở nước nhưng về lâu dài chính doanh nghiệp đã tự huỷ hoại mình và thị trường lao động vì quản lý lao động tại nước ngoài trong suốt quá trình lao động làm việc tại nước đó. hoạt động XKLĐ và tiêu chí phân loại, đánh giá doanh nghiệp hoạt động trong chính trị và nhu cầu của thị trường lao động ngoài nước để khai thác và chiếm lĩnh. Các nước đã đưa quan điểm xúc tiến việc làm ngoài nước và hoạt động XKLĐ vào Bộ Luật Lao động, để từ đó đưa ra các văn bản dưới luật thực hiện quản lý nhà nước từ lý người lao động làm việc ở nước ngoài cho đến khi hết hạn hợp đồng trở về nước, thực nhưng cũng rất thông thoáng tạo chủ động cho người lao động và các doanh nghiệp hoạt động XKLĐ cho các công ty và cá nhân tham gia thị trường lao động ngoài phí đi lao động ở nước ngoài thấp, thời gian thẩm định và cấp giấy phép ngắn với Người lao động đi làm việc ở nước ngoài được cấp hộ chiếu có xác nhận của Bộ Lao động (Cục Quản lý việc làm ngoài nước), trong thời gian làm việc chịu sự quản lý của các công ty cung ứng và cơ quan đại diện lao động ở nước nhập năm Chính phủ tổ chức đánh giá hoạt động của các công ty qua việc thực hiện các chính sách XKLĐ và là cơ sở cho việc cấp phép hoặc đình chỉ hoạt động của Phần lớn các nước thực hiện hỗ trợ các công ty cung ứng lao động và người với lao động ở nước ngoài, miễn thuế chuyển tiền về nước, áp dụng các biện pháp hạn hợp lý về số tiền đặt cọc của người lao động xuất khẩu (ở Philippin chỉ khoảng lao động kể từ khi chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài (qua các cấp chính quyền, các tổ chức, đoàn thể, hệ thống doanh nghiệp), khi làm việc ở nước ngoài (cơ quan đại và tạo uy tín trong hoạt động tiếp nhận lao động nước ngoài. và thực tiễn hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong những Một số lượng lao động không nhỏ được đưa sang làm việc tại các nước Irắc và định: "Mở rộng việc đưa người lao động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích công tác xuất khẩu lao động và cho phép thành lập các tổ chức kinh tế làm dịch vụ việc làm ngoài nước, việc đưa lao động ra nước ngoài vẫn chủ yếu thực hiện theo cơ b) Số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài Theo số liệu của Bộ LĐTBXH, tổng số lao động và chuyên gia được đưa đi của Bộ LĐTBXH, lao động Việt Nam làm việc tại các nước Bungari, Tiệp khắc và quốc dân của các nước XHCN là 45% làm trong các ngành công nghiệp nhẹ; ngoài các nước XHCN, lao động Việt Nam chủ yếu làm trong các ngành xây dựng và thủy Bảng 2.1: Số lao động Việt Nam đi làm việc ở các nước XHCN từ 1980 - 1990 đến nhiều xí nghiệp bị phá sản, thiếu việc làm, tại các nước đã và đang sử dụng lao Quy chế về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, xác năng quản lý nhà nước về hoạt động XKLĐ, các doanh nghiệp có đủ điều kiện hoạt đối tác nước ngoài, tuyển chọn, đưa lao động đi; tổ chức quản lý, bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong và sau khi hết hạn hợp đồng lao động theo quy định của Luật Lao động về việc đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Bảng 2.2: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 1991-1995 Lao động và chuyên gia là người Việt Nam thời kỳ này đã có mặt ở nhiều thị Bảng 2.3: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 1996-2000 Bảng 2.4: Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 2001 - 6/2013 Hàng năm, người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài gửi về nước từ 1,8 người lao động đi làm việc ở nước ngoài được thuận thị trường lao động ngoài nước, một số doanh nghiệp tập trung khai thác những lao động đã tăng cường cả phía Nhà nước và doanh Việt Nam làm việc ở ngoài nước, hiện đã có 09 Ban Quản lý lao động tại 09 XKLĐ của các doanh nghiệp dịch vụ chưa đạt được hiệu quả cao và việc thực thi trong quá trình đưa người lao động đi làm việc ở nước trạng hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ hiện nay Để có số liệu và tư liệu phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và các văn bản hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài của các doanh nghiệp XKLĐ, hiện nay có bốn loại hình doanh nghiệp chính hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ là: Doanh nghiệp có 100% vốn của nhà nước (chiếm tỷ lệ Trước đây hầu hết các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước, hình doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có 100% vốn chức theo dõi và quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Cục QLLĐNN cho thấy doanh nghiệp bố trí bộ phận theo dõi và quản lý lao động trách việc theo dõi và quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài, chiếm 76,67% trong tổng số 170 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động XKLĐ (tính đến tháng tạo và phổ biến kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước chức, quản lý hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước doanh nghiệp có phòng