Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Lượt xem: 27,499Lượt tải: 7Số trang: 174

Mô tả tài liệu

Lựa chọn đề tài nghiên cứu Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận án hướng tới những mục đích cơ bản sau: Làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phân tích tính đặc thù của diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các bộ phận văn học khác.

Tóm tắt nội dung

DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ MỘT HỆ THỐNG TU TỪ 111 Đề tài Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một sự lựa chọn có ý nghĩa thiết thực, góp phần làm sáng tỏ chân dung nữ giới trong một nền văn học cụ thể. Qua đó, cũng giúp nhận biết những nét đặc trưng của diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa so với các bộ phận văn học khác. Điều này càng mang tính chất khu biệt rõ rệt đối với nghiên cứu văn học, bởi các khoa học nói trên chỉ xem xét người phụ nữ ở góc độ con người sinh học, con người xã hội hay là một thực thể trừu tượng, chung chung… còn trong nghiên cứu văn học, phụ nữ được xem là một sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật - một hiện tượng thẩm mĩ. Theo quan sát của chúng tôi, tính đến thời điểm này, những bài viết và công trình nghiên cứu bàn về người phụ nữ trong khu vực văn học kể trên không ít song phần lớn đều tiếp cận giới nữ như một hình tượng khách thể và là sản phẩm của mô hình tư duy phản ánh luận. Luận án này lần đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu một cách tập trung về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự soi sáng của lí thuyết diễn ngôn. Hướng tiếp cận này không chỉ giúp tác giả luận án nhận diện người phụ nữ trong các sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đặc điểm gì, mà quan trọng hơn là giúp tìm ra chiếc chìa khóa để lí giải vì sao phụ nữ lại được miêu tả như thế. Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Luận án đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối tượng xem xét chủ yếu của luận án sẽ là cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của loại hình văn học này. Phạm vi khảo sát chủ yếu của luận án là các tác phẩm văn học thuộc phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thông lệ, khi phân tích bộ phận văn học này, các nhà nghiên cứu thường khoanh vùng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong khoảng thời gian từ 1945 đến 1975. Đây có thể xem là tiền đề, bước khởi đầu có ý nghĩa quan trọng, chuẩn bị cho sự ra đời chính thức của phương pháp sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sau năm 1975, mặc dù phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn là phương pháp sáng tác duy nhất đối với giới văn nghệ sĩ nhưng không ít nhà văn vẫn tiếp tục lựa chọn hướng đi này. Một điều đáng lưu ý là, nhằm làm sáng tỏ tính chất đặc thù của diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, chúng tôi cũng bao quát và khảo sát các sáng tác văn học Việt Nam những thời kì trước và sau đó (văn học dân gian, văn học trung đại, văn học 1930 - 1945, văn học sau 1975) cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Lựa chọn đề tài nghiên cứu Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận án hướng tới những mục đích cơ bản sau: - Làm sáng tỏ cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam; - Phân tích tính đặc thù của diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các bộ phận văn học khác; - Chỉ ra những đóng góp và cả những giới hạn của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa về các phương diện nói trên. Nó cũng chủ trương giải thích sự phát triển của văn học, sự đấu tranh giữa các trào lưu, sự thay thế hiện tượng văn học này bằng một hiện tượng khác, sự tương tác, mâu thuẫn, hoặc sự kế thừa có đổi mới của từng hiện tượng, từng giai đoạn văn học từ những cội nguồn lịch sử xã hội. Việc so sánh, đối chiếu giữa văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các bộ phận văn học khác (bao gồm cả văn học trong và ngoài nước) đã giúp chúng tôi chỉ ra được một số điểm tương đồng và đặc biệt là những biểu hiện đặc thù của cơ chế tạo lập diễn ngôn về giới nữ trong khu vực văn học đó. Những nội dung cơ bản của lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và lý thuyết phê bình nữ quyền sẽ được trình bày cụ thể trong chương 1 và chương 2 của luận án. Trong hệ thống phương pháp nghiên cứu nói trên, nguyên tắc phương pháp luận của lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đóng vai trò chỉ dẫn, trở thành công cụ chính yếu giúp cúng tôi lí giải cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 5. - Chứng minh toàn bộ nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật thông qua hệ thống các luận điểm và dẫn chứng cụ thể. - Vận dụng linh hoạt lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, luận án khảo sát các sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm chỉ ra đặc điểm, cơ chế và phương thức kiến tạo diễn ngôn về giới nữ ở bộ phận văn học này. - Luận án đặt vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự soi sáng của lý thuyết diễn ngôn và lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. - Tìm hiểu diễn ngôn giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, luận án chỉ ra được những bình diện quan trọng nằm trong cấu trúc diễn ngôn này như: chiến lược diễn ngôn, hệ hình diễn ngôn, trật tự diễn ngôn và mục đích diễn ngôn... - Trên cơ sở phân tích cấu trúc diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận án giải thích vì sao trong diễn ngôn của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam giới nữ lại được miêu tả với những đặc tính khác biệt so với các tư trào văn học khác. Theo hướng nghiên cứu này, nhiều hiện tượng văn học, trong đó có văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được phân tích, khai thác thêm nhiều tầng vỉa ý nghĩa mới. Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ thống tu từ. Sang đầu thế kỉ XX, khi chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi, cùng với đó là sự xuất hiện của các phương tiện in ấn, xuất bản và các trào lưu văn hoá phương Tây thì vấn đề giới nữ, bình đẳng giới ở nước ta mới chính thức được phát biểu công khai trên báo chí. Sự ra đời của các tờ báo và tạp chí như Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí và đặc biệt là tờ báo dành riêng cho phụ nữ lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử dân tộc năm 1918 là Nữ giới chung đã khiến cho làn sóng nữ giới và nữ quyền trong nước có dịp khởi phát mạnh mẽ. Các tác giả đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cho rằng xã hội phụ quyền đã nhận thức chưa đúng đắn về việc học hành của nữ giới. Có thể thấy, ở đây, ý thức về giới, về nữ quyền đã có sự dịch chuyển, đúng hơn là một bước tiến vượt bậc cho thấy phụ nữ không còn là yếu tố khách thể được bàn đến qua các trang viết của nam giới, mà họ đã đóng vai trò chủ thể, tự nhận thức, tự cất lên tiếng nói đấu tranh về quyền bình đẳng giới trên báo chí. Rốt cuộc, với các cây bút của Nữ giới chung, nam nữ tuy bình đẳng về lợi ích nhưng người phụ nữ vẫn phải lấy việc “trông coi nhà cửa, giúp đỡ chồng con, dạy dỗ con cái là lẽ tự nhiên”, đó chính là bổn phận mà xã hội đã mặc định cho họ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vấn đề giới nữ và nữ quyền trong nước có điều kiện nảy nở để trở thành một trong những mối quan tâm đặc biệt của xã hội. Thời kì này, phong trào phụ nữ và nữ quyền trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ, tiếp tục ảnh hưởng đến Việt Nam. Bên cạnh đó là chủ trương mở rộng giáo dục của Pháp (chủ yếu là bằng ngôn ngữ Pháp) ở Việt Nam đã khiến cho văn hóa Pháp ngày càng ảnh hưởng sâu đậm vào nước ta. