Luận văn:TÌM HIỂU CHÚ GIẢI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Thể loại: Khoa học xã hội
Lượt xem: 117,787Lượt tải: 6Số trang: 90

Mô tả tài liệu

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn:tìm hiểu chú giải văn học trung đại việt nam trong sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông', luận văn - báo cáo, khoa học xã hội phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Tóm tắt nội dung

TÌM HIỂU CHÚ GIẢI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TÌM HIỂU CHÚ GIẢI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TPVH : Tác phẩm văn học Chương 1: Những vấn đề chung về văn học trung đại liên quan đến việc nghiên cứu các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam………………..9 Những đặc điểm cơ bản của văn học viết trung đại Việt Nam………….12 Hai loại hình văn học cơ bản của văn học trung đại phương Đông ........ Chương 2: Nghiên cứu và hệ thống hoá các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT Thống kê và phân loại các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong Nghiên cứu các phần tiểu dẫn, chú giải và câu hỏi hướng dẫn học bài phần văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT……39 Chương 3: Tìm hiểu việc giảng dạy và tiếp thu các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn của giáo viên và học sinh ở nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (hay còn gọi là văn học trung đại) mang dấu ấn đậm nét của một thời một đi không trở lại và mang ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn học nước nhà. Việc dùng các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố là đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam. Các tác giả thời xưa ngay cả khi viết bằng chữ Nôm (một loại chữ của dân tộc) cũng sử dụng các từ ngữ cổ, các điển, tích Ở môn Ngữ văn trường THPT, tác phẩm văn học trung đại chiếm số Đó là: loại hình văn học chức năng và loại hình văn học nghệ thuật. nhận thấy phương thức biểu hiện trong văn học trung đại khác xa so với phương thức biểu hiện của văn học hiện đại. quan trọng để hiểu tác phẩm, bởi nó hướng đến đối tượng là giáo viên và điển cố rõ ràng, chính xác sẽ giúp giáo viên và học sinh nắm được tác Các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố được sử dụng trong bài văn, súc của ngôn ngữ văn học. nhận định: “Nếu điển cố Hán học không lạ với những người có học thời văn học trung đại Việt Nam được giới thiệu trong chương trình Ngữ văn ở trung học phổ thông thường kèm theo việc chú thích các từ ngữ Hán cổ, Khi trình độ tư tưởng chính trị và văn hóa của nhân dân ngày càng thơ văn Việt Nam thời trung đại. các tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại gửi gắm đến người đọc thì tích, điển cố - một đặc trưng nghệ thuật phổ biến của thơ văn thời kỳ này. dụng của nó trong việc dạy và học tác phẩm văn học Việt Nam thời trung trong văn học Việt Nam thời trung đại ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT, luận văn vừa có thể tìm hiểu sâu hơn nền văn học ở thời kỳ này, vừa có thể thấy được sự chi phối và ảnh hưởng của nó đối với văn học ở thời kỳ sau, đặng phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy phần văn học này ở bậc THPT. Xuất phát từ lý do, mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn, do như các tài liệu tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm thời kỳ trung đại và việc sử chúng tôi dựa vào một số tài liệu do các tác giả Việt Nam viết và chỉ tập trung vào một số công trình nghiên cứu về thơ văn chữ Hán và chữ Nôm cùng với các bộ sách Ngữ văn được dùng trong trường phổ thông như: sách định sự đóng góp của bộ phận văn học này cho nền văn học nước nhà. Như chúng ta đã biết văn học thời kỳ này thường sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm là một trong những đặc điểm chính của thơ văn Việt Nam Việc dùng các từ ngữ Hán Việt, các điển tích, điển cố trong tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được đông đảo giới nghiên cứu quan tâm tìm văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi thấy có một số tài liệu đáng chú ý Bộ sách này chỉ rõ văn minh của Trung Quốc dụng các từ ngữ cổ, các điển tích, điển cố trong tác phẩm là “lẽ tất nhiên” và là đặc trưng không thể thiếu của thơ văn giai đoạn này. chú thích nghĩa của các từ ngữ Hán cổ, các điển tích, điển cố…giúp người có các từ ngữ đáng chú ý: quốc, đế…đã không được sách chú thích cụ thể, quyết vấn đề chữ nghĩa trong việc học tập ngữ văn Hán – Nôm”, thứ chữ Nói về các chú giải còn có nhiều cuốn sách khác như Từ điển văn điển tích, điển cố thường gặp trong các tác phẩm văn học được học trong