nghiệp vụ xuất khẩu lao động, chiếm 71,17%. - Với những doanh nghiệp hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ở quy mô lớn hơn, doanh nghiệp có Trung tâm xuất khẩu lao động với các - Để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài các doanh nghiệp thành lập hoặc cho phép các chi nhánh tham gia tuyển chọn, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước Điều 16 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, mỗi doanh Doanh nghiệp vừa thành lập bộ phận theo dõi, quản lý lao động ngoài Phòng nghiệp vụ xuất khẩu lao động; đồng thời doanh nghiệp cũng có Trung tâm xuất khẩu lao động cũng là một yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh hoạt động xuất khẩu lao động, trong 170 doanh nghiệp có 34 doanh nghiệp đầu tư Trong số 170 doanh nghiệp, 167 doanh nghiệp có cơ sở đào tạo cho người lao động trước khi đi, 01 doanh nghiệp liên kết với đơn vị khác để đào tạo cho lao động người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài (chiếm nay, Việt Nam có gần 500.000 lao động và chuyên gia làm việc trên 40 quan trọng trong thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tuy nhiên thời gian trường chủ yếu dựa vào Nhà nước qua hoạt động ngoại giao, các doanh nghiệp dịch Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước, trong 170 doanh nhận lao động nước ngoài trình độ thấp hoặc không có tay nghề vào làm việc. đến nay chỉ có một số doanh nghiệp tham gia đưa lao động thuyền viên tàu cá xa bờ Hàn Quốc và lao động kỹ thuật cao (25/170 doanh nghiệp, chiếm 15%) dựa trên khả năng và quy mô hoạt động của mỗi doanh thị trường, giúp doanh nghiệp đa dạng hóa các đơn hàng tiếp nhận lao động, từ đó mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu công việc đối với người lao động trong nước. Để khai thác hợp đồng tại các thị trường lao động ở nước ngoài các doanh đồng và điều kiện làm việc của người lao xuất cảnh, quản lý trong thời gian người lao động làm việc ở nước ngoài, giải quyết các vấn đề phát sinh, đến khi người lao động kết thúc hợp đồng về nước. số liệu theo dõi của Cục Quản lý lao động ngoài nước, khoảng 90% doanh nghiệp tác, dễ dàng hơn trong quản lý người lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh liên Theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài động trực tiếp đăng ký dự tuyển tại trụ sở doanh nghiệp và người lao động đăng ký a) Người lao động trực tiếp đăng ký dự tuyển tại trụ sở doanh nghiệp - Người lao động có thể yêu cầu doanh nghiệp hoặc chi nhánh doanh nghiệp - Người lao động có thể đăng ký dự tuyển đi làm việc ở nước ngoài tại các ngoại ngữ, các khoản chi phí, các quyền và nghĩa vụ của người lao động của từng lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với điều kiện từng địa phương, đồng - Giúp các doanh nghiệp tuyển chọn được những người lao động có nhân thân tốt, phù hợp với yêu cầu của công việc ở nước ngoài; phối hợp với doanh nghiệp trong việc đào tạo lao động, quản lý lao động và xử lý các vấn đề phát sinh. Số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là số lượng lao động đưa hoạt động của doanh nghiệp trong năm và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu phí Nam (VAMAS) đã căn cứ vào số lượng người lao động do các doanh nghiệp đưa đi; đồng thời các doanh nghiệp không vi phạm hoạt động XKLĐ dựa trên số liệu lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài và các doanh nghiệp trên không bị cơ Các doanh nghiệp đưa bình quân trên 500 và dưới 1.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài hàng năm chiếm 71%, trong đó các doanh nghiệp đưa bình quân từ 100 doanh nghiệp có số lượng lao động đưa đi ít là do kinh tế thế giới đang trong giai động Việt Nam sang làm việc hàng năm, dẫn đến số lượng lao động tiếp nhận của thị các doanh nghiệp này sụt giảm, hoặc mỗi năm chỉ đưa một vài lao động đi làm việc ở động khi có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài, tại Điều 62 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định “Người lao động làm việc và nơi ở, khả năng hoà nhập với công việc và cuộc sống của số lao động đã doanh nghiệp đã chủ động phối hợp với các cơ sở dạy nghề từ Trung ương đến địa Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao có mức bình của người lao động đi làm việc tại thị trường Nhật Bản từ 900 Đôla Mỹ đến 1.500 Đôla Mỹ, trong khi mức lương trung bình của người lao động đi làm việc tại Có thể thấy việc doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo tay nghề của người lao doanh nghiệp đầu tư tốt cho việc đào tạo người lao động trước khi đi sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn những doanh nghiệp đưa lao động không qua đào tạo đi Để đánh giá hiệu quả hoạt động Doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, ta có nhóm chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp sử dụng phục vụ hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc Doanh