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng tác động lớn đến nhận thức của cộng đồng về vai trò của người phụ nữ. Trên cả ba miền đất nước, người ta thấy xuất hiện hàng loạt các sách báo bàn về nữ giới như: Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy (1928), Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu (1929), các tờ báo Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Phụ nữ tân văn… Cuốn chuyên khảo Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bảy được xem là cuốn sách bàn về phụ nữ đầu tiên ở nước ta dưới góc nhìn giới. Đặng Văn Bảy nhận thấy tình trạng bất bình đẳng giới trong xã hội ta chủ yếu là do “cái lòng quá tự trọng tự cao, cái quyền sanh sát, cái thói hẹp hòi của người đàn ông, và cái lòng quá e dè sợ sệt, cái tánh quá êm thấm, cái thói yếu ớt của người đàn bà nước ta mà ra” [14, tr.86], chung quy lại bất bình đẳng là vì “cái tập tục tập quán” của xã hội chứ không phải bởi lẽ tự nhiên. Đối với con nào thì cũng phải lo dạy dỗ “cho nên người đúng đắn”, cho con học hành để trở thành người biết tự trọng, biết nhân quyền… Những điều đã trình bày ở trên cho thấy tư tưởng nam nữ bình quyền rất tiến bộ và nhân văn của Đặng Văn Bảy. Bên cạnh hoạt động báo chí còn có hoạt động diễn thuyết nhằm tuyên truyền, giác ngộ và thể hiện tinh thần đấu tranh vì nữ quyền của các nữ trí thức như: Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm, Phan Thị Nga… Các bài diễn thuyết của họ thường đề cập đến một số vấn đề: hôn nhân tự do, chế độ đa thê, phụ nữ với vấn đề giải phóng, một ngày của người phụ nữ tân tiến… Song song với đó là sự ra đời của các tổ chức phụ nữ như Hội nữ quyền, Nữ công học hội… Trên thực tế, những hoạt động kể trên đã khiến cho phong trào đấu tranh nữ quyền, giải phóng phụ nữ thời kì này phát triển rầm rộ khắp cả nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đã mang đến một nhận thức quan trọng: giải phóng phụ nữ phải gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Từ thời điểm này, các tổ chức phụ nữ gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc liên tiếp được thành lập, chẳng hạn như Phụ nữ giải phóng (1930 - 1936), Hội phụ nữ Dân chủ (1936 - 1938), Hội phụ nữ Phản đế (1939 - 1941), Đoàn phụ nữ Cứu quốc (1941 - 1945), Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam (1961)… Ngay từ năm 1960, Đảng và nhà nước ta đã chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ để tạo nguồn cho các mảng công tác của xã hội thông qua việc thành lập Trường Phụ vận Trung ương (nay là Học viện Phụ nữ Việt Nam). Theo sự khảo sát của chúng tôi, vấn đề giới nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở những tầm mức khác nhau. Trước đó, đầu thế kỉ XX, người ta chủ yếu bàn luận đến vấn đề nữ giới, nam nữ bình quyền, hay giải phóng phụ nữ trên báo chí và hoạt động diễn thuyết với tính chất như một phong trào xã hội. Ông đã có khá nhiều bài về văn học nữ và vấn đề nữ giới trong văn học như: “Về văn học của phụ nữ Việt Nam” (Phụ nữ tân văn, số 1, 2/5/1929), “Văn học với nữ tánh” (Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929), “Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta” (Phụ nữ tân văn, từ số 5 đến số 18/1929)… Qua các trang viết, Phan Khôi luôn đánh giá cao dòng văn học nữ lưu và vai trò của người phụ nữ trong văn học. Bài viết này đã cho thấy sự vận dụng bước đầu lí thuyết phê bình nữ quyền của tác giả vào phân tích tục ngữ, ca dao Việt Nam. Từ đó, Phan Khôi chỉ ra những biểu hiện về bất bình đẳng giới của xã hội phụ quyền “nam tôn nữ ty”, “trọng nam khinh nữ”. Qua ca dao, ông nhìn thấy kiếp phận bi kịch của người phụ nữ trong vai nô lệ, tôi đòi của chồng, của cha mẹ và họ hàng nhà chồng; thân phận bi thương của người phụ nữ đem thân làm lẽ, bị quan lại ức hiếp… Bên cạnh đó, Phan Khôi cũng thấy được vai trò quan trọng của nữ giới trong gia đình, phát hiện ra những nét đẹp về tâm hồn và ngoại hình của họ. Tiếp nối hướng nghiên cứu của Phan Khôi, tác giả Lê Văn Hòe trong công trình Lược luận về phụ nữ Việt Nam (1944) đã phân tích và nêu lên những khái quát bước đầu về đặc điểm của người phụ nữ Việt Nam thông qua các tác phẩm văn học dân gian, văn học trung đại, thông qua các nhân vật nữ trong lịch sử xã hội và một số nữ văn sĩ thời kì trung đại. Khi khảo sát hình ảnh nữ giới trong “văn chương cũ” – tức văn học trung đại (cách nói của Lê Văn Hòe), cụ thể là ở tác phẩm Bích câu kì ngộ, tác giả lại nêu lên nhận định: “Đó, đàn bà Việt Nam, dù có là tiên chăng nữa, bao giờ cũng là một người biết theo phận sự làm vợ, hết đạo thờ chồng” [97, tr.34]. Từ việc khảo sát các lĩnh vực văn học, lịch sử và văn hóa, Lê Văn Hòe đã đưa ra một kết luận vừa có ý nghĩa khái quát lại vừa thể hiện thái độ tôn trọng, đề cao vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Ông viết: “Và đến đây, nếu ai tưởng rằng người đàn bà Việt Nam không thể đươnng nổi việc lớn, không thể làm được những việc ngoài xã hội, hoặc tưởng rằng đàn bà Việt Nam cổ lai chỉ là đàn bà của gia đình, hay nghĩ rằng đàn bà Việt Nam không bao giờ là những phụ nữ xã hội, thì người ấy tưởng lầm” [97, tr.56]. Bàn về giới nữ trong văn học Việt Nam trước năm 1945 còn có các bài viết nổi bật khác như “Vai trò của người phụ nữ khai sáng đất nước và dân tộc trong truyền thuyết dân gian” (1979) của tác giả Trần Gia Linh, hay “Nhân vật nữ trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng” (2002) của Bích Thu… Năm 2009, tại Hội thảo khoa học quốc tế Nho giáo Việt Nam và văn hóa Đông Á, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn có bài tham luận quan trọng với tựa đề Nho giáo và nữ quyền. Có thể xem đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu và công phu nhất về vấn đề giới nữ và nữ quyền trong văn học trung đại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay. Các nhà văn này đều miêu tả nhân vật nữ xuất phát từ quan niệm “hồng nhan bạc mệnh”, mà như nhà nghiên cứu nhận định thì đó chính là “sự lên án xã hội nam quyền đã biến người phụ nữ nhan sắc thành đồ chơi”. Do vậy, tác giả kết luận: “những người đàn ông trong bối cảnh văn hóa Tống Nho ở giai đoạn này vẫn có thể tiếp cận chủ nghĩa nữ quyền theo cách riêng của họ, nêu lên những vấn đề mà thực tế cuộc sống và tầm nhìn của họ cho phép” [264, tr.203]. Từ thực tiễn đã phân tích, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn khép lại bài viết bằng một nhận định xác đáng: “Việc phân tích