trưng, dẫn thơ văn để minh hoạ cho các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố tác phẩm văn học trung đại tiêu biểu để đưa vào chương trình học. thích ở sau mỗi tác phẩm, soạn giả chỉ mới để ý đến việc giải nghĩa các từ thể hiểu sâu sắc được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đối tượng: Các tác phẩm được trích giảng trong văn học trung đại Việt phẩm văn học trung đại Việt Nam ở SGK Ngữ văn THPT. - Giải mã lại một số từ Hán Việt, các điển tích, điển cố phần văn học trung - Chỉ ra vai trò của các chú giải trong việc tìm hiểu một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam ở SGK Ngữ văn THPT. - Nêu ra vài biện pháp về cách chú giải trong các tác phẩm văn học trung Văn, văn học chức năng, văn học nghệ thuật và những đặc điểm của văn Chương 1: Những vấn đề chung về văn học trung đại Việt Nam (23 Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam Những đặc điểm cơ bản của văn học viết trung đại Việt Nam Hai loại hình văn học cơ bản của văn học trung đại phương Đông Chương 2: Nghiên cứu và hệ thống hoá các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT (29 trang) Thống kê và phân loại các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong Nghiên cứu các phần tiểu dẫn, chú giải và câu hỏi hướng dẫn học bài phần văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT Về những chú thích phần văn học trung đại Việt Nam trong sách Về các câu hỏi hướng dẫn học bài và hướng dẫn đọc thêm Chương 3: Tìm hiểu việc giảng dạy và tiếp thu các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn của giáo viên và học VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM hệ thống hoá các chú giải văn học trung đại Việt Nam ở sách giáo khoa văn, khái niệm văn học chức năng và văn học nghệ thuật. tượng là một số nhà nghiên cứu và biên soạn sách giáo khoa đã xếp tác phẩm từ loại hình văn học này sang loại hình văn học khác (thí dụ: Coi đến hậu quả là các chú giải và câu hỏi hướng dẫn học bài không phù hợp với bản chất loại hình của tác phẩm văn học đó. thế sẽ dẫn đến một hậu quả tiếp theo là việc giảng dạy của thầy và tiếp nhìn khái quát về bước đi và diện mạo của văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi sẽ trình bày ngắn ngọn quá trình phát triển của văn học viết trung đại Việt Nam và những đặc điểm cơ bản của nó. Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Giai đoạn văn học này có những bước ngoặt lớn. học viết chính thức ra đời ở thế kỷ X ( bài thơ sớm nhất là bài Quốc tộ – Đỗ Pháp Thuận) và tiếp đến là xuất hiện của văn học chữ Nôm ở thế kỷ Những bước ngoặt này mở ra sự phát triển mạnh mẽ của văn học Văn học giai đoạn này có bước phát triển mới, trong đó nổi bật nhất là những thành tựu nghệ thuật của văn học chữ Nôm văn học Lý – Trần đã mờ dần từ thế kỷ XV, khi xuất hiện ngày càng nhiều tác Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh đất nước có nhiều Ở giai đoạn này, văn học phát triển vượt bậc, có nhiều đỉnh cao nghệ giai đoạn rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam vì nó vừa phong phú mà lần đầu tiên các thể loại văn học dân tộc ra đời như: Ngâm khúc; Văn học yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX phát triển rất phong phú và ngữ (theo mẫu tự La Tinh) bắt đầu xuất hiện, nhưng văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm vẫn là chính. Sáng tác văn học chủ yếu vẫn theo thể loại Những đặc điểm cơ bản của văn học viết trung đại Việt Nam. Về những đặc điểm của văn học viết trung đại Việt Nam, chúng tôi Quy luật phát triển của văn học trung đại Việt Nam và PGS – TS Nguyễn Đăng Na trong cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam là Tựu trung văn học trung đại Việt Nam có Văn học dân gian của các dân tộc bao giờ cũng là cơ sở cho văn học diệu ấy là bởi dân tộc ta có truyền thống văn hiến lâu đời mà văn học dân khi giành được độc lập, nền văn học trẻ Việt Nam mới ra đời đã hướng Có thể nói văn học dân cho văn học viết trung đại Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ hình thành và Chỉ cần đọc một số tác phẩm tiêu biểu của văn học trung Tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa văn hoá và văn học sáng tác văn học. dùng để sáng tác văn học và cũng từ đó văn học trung đại Việt Nam song song tồn tại hai mảng sáng tác bằng hai loại ngôn ngữ văn tự, đó là: chữ văn học chữ Nôm lại đóng vai trò chủ đạo, nhất là trong sáng tác thi ca, còn thay thế loại văn tự Hán và Nôm trong giao tiếp xã hội và trong sáng tác Từ đây nền văn dân tộc có thêm mảng văn học sáng tác bằng chữ Cùng với việc tiếp thu và sáng tạo ngôn ngữ văn tự là việc tiếp thu và sáng tạo các giá trị