thu phí dịch vụ là khoản phí mà Doanh nghiệp thu của người lao động để thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước nghiệp cho biết họ thu phí dịch vụ một lần trước khi người lao động xuất cảnh; chỉ có 06 Doanh nghiệp thu phí dịch vụ sau khi người lao động xuất cảnh gian người lao động làm việc ở nước ngoài; 22 Doanh nghiệp còn lại, thu một phần phí dịch vụ trước khi người lao động xuất cảnh, phí dịch vụ còn lại Doanh nghiệp trừ dần vào tiền lương của người lao động ở nước hoạt động từ năm 2009 nên số lượng lao động đưa đi ít, doanh thu phí dịch vụ lao động đi làm việc tại các thị trường Nhật Bản, Đài Loan và Lybia… phí dịch vụ của doanh nghiệp quá thấp do doanh nghiệp đưa được ít lao động đi làm việc ở nước ngoài, thì một số doanh nghiệp có chi phí cho bộ máy quản lý, chi phí giải quyết các vấn đề phát sinh của người lao động, các chi phí khác cao nên doanh không nhỏ lao động đi làm việc ở nước ngoài, nhưng chỉ số tỷ suất lợi nhuận và 2010, số lượng lao động đưa đi của công ty Vitourco là 1.287 lao động, doanh thu công ty đưa lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài khoảng từ 880 người đến hơn vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Công ty trong ba năm từ 2009 động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng là một chỉ tiêu cần phải xem xét để tổng hợp đánh giá chung về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động xuất khẩu lao động phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này về tuyển chọn lao động, đào tạo và bồi lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài, thanh lý hợp đồng khi người lao hoạt động này, còn khẳng định sự hiệu quả trong hoạt động của doanh các loại chi phí cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chi phí để giải quyết các vấn đề lao động phát sinh, đưa lao động về nước hay biến động và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chi phí giải quyết phát sinh của người lao động chiếm khoảng 50% Qua số liệu khảo sát, trong số lao động về nước hàng năm của 60 doanh nghiệp, khoảng 50% lao động hết hạn hợp đồng về nước, còn lại người lao động về có một số lao động bỏ ra ngoài hợp đồng làm việc bất hợp pháp tại nước sở việc ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc người lao động phải về nước trước thời hạn hoặc bỏ ra ngoài hợp đồng cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác và chủ sử dụng lao động nước Ví dụ: trong năm 2011, trong số 220 lao động về nước của Công ty Vitech phải chi hỗ trợ cho người lao động sau khi về nước, doanh thu phí dịch vụ của các Tổng hợp số liệu lao động về nước và số lao động bỏ trốn của các Ta cũng có thể đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua chỉ số về tỷ suất lợi nhuận, chỉ số hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, cụ thể có 46 liên quan đến các hoạt động trong lĩnh vực này (chiếm 76,66% Doanh nghiệp được hoạt động xuất khẩu lao động có thời hạn, cụ thể trong các năm như sau (xem bảng doanh nghiệp khảo sát đã từng được khen thưởng trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (chiếm 45% Doanh nghiệp được khảo sát), 33 Doanh của Cục Quản lý lao động ngoài nước và bằng khen của cơ quan chủ quản, đó là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; 01 Doanh nghiệp nhận bằng khen của Cục Quản lý lao động ngoài nước; các Doanh nghiệp còn lại được nhận giấy khen và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng góp tác động xã hội tích cực mà các Doanh nghiệp tạo được trong quá trình hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài (xem bảng quá trình đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ngoài các chỉ tiêu về số việc làm tạo ra, hiệu quả kinh doanh, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, việc đưa thêm chỉ tiêu định tính về tác động xã hội từ hoạt động của chiều trong đó tính đến lợi ích xã hội từ hoạt động của doanh trạng đánh giá và phân loại doanh nghiệp hoạt động cung ứng 3 Lao động làm việc ở nước ngoài cơ sở xem xét, đánh giá năng lực thực tế và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu lao động và số lao động của doanh nghiệp); hiệu quả sản xuất, kinh doanh (gồm các khoản nộp ngân sách nhà nước, lợi nhuận thực hiện, số người lao động làm việc ở nước ngoài, Số lượt lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài hàng năm, Số lao động thực tế đang quản lý ở nước ngoài hàng ứng dịch vụ XKLĐ của các doanh nghiệp và nhất là quyền lợi của người lao đến hoạt động XKLĐ của doanh (tiêu chí này mới chỉ thống kê được số người lao động làm việc ở nước ngoài, số lượt lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài hàng năm); hiện hành và là lỗ hổng để các doanh nghiệp lợi dụng để xử ép người lao động đi lao động đi làm việc ở nước ngoài; - Chưa quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài như duy trì liên lạc, nắm thông tin về người lao động ở nước ngoài; quyền, nghĩa