thực tiễn văn học nhà Nho Việt Nam dưới góc nhìn nữ quyền cho thấy, Nho giáo là một hệ thống giá trị nhiều chiều, phức tạp, không thể đơn giản khen hay chê một chiều, không thể nghiên cứu Nho giáo như một hệ thống khép kín hoặc là hệ tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, hoặc là tư tưởng phản nhân đạo” [264, tr.209]. Năm 2010, trong bài “Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ XX”, tác giả Hồ Khánh Vân đã đề cập đến hoạt động phê bình nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Khi nói về diện mạo của văn học nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX, tác giả nhận xét: “Văn chương nữ đầu thế kỉ XX thực sự khởi sắc về lượng với sự xuất hiện của những cây bút nữ lưu bước chân ra từ chốn phòng the vốn lâu nay bị niêm phong kín cẩn bởi những quan niệm, những định kiến (…) Thế nhưng, trên trục vận động của chiều dài lịch sử thi ca dân tộc, sự tồn tại ấy chưa đủ để tạo thành các vết khắc sâu về số lượng, về giá trị vào kí ức văn chương” [310, tr.88]. Như vậy, bài biết của Hồ Khánh Vân chủ yếu đưa ra những nhận xét mang tính khái quát về tình hình phê bình nữ quyền và gương mặt văn học nữ Nam Bộ đầu thế kỉ XX. Ý thức về giới và nữ quyền ở đây được hiểu trong phạm vi gắn với người nghiên cứu và ý thức nhập cuộc sáng tạo của các nhà văn nữ. Năm 2011, tác giả Trần Văn Toàn qua bài “Nam tính hóa nữ tính - đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính” đã thẩm định lại một số vấn đề quan trọng như: “- giới hạn của cái gọi là giải phóng phụ nữ trong Đoạn tuyệt thực chất là gì? Lí giải cho hiện tượng “nam tính hóa nữ tính” của nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt, Trần Văn Toàn cho đó là hệ quả của “tinh thần dân tộc và tham vọng hiện đại hóa đất nước” [285, tr.90] ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu còn chỉ ra một nguyên nhân khác dẫn tới hiện tượng trên là “sự mặc cảm của nam tính Việt trong tương quan với chủ thể thực dân” [285, tr.94]. Trong bài viết, tác giả Mariam B.Lam phân tích nhân vật nữ trung tâm của Truyện Kiều là Thúy Kiều nhằm đưa ra những quan điểm của bà về sự biểu hiện của tính dân tộc qua hình tượng văn học. Nhà nghiên cứu cho rằng: “Truyện Kiều không phải là một bài thơ mang tính nữ quyền: việc đồng hóa phụ nữ Việt Nam với cá nhân người Việt Nam nói chung làm cho quyền lực của người phụ nữ không thể chuyển động được; trái lại, sự đồng hóa này nhấn mạnh sự bất lực của phụ nữ trong một xã hội” [21]. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa về cơ bản đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình và để lại dấu ấn riêng trong tiến trình văn học dân tộc. Những bài viết và công trình nghiên cứu về bộ phận văn học này rất phong phú, bởi trong suốt một thời gian dài ngót nửa thế kỉ nó giữ vị trí trung tâm trong đời sống văn học Việt Nam. Trong phạm vi bao quát của luận án, chúng tôi chỉ phân tích những bài viết, công trình nghiên cứu đề cập ít nhiều đến vấn đề giới nữ chứ không có tham vọng làm lịch sử vấn đề của tất cả các công trình nghiên cứu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Qua theo dõi các bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học - cơ quan ngôn luận của Viện Văn học từ năm 1960 đến nay, chúng tôi thấy số lượng bài nghiên cứu đề cập tới hình ảnh người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa phải là nhiều so với các vấn đề khác. Những năm 60 của thế kỉ XX, hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học chủ yếu hướng vào các vấn đề quan trọng của dân tộc và thời đại như: tính Đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng… Những bài nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn này nếu có nhắc đến giới nữ thì cũng chỉ mang tính chất điểm xuyết, coi đó như là một nhân tố tích cực tham gia vào lực lượng quần chúng đấu tranh cách mạng. Bài viết Hòn Đất, một bức tranh chân thật về giai đoạn đầu chống Mĩ ở miền Nam của tác giả Phan Nhân năm 1967 đã nêu ra những nhận xét, đánh giá tích cực về tính chân thật của hiện thực đấu tranh cách mạng được nhà văn phản ánh trong tác phẩm. Trong các năm 1974 - 1975, công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (hai tập) của Phan Cự Đệ lần lượt ra mắt bạn đọc đồng thời được sử dụng rộng rãi trong khoa văn học của các trường đại học, cao đẳng sư phạm, các trường khoa học xã hội và nhân văn, viện nghiên cứu văn học... Tuy đây không phải là công trình nghiên cứu chuyên biệt về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nhưng ở khá nhiều chỗ, Phan Cự Đệ đã đề cập đến các nhân vật nữ. Ở một chỗ khác, tác giả lại nêu lên nhận định khái quát về hình tượng người mẹ trong tiểu thuyết cách mạng: “Trong cuộc cách mạng miền Nam hiện nay, hình tượng bà má là một hình tượng rất tiêu biểu, rất đẹp, chinh phục được lòng yêu mến gần như tuyệt đối của mọi cán bộ và chiến sĩ” [56, tr.199]. Ngoài ra, trong cuốn chuyên luận kể trên, nhằm chứng minh cho những luận điểm khái quát về điển hình hóa của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghiã, tác giả Phan Cự Đệ trong một số dẫn chứng khác cũng đề cập đến một số nhân vật nữ như Sứ (Hòn Đất - Anh Đức), Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), An, Quyên, Phượng (Vỡ bờ - Nguyễn Đình Thi)... Phải đến sau năm 1975 khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, hai miền Nam Bắc thống nhất, các nhà khoa học mới dành nhiều thời giờ và tâm sức để nghiên cứu các vấn đề phong phú khác của văn học, trong đó có vấn đề giới nữ và nữ quyền. Trên báo chí và các diễn đàn văn học, người ta nói nhiều hơn đến vai trò của nữ văn sĩ, hình tượng người phụ nữ, ý thức phái tính, tư tưởng nữ quyền trong văn học. Phần lớn các bài viết trong tạp chí đều xoay quanh vấn đề người phụ nữ trong văn học, đặc biệt là văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975. Có thể kể ra một số bài tiêu biểu như: “Thơ và sự phản ánh người phụ nữ mới Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ” của Mai Hương, “Vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ cách mạng miền Nam” của Bích Thu, “Hình ảnh người phụ nữ miền Nam trong chống Mĩ qua truyện của Phan Tứ” của Lê Thị Đức Hạnh, “Người phụ nữ Việt Nam XHCN và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong văn học” của Đoàn Thị Hương… Nhìn vào đây có thể thấy, những bài viết này tuy có phạm vi nghiên cứu rộng hẹp khác nhau nhưng đối tượng được xem xét lại rất thống nhất đó là hình ảnh người phụ nữ trong các sáng tác văn học Việt Nam (đặc biệt là thơ và truyện) giai đoạn chống Pháp và chống Mĩ. Dù phân tích thơ hay truyện, họ đều có ý thức phân loại phụ nữ theo từng khối mảng với các tiêu chí phong phú từ tuổi tác (những bà mẹ già, phụ nữ trung niên, các cô gái trẻ), lĩnh vực hoạt động (thanh niên xung phong, du kích, lao động sản xuất…), phẩm chất (tích cực, tiêu cực)… Đa phần cảm hứng của nhà nghiên cứu (khi phân tích hình tượng phụ nữ) và cảm hứng của nhà văn (khi miêu tả người phụ nữ) được chập vào làm một. Chẳng hạn, tác giả Mai Hương khi tìm hiểu hình ảnh người phụ nữ trong thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã bộc lộ niềm xúc động, yêu mến, và cảm hứng ngợi ca dạt dào đối với người phụ nữ Việt Nam. Sau khi dẫn một đoạn thơ trong bài Mẹ Suốt (Tố Hữu), nhà nghiên cứu viết: “Ở hầu hết các bà mẹ, ta đều gặp ý thức ấy của mẹ Suốt: mọi người đều đánh Mĩ - há lẽ nào mẹ thua. Chia xa - và cuộc sống của mỗi người trong khoảng xa ấy, là một thử thách lớn trong tình yêu của họ; chính ở đây, thơ đã ghi lại được cái khỏe khoắn đáng yêu trong tâm hồn, trong tình cảm của lớp trẻ: chia tay trong một nhiệm vụ chung (…) Nhờ giải quyết tốt những quan hệ tình cảm riêng ấy, người phụ nữ Việt Nam đã có được những đóng góp lớn lao trong tất cả mọi mặt. Cũng có thể bắt gặp lối phân tích và cảm thụ khá đồng điệu với tác giả Mai Hương về người phụ nữ ở nhà nghiên cứu Bích Thu qua bài “Vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ cách mạng miền Nam”. Nếu đa phần bài viết đăng trong số tạp chí này đều khai thác hình ảnh giới nữ gắn liền với hoạt động đánh giặc cứu nước thì riêng bài “Người phụ nữ Việt Nam XHCN và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong văn học” của Đoàn Thị Hương lại thể hiện sự tìm tòi cái mới thông qua việc tìm hiểu vai trò của người phụ nữ đối với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật. Nhưng việc xây dựng hình tượng người phụ nữ trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, và đặc biệt trong cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, để tiến lên “làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân mình” thì lại là vấn đề mới đối với văn học nước ta” [103, tr.54]. Điều đáng chú ý ở đây là, tác giả bài viết đã thể hiện một bước dấn rõ rệt so với các đồng nghiệp của mình trên phương diện gắn cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật với vấn đề giải phóng phụ nữ và vấn đề nữ quyền. Bên cạnh việc đánh giá tích cực, biểu dương khả năng nhạy bén của các nhà văn trong nắm bắt và bao quát hiện thực, Đoàn Thị Hương cũng chỉ ra một số hạn chế của các nhà văn về khả năng nêu vấn đề của tác phẩm, phương thức xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện thì sáo mòn. Như vậy, thông qua phân tích một hệ thống bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1 năm 1978, chúng tôi nhận thấy các bài viết này về cơ bản có cái nhìn khá thống nhất về người phụ nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cảm hứng sử thi của tác phẩm có sức truyền cảm mạnh mẽ và biến thành cảm quan của người nghiên cứu. Phần lớn các nhà nghiên cứu, phê bình đều thể hiện tinh thần, thái độ tích cực trong việc nhìn nhận đánh giá các nhân vật nữ, nhất là những người phụ nữ tham gia kháng chiến và cách mạng xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh tình cảm yêu mến, cảm phục, tự hào còn thấy xuất hiện tinh thần phê phán của nhà nghiên cứu đối với những nhân vật nữ hạn chế về nhận thức, có tư tưởng tư sản, dao động, thiếu niềm tin… Chúng tôi thiết nghĩ, sự đồng điệu hay thống nhất trong cảm quan ở các nhà nghiên cứu như trên là điều dễ lí giải. Ở đây, có thể hiểu, các phương diện hệ hình tri thức - văn hóa thời đại và ý thức hệ chính trị của xã hội không chỉ đóng vai trò là những thiết chế tham gia vào việc kiến tạo diễn ngôn của sáng tác văn học mà còn chi phối đến cả diễn ngôn của nhà phê bình. Trong số những nhà nghiên cứu đã đề cập ở trên, Lê Thị Đức Hạnh và Đoàn Thị Hương tạo ra điểm nhấn mới bởi trong bài viết của mình, họ đã bước đầu quan tâm đến người phụ nữ từ góc độ giới, cụ thể là vấn đề bình đẳng giới và nữ quyền. Bàn về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nói chung, hình tượng nữ giới trong bộ phận văn học này nói riêng không thể không kể tới vai trò của bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam do Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Văn Long chủ biên. Về biểu tượng người mẹ, nhà nghiên cứu phân tích và dẫn ra một số ví dụ về thơ Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly. Trên cơ sở đó, ông đi đến kết luận: “Xây dựng hình ảnh mẹ như là biểu tượng cho Tổ quốc, đất nước - một biểu tượng vừa gần gũi, thân thương vừa biết bao hùng vĩ đó là tài năng, và sâu xa hơn đó là tình cảm gắn bó máu thịt, là tình yêu thiết tha, sâu sắc nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ đối với quê hương đất nước” [157, tr.385-386]. Ở một chỗ khác, trong phần khái quát lịch sử phát triển và thành tựu của thể loại truyện và kí giai đoạn 1945 - 1975, bàn về sáng tác của Tô Hoài, Đoàn Trọng Huy nhận xét: “Mang cảm quan nhân văn mới, trải nghiệm và thấm thía với nỗi đau của quần chúng nhân dân, ông đã đào sâu vào tận cùng những cuộc đời, những thân phận để làm hiển hiện cái tột cùng đau khổ của con người, đặc biệt là những người phụ nữ Tây Bắc” [157, tr.485]. Như vậy, với tư cách là một công trình nghiên cứu quy mô về lịch sử văn học Việt Nam, cuốn giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam nói trên đã giúp bạn đọc hình dung ra các chặng đường phát triển cũng như toàn bộ diện mạo của nền văn học nước ta. Năm 2010, luận án tiến sĩ Ngữ văn với đề tài Hình tượng tác giả nữ trong thơ thời chống Mĩ của Nguyễn Thị Nga được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trở thành một trong số ít những công trình nghiên cứu tập trung về vấn đề giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhìn tổng thể, luận án đặt nhiệm vụ trọng tâm vào việc nghiên cứu hình tượng tác giả nữ trong thơ ca giai đoạn chống Mĩ. Khi phân tích hình tượng tác giả nữ trong vai nữ, Nguyễn Thị Nga xem xét các khía cạnh biểu hiện của vai nữ trong sự tự phân thân và và vai nữ với sự ý thức về vẻ đẹp giới ở cả phương diện ngoại hình lẫn phẩm chất. Tuy nhiên, nếu luận án Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn của Hoàng Thị Thu Giang chủ yếu nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 từ phương diện thẩm quyền diễn ngôn thì luận án của chúng tôi lại xem xét cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ các yếu tố căn cốt khác của khái niệm diễn ngôn là chiến lược giao tiếp và trật tự diễn ngôn. Hiện nay, trong bối cảnh người nghiên cứu có xu hướng tập trung vào địa hạt văn học đương đại nhiều hơn, nhà nghiên cứu La Khắc Hòa lại là một trong số ít người dành sự quan tâm đặc biệt đến văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Với loạt bài viết như: “Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật” (2012), “Chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1975” (2014), “Thơ Tố Hữu - kho ký ức thể loại của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” (2015), tác giả đã cho thấy những hiện tượng văn học quá khứ sẽ luôn có một diện mạo mới và trở nên hấp dẫn hơn nhờ vào lối tiếp cận và lí giải mới. Tuy không trực tiếp bàn về diễn ngôn giới nữ trong nền văn học này nhưng các bài viết của ông đã mang đến cho chúng tôi một cách hiểu sáng rõ về khái niệm diễn ngôn và thực hành phân tích diễn ngôn. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng rất tâm đắc với việc tác giả mô hình hóa bức tranh thế giới trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thành các vai chức năng. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề giới nữ trong các sáng tác văn học giai đoạn từ 1975 đến nay, chúng tôi nhận thấy đây là chặng đường văn học thu hút sự quan tâm nhiều nhất của các nhà nghiên cứu về phương diện này. Năm 2007, Nguyễn Đăng Điệp với bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại” đã tạo ra một “cú hích” cho hướng nghiên cứu văn học Việt Nam từ góc nhìn phái tính và lí thuyết phê bình nữ quyền. Trước hết, nhà nghiên cứu nêu lên sự biểu hiện của ý thức phái tính và tư tưởng nữ quyền trong văn học dân gian, thơ ca trung đại, các sáng tác của Tự lực văn đoàn, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng 1945 - 1975. Dừng lại ở mảng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Do yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác nhiều ở khía cạnh xã hội mà chưa được chú ý nhiều đến đặc trưng về giới. Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đại chứ chưa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tư cách là người thiết tạo nên những tư tưởng nghệ thuật riêng của chính mình” [59]. Từ những biện giải và chứng minh sự có mặt của yếu tố phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học đương đại Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp đi đến một kết luận quan trọng: “Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá” [59]. Theo khảo sát của chúng tôi, một trong những người nghiên cứu khá tập trung về vấn đề nữ giới và nữ quyền trong văn học Việt Nam nói chung, văn học đương đại nói riêng đó là Hồ Khánh Vân. Năm 2008, chị bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh với đề tài Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay. Sau đó, Hồ Khánh Vân tiếp tục có một số bài viết khác liên quan đến hướng tiếp cận này đối với mảng văn học đương đại Việt Nam, nổi bật trong số đó là bài “Ý thức về địa vị “giới thứ hai” trong một số sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam và Trung Quốc từ 1980 đến nay” [311, tr.312-329]. Năm 2011, bài viết “Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình đã góp phần làm cho hướng tiếp cận văn học Việt Nam đương đại từ lí thuyết về giới trở nên phong phú thêm. Trên cơ sở đó, tác giả bài viết đi tìm những dấu hiệu thể hiện ý thức phái tính trong tác phẩm của một số nhà văn nữ đương đại tiêu biểu như Phạm Thị Hoài, Y Ban, Võ Thị Hảo, Thuận, Trần Thùy Mai, Đỗ Hoàng Diệu… Theo bà, ý thức phái tính trong các sáng tác của văn xuôi nữ đương đại biểu hiện tập trung qua một số bình diện cụ thể: những tuyên ngôn về “viết”, các nhân vật in đậm ý thức phái tính, ngôn ngữ của ý thức phái tính. Phần cuối bài viết, Nguyễn Thị Bình đưa ra kết luận: “Ý thức phái tính trong văn xuôi các tác giả nữ đương đại là câu chuyện có thực và sôi nổi không kém trong thơ nữ, chắc chắn ít nhiều có âm vang của làn sóng nữ quyền trên thế giới” [17, tr.85] và nhà nghiên cứu cũng thể hiện thái độ thận trọng khi cho rằng cách nhận diện và lí giải của mình xét đến cùng cũng chỉ là một cách đọc mà thôi. Tiếp cận văn học Việt Nam từ góc nhìn giới và lí thuyết phê bình nữ quyền còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà văn, nhà phê bình khác như Lý Lan, Nhật Nguyệt, Bùi Việt Thắng… Năm 2013 đã có thêm một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giới nữ trong văn học Việt Nam đó là luận án tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Thanh Xuân với đề tài Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu). Luận án đã được tác giả bảo vệ thành công tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Trong công trình này, chúng tôi quan tâm đến những nhận xét của tác giả khi bàn về ý thức phái tính và nữ quyền trong văn học cách mạng 1945 - 1975 bởi đây cũng chính là mảng văn học mà luận án của chúng tôi khảo sát (văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa). Về cơ bản, tác giả đã giải quyết được nhiệm vụ trung tâm của luận án đặt ra đó là tìm thấy những dấu hiệu biểu hiện ý thức phái tính và âm hưởng nữ quyền ở bộ phận văn học này. Có một điều thú vị là, vấn đề giới nữ và nữ quyền trong văn học Việt Nam không chỉ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong nước mà còn hấp dẫn cả các học giả nước ngoài. Năm 2013, nhà nghiên cứu này gây chú ý đối với đời sống văn học Việt Nam qua bài viết “Những quan niệm đương đại về giới nữ ở Việt Nam (nhìn từ các văn bản văn hóa quy chiếu quá trình sáng tạo và tiếp nhận tự truyện: Lê Vân: Yêu và sống”. Trong tiểu luận nói trên, tác giả đã xem xét diễn ngôn về phụ nữ qua tự truyện Lê Vân bằng việc đặt tác phẩm vào hệ quy chiếu của các văn bản văn hóa, lịch sử, xã hội, chính trị… Nói cách khác, đó là một hệ thống các yếu tố có khả năng tạo ra tính chất áp chế và tham gia trực tiếp vào việc kiến tạo diễn ngôn. Bài viết giống như một cánh cửa mới giúp công chúng có thêm một điểm nhìn về nhân vật trung tâm của cuốn tự truyện Lê Vân: Yêu và sống nói riêng, và trên một ý nghĩa nhất định cũng cho thấy ít nhiều về quan niệm mang tính đương đại đối với người phụ nữ nói chung. Chúng tôi cho rằng, mọi nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ trong văn học đều ít nhiều có mối quan hệ với sự hình thành và phát triển của phong trào nữ quyền trên thế giới. Do đó, nghiên cứu cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay bất cứ bộ phận văn học nào khác cũng cần phải xem xét sự ảnh hưởng của chủ nghĩa nữ quyền và trực tiếp hơn cả là phê bình nữ quyền đến tư duy của nhà nghiên cứu ở mỗi chặng đường cụ thể. Chỉ có như thế mới nhận biết được sự vận động và biến chuyển nhiều khi rất phức tạp của vấn đề giới nữ trong văn học nói chung, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng. Phụ nữ khắp nơi đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi phúc lợi xã hội về bảo hiểm, các chế độ thai sản và đặc biệt là quyền được bầu cử… Những nỗ lực đấu tranh ấy cuối cùng cũng có tác dụng buộc các thể chế chính trị phải thừa nhận quyền dân chủ của giới nữ. Beauvoir, sự bất bình đẳng giới không nảy sinh từ những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ mà bắt nguồn từ chính các nguyên tắc văn hóa - xã hội của chế độ nam quyền. Tuy nhiên, phê bình nữ quyền chỉ thực sự trở thành một khuynh hướng nghiên cứu vào đầu thế kỉ XX khi có sự xuất hiện của các nữ tác gia như: Virginia Woolf (1882 - 1941) với tác phẩm Một căn phòng cho riêng mình (1929) và đặc biệt là Simon de Beauvoir (1908 - 1986) với tác phẩm Giới thứ hai (1949). Luận án của chúng tôi đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc tìm hiểu cơ chế kiến tạo diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Song, nói về phụ nữ trên phương diện giới tính không thể không đặt nó vào mối quan hệ với vấn đề nữ quyền. Trong ngữ cảnh cụ thể của luận án, lý thuyết phê bình nữ quyền góp phần giúp chúng tôi không chỉ thấy được một phương diện quan trọng của nữ giới là nữ quyền mà còn nhận thức được cả những giới hạn về mặt này của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1.4. Tổng