văn học từ nội dung cho đến hình thức nghệ thuật. và thi liệu văn học nước ngoài, nhất là của Trung Hoa trên tinh thần sáng ta tiếp thu hầu hết các thể văn và thể loại văn học Trung Hoa như văn học chức năng hành chính có các thể: Chiếu, cáo, hịch, tấu…; văn học chức số thể văn và thể loại văn học Trung Hoa như là thể phú, thể thơ Đường hưởng những kinh nghiệm nghệ thuật từ truyền thống văn học dân tộc và do tiếp thu một cách có chọn lọc, sáng tạo tinh hoa văn học nước ngoài, nền văn học trung đại Việt Nam đã sản sinh ra cùng một lúc ba thể loại văn Đây là thời điểm đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn học trung đại Việt Nam, bởi vì theo M.Bakhtin – nhà khoa học nhân văn lỗi lạc người mới là nhân vật số một của tấn kịch lịch sử văn học” [3, 7]. Cùng với việc tiếp nhận văn học Trung Hoa, người Việt còn tiếp thu từ nền văn học Ấn Độ, đặc biệt là hệ tư tưởng Phật giáo và các loại hình cái đẹp của các nền văn hoá và văn học khác như Lào, Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc… để làm giầu cho kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam. Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nền văn học trung đại Việt Nam đã văn học trung đại. Văn học Lý – Trần với những Việt điện u linh của Lý Thế Xuyên, Giặc Minh đến xâm lược thì có văn học Lam Sơn và khép lại bằng Văn học trung đại Việt Nam không chỉ quan tâm đến những vấn đề hạnh phúc mà tác phẩm này nhen lên đã được các văn nghệ sĩ thế kỷ XVIII văn học trung đại Việt Nam. Văn học trung đại Việt Nam là đứa con sinh ra từ lòng mẹ dân tộc. Giống như văn học trung đại của nhiều nước khác trên thế giới, mười thế kỷ phát triển của văn học trung đại Việt Nam đều chịu sự tác động của cũng thường vay mượn các đề tài có sẵn trong văn học dân gian hoặc trong văn học viết quá khứ, tái tạo lại thành tác phẩm mới để phán ánh thời đại thi liệu, văn liệu cổ, điển tích xưa thì hầu như là việc làm phổ biến của pháp đặc trưng của văn học trung đại. trong văn chương trung đại Việt Nam, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Lại nữa, thể văn và thể loại văn học trung đại có những quy định rất những công thức có sẵn, nhưng văn học trung đại không hề khô cứng và Bởi vì các tác gia văn học trung đại Việt Nam trên con đường rộng và những thể loại văn học dân tộc lớn như: Ngâm khúc, truyện Nôm, Thơ ca và văn xuôi tiến dần đến bến bờ của văn học hiện đại. Tựu trung trong suốt mười thế kỷ tồn tại và phát triển, văn học trung Để hoàn thành mục tiêu đó văn học trung đại Việt Nam, một mặt đã dựa tinh hoa của văn học nước ngoài trên tinh thần sáng tạo để làm giàu cho Văn học trung đại Việt Nam cũng luôn luôn Đầu thế kỷ XX, văn học trung đại đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình để nhường bước cho văn học Việt Nam cận Hai loại hình văn học cơ bản của văn học trung đại phương Đông. Người phương Đông thời cổ - trung đại hiểu văn theo một nội hàm Điều này góp phần tạo nên nét đặc trưng của văn học trung đại năng ngoài văn học mà người ta gọi tắt là văn học chức năng, có cả thứ văn học hình tượng mà người ta gọi là văn học nghệ thuật. triển của lịch sử văn học dân tộc, loại hình văn học chức năng ngày càng thu hẹp và mất dần vị trí, nhường chỗ cho văn học nghệ thuật. Văn học chức năng là loại hình văn học sáng tác ra nhằm phục vụ Đây là loại hình văn học mang chức năng ngoài văn học. Thứ hai: Văn học chức năng viết theo những địa chỉ nhất định cho Thứ ba: Tác giả của các tác phẩm văn học chức năng phải gắn liền với thượng…Do đó văn học chức năng đều gắn liền với những thể loại nhất định. hành chính và văn học chức năng lễ nghi. Văn học chức năng hành chính là văn học có chức năng thực thi các dung ghi trên bì thư… cũng đều là văn bản tác phẩm văn học chức năng văn học cơ bản của văn học chức năng hành chính như chiếu, cáo, hịch, sớ, Là một thể loại văn kiện hành chính, quan phương mà tác giả của nó thường là những người có địa vị cao nhất trong Với tư cách là những văn kiện chính trị, chiếu trước hết là thể văn Cáo là thể văn hoàng đế dùng để ban bố cho thần dân nhằm trình Hịch tuy cũng là một thể loại văn nghị luận, đòi hỏi có lí lẽ, có dẫn chứng thuyết phục, nhưng đặc điểm của nó là thể loại văn kích động tình Sớ là thể loại văn trình bày sự việc với thiên tử, thuộc loại tấu thư. Tự, bạt: Đây là thể văn viết đặt ở đầu (tự tiếng Việt dịch là tựa) hoặc cuối (bạt) các tác phẩm thơ, văn nhằm để thuyết minh việc trước Tự, bạt - Thể loại tự sự Việt Nam ra đời cùng với các tác phẩm Đó là những văn bản có giá trị về quan niệm tư tưởng và học Từ các khái niệm trên, ta có thể đi sâu tìm hiểu các văn bản, cũng hiểu