vụ của người lao động trong việc ký kết hợp đồng động khi làm việc ở nước ngoài trong các hợp đồng phải phù hợp với vụ XKLĐ với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác; đồng thời là cơ sở để đánh giá đúng thực chất hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp và bảo vệ quyền và loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ" phù hợp với thực tiễn hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước NGHIỆP VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XKLĐ Xây dựng bộ tiêu chí phân loại các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động Xây dựng bộ tiêu chí phân loại và đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam hoạt chất lượng hoạt động, xây dựng uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp; để các doanh nghiệp chủ động thực hiện tốt hơn luật pháp quốc gia, các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ; bảo vệ quyền lợi, hợp pháp và chính đáng của người lao động và góp phần phát triển bền vững hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá doanh nghiệp Việt Nam hoạt động Bộ tiêu chí phân loại các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Bộ tiêu chí phân loại và đánh giá doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh quy định luật pháp liên quan đến hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là trong phòng và chống lao động cưỡng bức và buôn cả các loại chi phí và phí dịch vụ liên quan đến đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà doanh nghiệp thu từ người lao động. - Hỗ trợ người lao động khi họ gặp khó khăn hoặc rủi ro ở nước ngoài theo các điều khoản và quy định trong hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp và người lao động. - Thông tin tuyển lao động đi làm việc ở nước ngoài cần nêu rõ yêu cầu về biệt đối xử đối với mọi người lao động có nhu cầu làm việc ở nước ngoài theo quy độ khác, điều kiện ăn ở, sinh hoạt của người lao động ở nơi đến làm mà người lao động phải đương đầu trong làm việc và sinh hoạt ở nước ngoài. - Doanh nghiệp cam kết tuyển chọn lao động dựa trên các tiêu chuẩn khách quan và theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động nước ngoài, đảm bảo không phân - Tất cả các loại phí dịch vụ và chi phí mà doanh nghiệp thu từ người lao động đều - Doanh nghiệp không thu phí tuyển chọn đối với người lao động. - Doanh nghiệp thực hiện việc thu phí liên quan đến dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài như hộ chiếu, VISA, giấy phép lao động, chứng - Ít nhất 05 ngày trước khi người lao động xuất cảnh để đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp công bố đầy đủ và chi tiết bằng văn bản cho người lao động - Đảm bảo giữ bí mật các thông tin cá nhân của người lao động đi làm việc ở động trước khi đi làm việc ở nước ngoài theo đúng yêu cầu thực hiện hợp đồng với - Thực hiện đúng thông báo của doanh nghiệp với người lao động về thời gian - Thực hiện đầy đủ cam kết của doanh nghiệp với người lao động nếu thời - Doanh nghiệp không tổ chức đưa người lao động ra nước ngoài làm việc khi lao động đi làm việc ở nước doanh vào mục đích đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. - Doanh nghiệp hạn chế mức thấp nhất chi phí đi lại mà người lao động phải trả. (7) Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đang làm việc ở - Doanh nghiệp không được phép bố trí người lao động vào các công việc - Nội dung về quyền lợi và các điều kiện đảm bảo cho người lao động khi làm - Doanh nghiệp phối hợp với người sử dụng lao động và các cơ quan hữu quan ở nước ngoài và trong nước tạo điều kiện để người lao động sau khi hết hạn hoặc - Người lao động không phải trả các chi phí cho việc về nước nếu không phải - Doanh nghiệp hỗ trợ người lao động tiếp cận các thông tin về việc làm và tìm tại Điều 67 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. - Tranh chấp giữa người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ký giữa các bên và quy định - Tranh chấp giữa Tranh chấp giữa người lao động và doanh nghiệp và chủ sử dụng lao động nước ngoài được giải quyết trên cơ sở thỏa thuận đã ký giữa các bên và quy định pháp luật của nước tiếp nhận Tranh chấp giữa người lao động và doanh (12) Xây dựng quan hệ đồng nghiệp giữa các người lao động Việt Nam. loại doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cụ thể là tác động của Bộ tiêu chí (doanh nghiệp, người lao động và các cơ quan, tổ chức có đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, các đối tác hoạt động trong lĩnh phân loại doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực và dự thảo Bộ tiêu chí phân loại doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ truyền đến tất cả các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài để các doanh nghiệp thực hiện, các cơ quan lao động, chính Thông báo cho người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở ngoài và cho đối