quan vấn đề giới nữ trong đời sống văn hóa và nghiên cứu văn học cho phép nhận thấy, từ xưa đến nay phụ nữ luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của xã hội. Trong đời sống văn hóa, đặc biệt là từ đầu thế kỉ XX khi hoạt động báo chí, in ấn xuất hiện và phát triển mạnh ở Việt Nam thì vấn đề giới nữ và nữ quyền được đưa ra bàn luận rất sôi nổi. Việc tìm hiểu quan điểm, các hoạt động văn hóa của xã hội liên quan đến giới nữ là cần thiết bởi xưa nay lĩnh vực văn hóa và văn học luôn có mối quan hệ rất khăng khít và có sự chi phối, tác động qua lại lẫn nhau. Từ việc quan sát tình hình nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học Việt Nam, chúng tôi cho rằng, vấn đề này chỉ thực sự thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của giới khoa học trong khoảng hơn một thập kỉ qua. Hình tượng người phụ nữ từ trong văn học dân gian, văn học trung đại cho đến văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học đương đại Việt Nam được phân tích ở những mức độ đậm nhạt, với quy mô khác nhau trong các bài viết nêu trên. Riêng bộ phận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa về cơ bản chỉ được nghiên cứu nhiều trong khoảng nửa sau thế kỉ XX còn những năm gần đây lại rất ít được bàn đến. Những bài nghiên cứu xuất hiện trong thế kỉ XX, đặc biệt là giai đoạn sau 1975 đã có sự phân tích, đánh giá công phu về các sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong việc miêu tả hình tượng người phụ nữ. Do vậy, theo chúng tôi, những bài viết về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phần nhiều mới chỉ phân tích và ngợi ca vai xã hội của giới nữ - cái đã tồn tại hiển nhiên trong sáng tác mà chưa đặt ra được vấn đề tại sao những biểu hiện thực sự của căn tính nữ lại gần như vắng bóng trong bộ phận văn học này. Những hướng tiếp cận trên chưa lí giải được tại sao chân dung nữ giới trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa lại khác so với sự biểu hiện của nó trong các giai đoạn văn học trước và sau đó. Xuất phát từ những khoảng trống vừa nêu của vấn đề, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, khác với lối tiếp cận từ lý thuyết phê bình Mác – xít, lý thuyết về hình tượng nghệ thuật phổ biến trong các bài viết, công trình trước đây, tác giả luận án chọn lý thuyết diễn ngôn, kết hợp với lý thuyết diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và trong một chừng mực nhất định là lý thuyết phê bình nữ quyền để nghiên cứu vấn đề giới nữ trong bộ phận văn học này. Trong chương này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề thiết yếu như: xác lập khái niệm diễn ngôn; xác định nguồn gốc, quá trình phát triển và đặc điểm của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở coi văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình diễn ngôn, luận án phân tích một số bình diện cụ thể nhằm làm sáng tỏ cơ chế hình thành của loại hình diễn ngôn này như: diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là diễn ngôn sáng thế; bức tranh thế giới phân vai - chức năng; vấn đề diễn ngôn giới trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, dựa vào thực tiễn vận dụng khái niệm diễn ngôn trong các lĩnh vực, có thể khái quát thành ba xu hướng nghiên cứu diễn ngôn cơ bản đó là: ngôn ngữ học, lí luận văn học và xã hội học. Đây đó vẫn còn nhiều ý kiến tranh biện, thậm chí phê phán đối với lí thuyết diễn ngôn của Foucault, song, có một thực tế không thể phủ nhận là tư tưởng của Foucault đã trở thành một hiện tượng được nhắc tới nhiều nhất trong thế kỉ XX. M. Foucault cho rằng: thực tại dù có trước, song, hiện thực ấy chỉ sau khi được tái tạo thành diễn ngôn thì mới trở thành ý thức của con người và rồi sau đó, con người sẽ hành xử với thế giới theo nội dung của diễn ngôn chứ không phải với bản chất “tự nhiên” vốn có của nó. Có thể nói, tư tưởng của ông đóng vai trò như một nền tảng lí thuyết quan trọng để từ đó các khoa học xã hội và nhân văn phát triển thêm một hướng nghiên cứu mới giàu tiềm năng, thúc đẩy con người luôn tư duy để thực hiện khát vọng vượt thoát những giới hạn do chính họ đã tạo ra. Nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển của thuật ngữ “diễn ngôn” sẽ nhận thấy các nhà khoa học Âu - Mĩ đã có những đóng góp to lớn đối với việc xác lập thuật ngữ này trong lĩnh vực ngôn ngữ học và xã hội học. Bakhtin và các học giả người Nga như Natan Davidovich Tamarchenko, Valeri Igorovich Chiupa được xem là những người đặt nền móng cho việc xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại. Trong Vấn đề thể loại lời nói, ông cho rằng: “Tất cả mọi đặc điểm của diễn ngôn mà tôi biết là tính kí hiệu thuần túy, tính thích ứng phổ biến về ý thức hệ, tính tham dự giao tiếp đời sống, trở thành tính chức năng bên trong của diễn ngôn và cuối cùng là tính tồn tại tất yếu của các hiện tượng kèm theo của mọi hành vi ý thức hệ. Tư tưởng của V.I. Chiupa đóng vai trò gợi mở và chỉ dẫn quan trọng giúp tác giả luận án lí giải đặc điểm diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khảo sát lịch sử hình thành và vận dụng khái niệm diễn ngôn, chúng tôi nhận thấy đây là khái niệm thuộc nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau, có diễn ngôn chính trị, diễn ngôn triết học, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn văn học… Do vậy, nghĩa của khái niệm diễn ngôn còn gắn liền với tính đặc thù về đối tượng nghiên cứu của mỗi ngành khoa học. Diễn ngôn là phát ngôn, một hành động lời nói tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội” (Van Dijk) giữa chủ thể (tác giả, người sáng tạo), khách thể (người nghe, người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới (nhân vật, các sự vật, hiện tượng). Trật tự này phụ thuộc vào địa vị của tri thức, quyền lực mà cho phép ai là người có quyền nói, được nói gì, không được nói gì và nói như thế nào, cũng bởi thế mà có diễn ngôn của kẻ thống trị, làm chủ, diễn ngôn của người bị lấn áp, bài xích… Trong công trình Trật tự diễn ngôn, M. Nguyên tắc này một mặt cho phép chủ thể có thể tạo ra vô số diễn ngôn mới, nhưng một mặt khác lại ngăn chặn tính ngẫu nhiên của diễn ngôn bằng cách giới hạn người ta chỉ được nói những gì vốn đã được thừa nhận, được xem là cái đương nhiên. Hệ hình diễn ngôn (hình thái diễn ngôn) được xem là hệ thống cấp bậc của chủ thể, khách thể và người tiếp nhận trong diễn ngôn quy định các tham số của hoạt động giao tiếp (bao gồm hoạt động sản xuất và tiếp nhận văn bản), đáp ứng trạng thái tinh thần, văn hóa của con người trong những thời kì lịch sử xã hội nhất định. Dưới góc nhìn của tu từ học và thi pháp học hiện đại, hình thái diễn ngôn chính là cấu hình của các thẩm quyền thuộc về cái được biểu đạt, sáng tạo và tiếp nhận diễn ngôn nhằm tạo thành một không gian giao tiếp cụ thể. Có thể thấy, hình thái diễn ngôn này được vận dụng khá triệt để trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở một số quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hình thái diễn ngôn này sẽ được chúng tôi vận dụng vào tìm hiểu vai