các chú giải ở các tác phẩm thuộc văn học chức năng hành chính như: (phần văn học trung đại Việt Nam). Văn học chức năng lễ nghi có chức năng thực thi các nghi lễ mang Những tác phẩm thuộc loại này là: văn tế, Trong thư tịch cổ Trung Hoa, văn tế xuất hiện khá sớm và có sự Về sau văn tế là bài văn dùng để tế người chết. Ở Việt Nam, văn tế là một thể loại tổng hợp bày tỏ niềm tiếc Nội dung của một bài văn tế thường xoay quanh hai ý chính: Kể về thành một thể loại văn học quan trọng. trở thành một thể loại văn học có vị trí quan trọng trong nền học với nhiều tác Văn tế là thể văn thể hiện bi kịch của kiếp người. Kệ là một thể loại đặc biệt của văn học chức năng lễ nghi tôn giáo, Như trên đã nói, các tác phẩm văn học chức năng (hành chính và lễ nữa, tính công thức của thể loại quy định nghiêm nhặt văn học chức năng ở Về cơ bản, cấu trúc thể loại của văn học chức năng không có Văn học nghệ thuật là tác phẩm nhằm mục đích thoả mãn nhận là thuộc tính cơ bản của tác phẩm văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật có những nét đặc trưng sau: Thứ hai: Văn học nghệ thuật là loại hình văn học viết cho tất cả là người đó có năng lực văn chương và cảm hứng sáng tạo. Văn học nghệ thuật bao gồm một số thể văn và thể loại văn học Kí là một loại hình văn học bên cạnh thơ, tiểu thuyết và kịch, gồm Cốt truyện được thể hiện qua giọng kể của tác giả và truyện và ký hết sức phức tạp trong văn học trung đại. người trong cuộc thì đấy là ký" (Con đường giải mã văn học trung đại Việt phú của Trương Hán Siêu được trích giảng ở sách giáo khoa Ngữ văn trích giảng ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT) thuộc một trong những thể tài sách giáo khoa Ngữ văn THPT là một ví dụ: vì câu 1 và câu 8 thất niêm). phát triển của văn học trung đại Việt Nam. Tuy mô phỏng thơ Đường khúc là tác phẩm mở đầu cho thể loại văn học này, xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVIII (có được trích giảng một phần tác phẩm trong sách giáo khoa ngữ văn THPT), và đạt đến đỉnh cao về mặt nghệ thuật ngôn từ là tác Nó ra đời vào cuối thế kỷ XVI và được sáng tác bằng thể thơ Đường gọi là Đến thế kỷ XVIII truyện Nôm được định hình thành một thể loại văn học ngất ngưởng được trích giảng ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT là một Hai loại hình văn học chức năng và văn học nghệ thuật cùng tồn tại trong văn học trung đại phương Đông là một quy luật có thật nhưng việc phân định chúng qua các hiện tượng văn học là việc làm đòi hỏi sự thận Bởi vì thực tế các tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng và văn học nghệ thuật thuần tuý không nhiều. vừa có tính văn học chức năng vừa có tính văn học nghệ thuật là khá phổ biến; đây là những tác phẩm văn học nằm trong giai đoạn giao thoa (tương đối dài trong quá trình phát triển của văn học trung đại phương Đông). Theo lẽ đó việc phân chia các tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng hay văn học nghệ thuật thuộc văn học trung đại Việt Nam trong Văn học trung đại Việt Nam qua 10 thế kỷ tồn tại đã trải qua nhiều ngoài những nét riêng đó văn học trung đại Việt Nam vẫn nằm trong quỹ đạo của văn học phương Đông nên nó vẫn mang một số những nét chung của văn học trung đại phương Đông. Đó là hiện tượng văn học mang tính (mà ta gọi tắt là văn học chức năng); cả loại hình văn học nghệ thuật đích Mỗi loại hình văn học lại bao gồm một số thể văn và thể loại văn học. khúc, truyện Nôm… Quy luật phát triển của hai loại hình văn học này, của văn học chức năng, văn học nghệ thuật tạo ra giai đoạn giao thoa giữa nó và văn học chức năng. thoa này là các tác phẩm văn học lưỡng tính: chúng vừa có chức năng văn cần phải hiểu được những đặc điểm trên của văn học trung đại phương đích thực của mỗi hiện tượng văn học và công việc họ làm mới đạt hiệu CÁC CHÚ GIẢI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Thống kê và phân loại các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam Thống kê các tác phẩm văn học trung đại Viêt Nam trong sách Phân loại loại hình các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT và số lượng các chú giải, câu hỏi hướng dẫn học bài trong từng tác phẩm được trích giảng. Các tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng. * Tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng hành chính. Tác phẩm có 20 âm tiết, trong đó có 3 chú giải và 4 câu hỏi hướng dẫn Tác phẩm có 1304 âm tiết, trong đó có 44 chú giải và 6 câu hỏi Tác phẩm có 682 âm tiết, trong đó có 9 chú giải và 4 câu hỏi hướng Tác phẩm có 429 âm tiết, trong đó có 14 chú giải và 4 câu hỏi hướng Tác phẩm có 1176 âm tiết, trong đó có 11 chú giải và 5 câu hỏi Tác phẩm có 463 âm tiết, trong đó có 9 chú giải và 4 câu hỏi hướng Tác phẩm có 549 âm tiết, trong đó có 16 chú giải và 5 câu hỏi hướng Tác phẩm có 637 âm tiết, trong đó có 16 chú giải và 5 câu hỏi hướng * Tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng lễ nghi. Tác phẩm có 34 âm tiết và 4 câu hỏi hướng dẫn học bài. Tác phẩm có 705 âm tiết, trong đó có 58 chú giải và 4 câu hỏi hướng Các tác phẩm thuộc loại hình văn học nghệ thuật. Tác phẩm có 1859 âm tiết, trong đó có 20 chú giải và 4 câu hỏi Tác phẩm có 1980 âm tiết, trong đó có 21 chú giải và 4 câu hỏi Tác phẩm có 28 âm tiết, trong đó có 3 chú giải và 5 câu hỏi hướng dẫn Tác phẩm có 54 âm tiết, trong đó có 8 chú giải và 5 câu hỏi hướng dẫn Tác phẩm có 56 âm tiết, trong đó có 4 chú giải và 3 câu hỏi hướng dẫn Tác phẩm có 56 âm tiết, trong đó có 4 chú giải và 4 câu hỏi hướng dẫn Đoạn trích học gồm 168 âm tiết, trong đó có 12 chú giải và 5 câu hỏi Tác phẩm có 56 âm tiết, trong đó có 3 chú giải và 2 câu hỏi hướng dẫn Bài thơ có 56 âm tiết và 5 câu hỏi hướng dẫn học bài. Tác phẩm có 56 âm tiết, trong đó có 5 chú giải và 4 câu hỏi hướng dẫn Bài thơ có 266 âm tiết, trong đó có 9 chú giải và 3 câu hỏi hướng dẫn Bài thơ có 56 âm tiết, có 6 chú giải và 4 câu hỏi hướng dẫn học bài. Tác phẩm có 141 âm tiết, trong đó có 14 chú giải và 4 câu hỏi hướng Tác phẩm có 101âm tiết, trong đó có 4 chú giải và 4 câu hỏi hướng Bài thơ có 56 âm tiết, trong đó có 7 chú giải và 3 câu hỏi hướng dẫn Tác phẩm có 137 âm tiết, trong đó có 13 chú giải và 3 câu hỏi hướng Tác phẩm có 473 âm tiết, trong đó có 33 chú giải và 6 câu hỏi hướng Nghiên cứu các phần tiểu dẫn, chú giải và câu hỏi hướng dẫn học bài phần văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn văn học của tác giả (trừ những tác giả lớn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, bày khái quát hoàn cảnh ra đời hoặc xuất xứ của tác phẩm, đoạn trích và tiểu dẫn như thế dành cho một tác phẩm văn học hiện đại có thể xem là đủ ý. Nhưng để dành cho một tác phẩm văn học trung đại thì có lẽ vẫn cần văn học trung đại thực chất là nghiên cứu đặc trưng thể loại và phải xuất Nắm được đặc trưng thể loại của tác phẩm, ta có thể hiểu được ý đồ nghệ thuật của nhà văn và bút pháp của anh ta, tạo điều Đáng tiếc vấn đề này trong các phần tiểu dẫn về văn học trung đại Việt Nam chưa được chú ý đúng mức. Một là: Tiểu dẫn không hề giải thích tiêu đề thể loại của tác phẩm, - Về tác phẩm Quốc tộ: trong phần tiểu dẫn có viết “ Tác phẩm của bài thơ như trong sách Thơ văn Lý - Trần là “ Đáp quốc vương quốc tộ chi hiểu: đó là bài thơ thuộc loại hình văn học nghệ thuật. loại hình văn học của tác phẩm sẽ dẫn đến cách hướng dẫn khai thác tác Sách Văn học 10 (tập 1), Nxb GD, H.1999 cũng viết là: “Tân thanh là một thể thơ sáng tác theo phương châm của Tân nhạc phủ Thứ nhất, Nguyễn Du khẳng định tác phẩm của mình là thơ (Tân thanh được ông dùng với nghĩa là thơ ca) chứ không phải văn xuôi như đổi không chỉ về mặt hình thức mà còn là chủ đề của truyện so với nguyên Du mà còn là lời khẳng định bản quyền tác phẩm của ông, của dân tộc Việt Hai là: Giải thích nhan đề chung chung ở cấp độ thể văn mà chưa - Về Bình Ngô đại cáo: Đây là tác phẩm thuộc loại hình văn học đã thể hiện rất sâu sắc cảm xúc của một người nghệ sĩ, tức là đã để cả “tâm hiện ngay ở nhan đề mang đặc trưng thể loại của tác phẩm “Bình Ngô đại nhưng vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây là nghĩa của “đại cáo” và vì sao Thành Vương và Chu Công – tự là Đán (một nhà văn hoá nổi tiếng, một lại độc lập và lập ra triều Minh đã cho ban bố một văn kiện pháp luật vĩ đại nghĩa nhan đề Bình Ngô đại cáo là nắm được tư tưởng cốt lõi của tác trên, mục tiểu dẫn Truyền kỳ mạn lục trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập căn cứ vào đâu để khẳng định “ tác phẩm thực sự là sáng tác văn học” [26, 55] mang đậm cá tính sáng tạo của tác giả và vì sao nó được ca ngợi là áng thì là một thể tài của truyện ngắn trung đại. văn học trung đại Việt Nam). Việt điện u linh hay Lĩnh Nam chích quái mà là một sáng tác văn học. trị như 20 truyện ngắn hiện đại” là một sự khẳng định giá trị sáng tạo văn Thể loại là một phạm trù đặc biệt quan trọng của văn học trung đại Việt Nam. Nhà văn chọn một thể loại nào đó để sáng tác là xuất phát từ ý một tác phẩm văn học trung đại, đặc trưng thể loại của nó đa phần được Vì vậy nghiên cứu một tác phẩm văn học không chú ý đúng mức điều này sẽ dẫn đến sự nhận thức tác phẩm, hoặc là Về những chú thích phần văn học trung đại Việt Nam trong sách Qua khảo sát các tác phẩm, đoạn trích thuộc văn học trung đại Việt Sách