diễn ngôn của giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở chương 3 của luận án. Ra đời từ thời trung đại, hình thái diễn ngôn đối nghịch - chủ động phát triển cực thịnh ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX và trở thành nền tảng căn cốt cho sự hình thành của thi pháp lãng mạn chủ nghĩa, tiếp tục tồn tại trong thực tiễn văn hóa xã hội ở nhiều quốc gia hiện nay. Nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được hình thành sớm nhất ở Liên Xô, là kết quả của sự vận dụng các nguyên tắc của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong văn kiện, các nhà lãnh đạo văn hóa văn nghệ đã xác định: Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là chuẩn tắc cao nhất của sáng tác và phê bình văn nghệ. Phải đến năm 1948, trong bài Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Trường Chinh đã nêu đầy đủ tên gọi của phương pháp trong khi ông đặt câu hỏi “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là gì?” và trả lời câu hỏi ấy: “Hiện thực xã hội chủ nghĩa là một phương pháp sáng tác văn học tả những sự thật trong xã hội. Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử dân tộc có nhiều biến động (kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ), văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam tập trung thực hiện sứ mệnh quan trọng mà thời đại trao cho nó. Có thể nói, ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm chỉ đạo, định hướng then chốt đối với đời sống văn hóa và văn học Việt Nam trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Trong bài nói chuyện với văn nghệ sĩ tại Hội nghị học tập nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960, Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh: “Đường lối, chính sách của Đảng soi đường cho những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, và những người hoạt động trong văn học, nghệ thuật’’ [161, tr.335]. Giống như ở Liên Xô, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng hình thành một hệ thống các nguyên tắc cụ thể, đòi hỏi người nghệ sĩ khi sáng tác văn học phải tuân thủ triệt để. - Thứ hai, về nhân vật trung tâm, nhân vật trung tâm trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được xác định cụ thể là những con người mới ngập tràn lòng yêu nước, giác ngộ lí tưởng xã hội chủ nghĩa, luôn làm chủ cuộc đời và làm chủ vận mệnh của mình. Bên cạnh đó, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng xây dựng những nhân vật phản diện, tiêu cực (xấu xa, lạc hậu, phản tiến hóa) dựa trên cảm hứng phê phán nhằm thể hiện rõ chủ trương vận dụng quy tắc phê bình và tự phê bình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tinh thần vừa khẳng định, ngợi ca lại vừa phê phán như thế, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cho thấy đầy đủ quan điểm kết hợp giữa cải tạo và xây dựng - một trong những tư tưởng nòng cốt của Đảng. - Thứ ba, về vấn đề điển hình hóa, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa yêu cầu các nhà văn phải xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Theo ý này, nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa phải thấm nhuần lí tưởng thẩm mĩ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và miêu tả nhân vật chính diện với tư thế người anh hùng (người chiến thắng) của thời đại mới - con người có sự thống nhất cao độ giữa phương diện cá nhân và tập thể. Nhận xét về phương diện thi pháp của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, Phương Lựu cho rằng: “Nói rộng ra cả về hình thức và các biện pháp nghệ thuật, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa còn có thể gạn đục khơi trong ở các phương pháp sáng tác của nền văn học tư sản hiện đại, mặc dù không thể xem nó là những tiền đề nghệ thuật của mình, mà luôn phải chú ý đấu tranh phê phán về mặt nội dung” [143, tr.614]. Trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc, nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam diễn ra dưới sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của Đảng Cộng sản. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc đặt ra yêu cầu phải phản ánh một cách “chân thực và hùng hồn cuộc sống mới và con người mới” theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đối với các văn nghệ sĩ. Trong bài nói chuyện tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 3 (1962), Trường Chinh nhấn mạnh nhiệm vụ quan trọng của văn nghệ sĩ là “phục vụ nhân dân, phục vụ công nông binh; không đứng trên quần chúng mà hòa mình với quần chúng; tìm hiểu tâm tư, tình cảm nguyện vọng của quần chúng, vui cái vui của quần chúng, lo cái lo của quần chúng, học hỏi quần chúng để sáng tác, đặng góp phần nâng cao ý thức về lẽ sống của mỗi người, chỉ cho mỗi người biết cách yêu và ghét, biết cách sống và làm việc” [161, tr.242]. Từ những gương mặt được xem là lá cờ đầu của thơ văn cách mạng như Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu cho đến lớp lớp các thế hệ nhà văn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như Tô Hoài, Xuân Diệu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Chế Lan Viên, Phan Tứ, Chu Văn, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Dương Thị Xuân Quý, Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh... Có thể thấy, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam đã có một quá trình hình thành và phát triển “tương đối hoàn chỉnh” (Phương Lựu), tính từ thời điểm được đề xướng trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 cho đến năm 1975. Sở dĩ như vậy là bởi, từ sau năm 1975, cùng với những biến chuyển lớn trong tư duy lí luận của các học giả Liên Xô về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam cũng có sự nhìn nhận “một cách mềm dẻo hơn” (Trần Đình Sử) về phương pháp sáng tác này. Các tác phẩm như Bến quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành là những minh chứng tiêu biểu cho sự vượt thoát khỏi hệ thống các nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nhà văn này. Đến Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), các nghị quyết, văn kiện của Đảng không còn đề cập tới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với tư cách là phương pháp sáng tác tối ưu như trước đây. Tóm lại, sau hơn bốn mươi năm hình thành và phát triển, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã cho thấy vai trò chủ đạo của nó đối với đời sống văn hóa và văn học Việt Nam trong suốt một chặng đường dài. Mặc dù còn chứa đựng những hạn chế nhất định, song, không thể phủ nhận sự có mặt cũng như những đóng góp quan trọng của phương pháp sáng tác này đối với tiến trình văn học và cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Từ những nguyên tắc sáng tác của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy, thực chất văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là một hệ hình diễn ngôn nghệ thuật. Sứ mệnh của các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa là miêu tả hiện thực một cách chân thực, cụ thể, lịch sử trong sự phát triển cách mạng của nó. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng đòi hỏi nghệ sĩ phải có thế giới quan rộng mở, luôn nhìn đời sống lạc quan và miêu tả nó bằng một sự lí tưởng hóa cao độ. Trên cơ sở của nguyên tắc lí tưởng hóa ấy, các nhà văn cách mạng vô sản Việt Nam bao giờ cũng miêu tả hiện thực theo chiều hướng tiến tới một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn trong tương lai. Nói cách khác, diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam hướng tới việc kiến tạo một thế giới mới, ở đó không tồn tại cái bi thương, đen tối, mờ mịt mà là một không gian mới hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp. Phân tích thực tiễn sáng tác của bộ phận văn học này, chúng tôi nhận thấy diễn ngôn sáng thế tập trung vào việc biểu đạt hai loại tri thức lớn đó là: tri thức về sự hình thành chế độ - xã hội mới và tri thức về sự hình thành con người mới. Ngay từ thời điểm trước Cách mạng tháng Tám 1945, diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã bộc lộ rất rõ khuynh hướng vươn tới tương lai huy hoàng, hoàn thiện của xã hội Việt Nam. Tư tưởng này biểu hiện tập trung nhất qua thơ Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Một điều đáng lưu ý là, khát vọng về chế độ xã hội mới trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thường gắn liền với thái độ khẳng định tính chất nhân văn, khẳng định khả năng làm thay đổi số phận con người của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, tác giả đã đáp lại những lời trăn trở của cô gái giang hồ bằng thái độ đồng cảm cùng với lời an ủi, hứa hẹn sâu sắc về một xã hội mới nhân văn, đẹp đẽ: - Răng không, cô gái trên sông/ Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài/ Thơm như hương nhụy hoa lài/ Sạch như nước suối ban mai giữa rừng/ Ngày mai gió mới ngàn phương/ Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân/ Ngày mai trong giá trắng ngần/ Cô thôi sống kiếp đầy thân giang hồ/ Ngày mai bao lớp đời dơ/ Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay/ Cô ơi tháng rộng ngày dài/ Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng (Tiếng hát sông Hương). Xuất phát từ nguồn cảm hứng dạt dào như thế, đất nước và con người Việt Nam hiện lên trên các trang viết của văn học thời kì này đâu đâu cũng là những hình ảnh tươi đẹp vô ngần. Có thể thấy, trong cảm quan của các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa, Cách mạng tháng Tám đã mang lại sự đổi thay to lớn diện mạo của đất nước và dân tộc. Không gian lễ hội trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được tạo thành bởi sự góp mặt rất dày của những hình ảnh cờ, hoa, những gương mặt người rạng rỡ, nô nức nói cười... Trong diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, con người mới xuất hiện với tư thế người anh hùng mang vẻ đẹp lí tưởng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công, ý thức về chủ quyền lãnh thổ, về nền tự do - độc lập của con người Việt Nam mới đã thể hiện rõ ràng trong nhiều tác phẩm văn học, trong đó có Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa (Đất nước). Bên cạnh đó, tri thức về sự hình thành con người chủ nhân của thời đại mới còn biểu hiện phong phú và sống động trong nhiều sáng tác văn học khác như: Trên miền Bắc mùa xuân, Toàn thắng về ta (Tố Hữu), Ngọn quốc kì (Xuân Diệu), Mây bay (Sóng Hồng), Những người đi tới biển (Thanh Thảo)... Điều này đã được Nguyễn Khải nêu lên như một triết lí sống đầy tự hào của con người thời đại ông: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” [108, tr.36]. Đương thời, tác phẩm và nhà văn đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi, mà, nhận định sau của Báo Nhân dân số ra ngày 17-2-1960 là một trong số những ý kiến đánh giá tích cực đó: “Về nhân vật, một lớp thanh niên mới ở nông thôn thật sự đã lôi cuốn được chúng ta... Nhìn tổng thể, toàn bộ sáng tác văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cơ bản là sự hiện thực hóa của hai loại truyền thuyết, tương ứng với hai mảng tri thức lớn: một là truyền thuyết về sự cứu rỗi con người cá nhân và hai là, truyền thuyết về sự cứu rỗi dân tộc. Đây là một trong những nội dung quan trọng của diễn ngôn văn học cách mạng Việt Nam. Với Tố Hữu, “ta” và “địch” không bao giờ có thể sống chung dưới một bầu trời: Quyết phải sống trên đời làm chủ/ Không thể dung lũ thú hoành hành. Câu thơ miêu tả lãnh tụ Hồ Chí Minh trong mối tương quan với kẻ thù (mối tương quan giữa “ta” và “địch”) của Tố Hữu đã cho thấy rất rõ nội dung, tư tưởng này của diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: Người rực rỡ một mặt trời cách mạng/ Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng/ Đêm tàn bay chập choạng dưới chân người (Sáng tháng Năm). Quan sát bức tranh được thiết tạo trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa còn thấy sự hiện diện của một mô hình thế giới khác, tồn tại bên cạnh không gian mặt trận đó là không gian gia đình. Có thể nói, không riêng gì Tố Hữu mà nhiều nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã viết về Hồ Chí Minh trong vai Cha với một nguồn cảm hứng dạt dào và thành kính. Đến với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, thấy hiện lên những hình tượng bà mẹ Việt Nam mang đủ đầy các phẩm chất của đất nước và dân tộc như: vất vả, kiên trung, tảo tần, son sắt thủy chung... Bên cạnh đó, vai Chúng con của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng được thể hiện phong phú qua vô số nhân vật ở nhiều tác phẩm văn xuôi như Núp, Liêu (Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc), Khiêm (Trước giờ nổ súng - Lê Khâm), Chấm, Quyện (Cái sân gạch - Đào Vũ), Kinh, Lượng, Lữ... Có thể thấy, trong bức tranh thế giới của diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vai Chúng con tập hợp đông đảo nhất số lượng nhân vật thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng trung tâm được đề cập đến nhiều nhất trong diễn ngôn của bộ phận văn học này. Ngay từ năm 1930, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện sự quan tâm đối với nữ giới bằng việc công khai quan điểm “nam nữ bình quyền”, thừa nhận vai trò độc lập và bình đẳng của người phụ nữ trong cấu trúc xã hội. Tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng trong bài phát biểu tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III năm 1961 cũng khẳng định: “Sự nghiệp giải phóng phụ nữ triệt để và thật sự, việc thực hiện nam nữ bình đẳng trước pháp luật, cũng như trong đời sống, gắn liền với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương của các nhà lãnh đạo Đảng là thông qua cách mạng giải phóng dân tộc nhằm hướng tới giải phóng phụ nữ trên ba bình diện: chính trị, xã hội và văn hóa. Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa cộng sản, vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ ở Việt Nam cần phải đặt trong mối quan hệ với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Những điều trình bày ở trên cho thấy, tư tưởng hệ cộng sản rất đề cao vai trò của nữ giới trong cấu trúc xã hội, thậm chí là qua nhân tố nữ giới để đánh giá sự tiến bộ, văn minh của xã hội.