Ngữ văn11 (tập1) trang 61, chú thích chữ “phong hạc” là “Lấy các tác phẩm văn học trung đại chẳng những cung cấp cho giáo viên và học tạo linh hoạt của nhà văn khi sử dụng những điển đó. trong một từ trạch nêu trên không chỉ có một nghĩa chỉ vật chất là đầm hồ, tác phẩm có chứa đựng một từ Hán Việt nào đó mà chọn lựa nghĩa cho Việt, để từ đó hiểu văn đối với học sinh THPT ngày nay là vấn đề vô cùng Hiểu được điều này, soạn giả sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11 – các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được tuyển dạy. hợp lý (sách Thơ văn Lý – Trần dịch là ngôi nước). Bởi lẽ một mặt, Pháp Thuận là nhà sư mà quan điểm sống của Phật giáo và Bản dịch của sách Ngữ văn 10 (tập 1) đang dùng ghi là của Đoàn Thắng (trong sách Thơ văn Lý – Trần tập 1) nhưng thực tế thì bản dịch của Tựu trung có thể tóm lược đại ý của bài thơ Trả lời nhà vua hỏi về văn của người Việt. nhoi trong việc tìm hiểu chữ nghĩa của văn chương trung đại – một việc mà Một nhận xét chung là hầu hết những từ cổ, từ khó và những ý thơ khó hiểu đều được các soạn giả sách Ngữ văn 10, 11 chú thích đầy đủ về số trong bài Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du (sách Ngữ văn 10 – tập 1, là người đời (không được nói đến trong câu thơ) thương tiếc người đẹp Vậy là chủ ngữ của câu thơ phải được hiểu là Tiểu phong” trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ (sách Ngữ văn 11 nhiều chữ nghĩa và giỏi văn chương), chúng tôi mạnh dạn trình bày những Không ít những câu thơ của văn học trung đại trở thành những lời tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng thuần túy như Quốc tộ của Đỗ Một là bài Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận thuộc loại hình văn học chức Câu hai của Phần hướng dẫn đọc thêm bài này có nội dung như sau: Câu thơ khẳng định vận may của đất nước (chữ Tộ trong Hán tự có nghĩa Về nội hàm nghĩa của hai câu thơ này và của toàn bài thơ, chúng tôi không phải là một bài thơ trữ tình thuộc loại hình văn học nghệ thuật. Câu hai trong Phần hướng dẫn đọc thêm ở sách Ngữ văn 10, tập 1, những câu hướng dẫn đại loại như trên nên dành cho một bài thơ trữ tình sư viết bài Kệ này vừa là để truyền lại những điều cốt yếu của đạo Phật – đạo Sắc – Không và lẽ Sinh - Diệt của con người và muôn vật vừa là để an từ góc độ loại hình văn học, đặc biệt là các tác phẩm thuộc loại hình văn hoặc đọc thêm thuộc phần văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy tập thế soạn giả sách Ngữ văn các lớp 10, 11 đã làm rất tốt công việc THPT từng trực tiếp giảng dạy phần văn học này qua nhiều năm, chúng tôi Tiểu dẫn chưa quan tâm đến vấn đề thể loại của tác phẩm, một số chú thích dẫn học bài hoặc đọc thêm chưa tương thích với đặc tính loại hình của tác phẩm; tất cả chỉ nhằm một mục đích duy nhất là làm sao có được bộ sách Ngữ văn (mà trong đó đặc biệt là phần Văn học trung đại) thật sự hoàn thiện, tạo điều kiện cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh tốt hơn nữa về phần văn học này. VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT. tiếp thu các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ * Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 – chương trình chuẩn (tập1 và 2 – phần văn học trung đại Việt Nam), Nxb GD, H.2006. * Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 – chương trình chuẩn (tập 1 và 2 – phần văn học trung đại Việt Nam), Nxb GD, H.2006. văn học trung đại Việt Nam), Nxb GD, H.2007. văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 và 11 ở tiếp giảng dạy phần văn học trung đại Việt Nam lớp 10 và lớp 11 ở hai 1. Trong quá trình dạy các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có đến việc cắt nghĩa và giải thích các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố một 2. Thầy (cô) giáo có nhận xét gì về việc tiếp thu các chú giải của học 3. Thầy (cô) giáo có nhận xét gì về các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT? trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm đó? 2. Ngoài việc tiếp thu phần chú thích sau mỗi tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được học, anh (chị) còn tự tìm hiểu các chú giải không, khi đọc một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam? chương trình văn học được giảng dạy ở lớp 10 và lớp 11 – THPT, chủ yếu tập trung vào phần văn học trung đại Việt Nam. Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, lớp 11 – THPT (phần văn học * Về văn bản: Qua hai bộ sách trên, những người biên soạn đã rất công học, từ việc phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ cho đến việc chú thích các từ đủ, cụ thể, rõ ràng các chú thích sau mỗi tác phẩm được trích học. * Về hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài: sau mỗi tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được trích học, người biên soạn đã cố gắng đưa ra được những câu hỏi hướng dẫn học bài sát với nội dung của văn bản, để từ đó học sinh có hướng khai thác và chiếm lĩnh tốt tác phẩm về mặt nội dung Tuy nhiên, ở một số tác phẩm được trích học, phần câu hỏi hướng hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm vì soạn giả còn nhầm lẫn thích, các câu hỏi hướng dẫn học bài đều đã phản ánh được những nét người dạy cũng như người học tiếp nhận tác phẩm một cách đúng hướng. Tuy nhiên, ở một số tác phẩm còn có những hạn chế như việc chú quả tiếp theo là các câu hỏi hướng dẫn học bài chưa chính xác, khiến cho kí – Nguyễn Du…); hay như ở một số tác phẩm người biên soạn đã không chú thích rõ, hoặc bỏ qua một phần nhan đề của tác phẩm, điều này đã ảnh quan điểm: khi tiến hành dạy một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, các chú thích của tác phẩm đó. Giải đáp câu hỏi của chúng tôi: Vì sao các chú giải có tác dụng gợi rõ ràng, cụ thể ở dưới từng tác phẩm được học, được các em học sinh tự cho từng tác phẩm rất ít (chỉ từ 1 đến 2 tiết), trong đó các tác phẩm văn học trung đại lại có số lượng các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố rất nhiều (ví dụ: Bài Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi có 44 chú giải; Bài Văn tế một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam là giúp học sinh hiểu, nắm được động tìm tòi, sáng tạo trong giờ học là vấn đề đúng và rất cần thiết. xét gì về việc tiếp thu các chú giải của học sinh ở lớp mình dạy sau khi học xong một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam? tôi nhận thấy, phần lớn giáo viên đều cho rằng: trong khi học một tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, chỉ có một số ít học sinh là quan tâm đến các từ Hán Việt, các điển tích điển cố đã được chú thích, và vận dụng nó vào lời giảng của thầy (cô) giáo, mà không để ý đến phần chú thích đã đưa ra ở các chú thích đã đưa ra là rất nhiều, điều đó dẫn đến sự cảm thụ tác phẩm Ở câu hỏi thứ ba: Thầy (cô) có nhận xét gì về các chú giải văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT? khoa Ngữ văn THPT được coi là văn bản chính, chuẩn mực đối với mỗi phẩm được trích giảng cho người học (đọc) ở sách giáo khoa Ngữ văn Phần chú thích ở sau mỗi tác phẩm văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT có tác dụng đáng kể đối với học sinh và giáo viên trong quá trình học tập và giảng dạy. Việc sử dụng các điển tích điển cố là đặc trưng nghệ thuật của văn học vậy đối với các tác phẩm văn học trung đại, việc chú thích ở sách giáo khoa Ngữ văn được rõ ràng, chính xác và sát hợp với văn cảnh thì sẽ góp chính là chìa khóa để người đọc hiểu được ý đồ nghệ thuật của tác giả và nghĩa của các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố trong từng văn cảnh cụ vào chú thích ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT thì chưa đủ để hiểu được Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, nếu chỉ dựa vào chú thích ở sách giáo khoa tích điển cố trong nền văn học của dân tộc…” Thứ nhất, các thầy (cô) giáo khi giảng một tác phẩm văn học trung bản trong sách giáo khoa tới học sinh mà ít chú ý tới việc cắt nghĩa, giải rằng: phần chú thích ở sau mỗi tác phẩm đã đủ và đảm bảo được lượng sau mỗi tác phẩm văn học trung đại trong sách giáo khoa với các cuốn sách sung cho giờ giảng của mình về một tác phẩm văn học trung đại. một số giáo viên cũng bày tỏ quan điểm của mình về các chú thích văn học trung đại Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT. nghệ thuật của tác phẩm; song ở một số tác phẩm, các chú thích còn chung cho việc tiếp cận tác phẩm của giáo viên và học sinh còn gặp nhiều khó tôi thấy việc các nhà làm sách giáo khoa Ngữ văn THPT đã dụng công biên Trả lời câu hỏi của chúng tôi, em Ngô Văn Tình – học sinh lớp rất nhiều cho học sinh ở khâu chuẩn bị bài ở nhà cũng như hiểu sâu sắc tác đó dẫn đến việc hỏi nội dung của tác phẩm còn mơ hồ, không toàn diện. phần chú thích sau mỗi tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được học, anh (chị) còn tự tìm hiểu các chú giải không, khi đọc một tác phẩm văn học thấy chỉ một số ít học sinh là có ý thức tự tìm hiểu các từ ngữ khó, các điển tích điển cố ở tác phẩm văn học trung đại Việt Nam ngoài chương trình. chú thích trong tác phẩm văn học trung đại Việt Nam là từ Hán Việt, là các phẩm văn học trung đại Việt Nam chính khóa đã chiếm phần lớn thời gian học tập của mỗi học sinh, do đó học sinh ít để ý đến bài đọc thêm, các tác Bảng 2: Khả năng tự tìm hiểu các chú giải của học sinh Do chương trình và số tiết học quy định, giáo viên không thể có đủ thời gian để đi sâu và cắt nghĩa, giải thích các từ Hán Việt, các điển tích, giáo viên cần kết hợp với sự chuẩn bị bài của học sinh ở nhà và căn cứ vào và kinh nghiệm của bản thân còn có hạn chế, luận văn không có tham vọng thay thế phần chú giải văn học trung đại Việt Nam ở sách giáo khoa Ngữ việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại Việt Nam của giáo viên và học sinh trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT, chú thích, câu hỏi hướng dẫn học bài (dù có phải nới dài một số trang của sách) để cả giáo viên và học sinh có được một tư liệu học tập, tham khảo tốt hơn để phục vụ tốt hơn việc dạy và học phần văn học trung đại Việt như: tọa đàm văn học ở lớp, nói chuyện ngoại khóa ở lớp về các điển tích, Nghiên cứu tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam và câu hỏi HDHB, hướng dẫn đọc thêm trong sách Ngữ văn THPT chúng tôi 1. Văn học trung đại Việt Nam qua 10 thế kỷ tồn tại đã trải qua nhiều ngoài những nét riêng đó, văn học trung đại Việt Nam vẫn nằm trong quỹ đạo của văn học trung đại phương Đông nên nó vẫn mang một số nét chung của văn học trung đại phương Đông. Đó là hiện tượng văn học mang học (mà ta gọi tắt là văn học chức năng) và cả loại văn học hình tượng (vẫn thường được gọi là văn học phi chức năng hay văn học nghệ thuật). loại hình văn học nhằm vào một mục đích riêng và có những nét khu biệt và bao gồm một số thể văn và thể loại văn học nhất định. chức năng thì có Chiếu, Cáo, Hịch…(văn học chức năng hành chính); Văn tế, Kệ…(văn học chức năng lễ nghi); văn học nghệ thuật thì có Thơ ca, từ thơ ca trù – hát nói…Quy luật phát triển của hai loại hình văn học này là Trong quá trình thay thế vị trí của văn học chức năng, văn học nghệ thuật tạo ra giai đoạn giao thoa giữa nó và văn đa phần là các tác phẩm văn học lưỡng tính: chúng vừa có chức năng văn văn học trung đại cần phải nắm vững những đặc điểm của nó mới có thể tiếp cận được giá trị đích thực của mỗi hiện tượng văn học và việc giảng dẫn đọc thêm trong các tác phẩm văn học trung đại ở sách Ngữ văn THPT, Câu hỏi HDHB thì sát với đặc trưng nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. giảng dạy phần văn học này qua nhiều năm, chúng tôi thấy vẫn còn đôi tâm đúng mức đến vấn đề thể loại của tác phẩm (mà ai cũng hiểu là vấn đề thể loại đối với một tác phẩm văn học trung đại quan trọng như thế nào); Thứ hai là, ở một số Chú thích (nhất là các điển) còn chưa đủ nội dung và chưa tương thích với đặc trưng thể loại của tác phẩm (đặc biệt là đối với những tác phẩm thuộc loại hình văn học chức năng thuần túy). viên văn học được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. trường trên) – những người trực tiếp dạy và học phần văn học trung đại Ý kiến của học sinh: Trừ một số ít em say mê văn chương còn đa số ngại học, ngại đọc văn đặc biệt là văn chương trung đại. phần văn học trung đại Việt Nam, qua kinh nghiệm thực tế giảng dạy phần văn học này và qua tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, học sinh, chúng tôi Một là: Đối với các tác phẩm văn học trung đại, soạn giả SGK cần Đó là cách tốt nhất giúp cho cả giáo viên và học giáo viên, rất cần thiết có những chuyên đề riêng về văn học trung đại (đặc biệt chú trọng vào các tác phẩm được tuyển giảng) và về phương pháp của người viết luận văn còn hết sức nông cạn và luận văn lại được viết Tác giả rất mong được sự chỉ giáo của các thầy và tất cả 2. Lại Nguyên Ân (chủ biên): Từ điển văn học Việt Nam, Nxb GD. Văn học và tuổi trẻ, Tập 76 - 2002. 9. Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên: Từ ngữ điển cố văn học, hiện phong phú về vốn từ vựng của Nguyễn Du. Tạp chí văn học, số1-1996 Văn học và tuồi trẻ, Tập 39 - 1999. Văn học và tuổi Đinh Gia Khánh (chủ biên): Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa Nguyễn Đăng Na: Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nguyễn Đăng Na (chủ biên): Giáo trình văn học trung đại Việt Văn học và tuổi trẻ, Tập 165 - 1999. Nhiều tác giả: Ngữ văn 10 - những vấn đề thể loại và lịch sử. Văn học và tuổi trẻ, Tập 39 - 1999. Nguyễn Ngọc San (chủ biên): Từ điển điển cố văn học trong nhà Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Văn học và tuổi trẻ, Văn học và tuổi trẻ, Tập 56 Bùi Duy Tân: Theo dòng khảo luận văn học trung đại Việt Nam. Văn học và tuổi trẻ, Tập 7 - 1995. Lê Trí Viễn (chủ biên): Từ điển văn học Việt Nam, Nxb GD, Viện Văn học: Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb KHXH,