Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng: Chất lượng cuộc sống và hiệu quả giải pháp quản lý, chăm sóc người bệnh đái tháo đường Type 2 tại nhà, tỉnh Thái Bình

Lượt xem: 107,741Lượt tải: 8Số trang: 150

Mô tả tài liệu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Mô tả thực trạng kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Thái Bình năm 2013, đánh giá chất lượng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Thái Bình năm 2013. 3, đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại nhà tại tỉnh Thái Bình từ năm 2013-2014. Mời các bạn cùng tham khảo.

Tóm tắt nội dung

Kiến thức về bệnh ĐTĐ và một số yếu tố liên quan ........................................ Kiến thức của ngƣời bệnh và một số yếu tố liên quan ................................... Kiến thức của ngƣời bệnh và một số yếu tố liên quan. 1. Kiến thức về ĐTĐ và một số yếu tố liên quan. Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ ăn với địa bàn và giới tính của Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ ăn với kiểm soát glucose và HbA1c của ngƣời bệnh ............................................................................................. Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ tập luyện với địa bàn và giới tính của ngƣời bệnh .......................................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ tập luyện với kiểm soát glucose và HbA1c của ngƣời bệnh ......................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ dùng thuốc với địa bàn và giới tính của ngƣời bệnh ................................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ dùng thuốc với kiểm soát glucose và HbA1c của ngƣời bệnh ......................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ chăm sóc với địa bàn và giới tính của ngƣời bệnh ................................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ chăm sóc với kiểm soát glucose và HbA1c của ngƣời bệnh ......................................................................................... Mối liên quan giữa kiến thức chung với địa bàn và giới tính của ngƣời Một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung của ngƣời bệnh qua phân Mối liên quan giữa kiến thức với trình độ văn hóa của ngƣời bệnh qua Mối liên quan giữa kiến thức với thời gian điều trị của ngƣời bệnh qua Mối liên quan giữa kiến thức với tuổi của ngƣời bệnh qua phân tích hồi Liên quan giữa sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần với kiến thức của Liên quan giữa chất lƣợng cuộc sống với biến chứng của ngƣời bệnh Thay đổi kiến thức về chế độ ăn của đối tƣợng nghiên cứu trƣớc và sau Thay đổi về kiến thức của đối tƣợng nghiên cứu trƣớc và sau can thiệp. Thay đổi về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh trƣớc và sau can thiệp thƣơng về thận và đƣợc biết nhiều nhất là các biến chứng thần kinh do bệnh sống làm việc và sinh hoạt của ngƣời bệnh [25]. và làm gia tăng gánh nặng về kinh tế cho hệ thống y tế và gia đình ngƣời bệnh Tỷ lệ ngƣời mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam đang tăng nhanh. tế, số lƣợng ngƣời mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 170% trong 10 năm tới. ngƣời bệnh ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán và điều trị kịp thời, có 95% ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán muộn và có các biến chứng của bệnh [30]. Quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ tại nhà đóng vai trò hết sức quan trọng trong điều trị bệnh và làm tăng chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. điều trị, giảm chất lƣợng cuộc sống, tăng gánh nặng bệnh tật cho ngƣời bệnh quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh tại nhà cho ngƣời bệnh ĐTĐ, trong đó nguyên nghiên cứu về chất lƣợng cuộc sống và hiệu quả quản lý, chăm sóc ngƣời cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ tại tỉnh Thái Bình và đánh giá hiệu quả tự 1. Mô tả thực trạng kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một số 2. Đánh giá chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và một 3. Đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp quản lý, chăm sóc ngƣời bệnh Nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh, đƣa ngƣời bệnh trở lại gánh nặng về kinh tế cho hệ thống y tế và gia đình ngƣời bệnh. Tại Trung Quốc, năm 2010, tỷ lệ mắc ĐTĐ (bao gồm cả ngƣời bệnh đã Tỷ lệ ngƣời mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam đang tăng nhanh. tế, số lƣợng ngƣời mắc bệnh ĐTĐ tăng lên 170% trong 10 năm tới. ngƣời bệnh ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán và điều trị kịp thời, có 95% ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán muộn và có các biến chứng của bệnh [25]. 12,9%, tỷ lệ mắc cao ở nhóm ngƣời bệnh trên 55 tuổi, vòng bụng và tăng nội trú tại bệnh viện 198- Bộ Công An cho thấy tỷ lệ ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 Kiến thức về bệnh ĐTĐ và một số yếu tố liên quan Tình hình nghiên cứu về kiến thức bệnh ĐTĐ trên thế giới Việc kiểm soát đƣờng máu, lipid máu và huyết áp của ngƣời bệnh ĐTĐ bệnh của ngƣời bệnh ĐTĐ là một trong các nguyên nhân làm giảm tình trạng kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ. khoảng 20-23% ngƣời bệnh ĐTĐ biết lƣợng HbA1C nên đƣợc kiểm soát dƣới Tăng cƣờng kiến thức cho ngƣời bệnh ĐTĐ có thể đạt Padmalatha B và cộng sự (2007) nghiên cứu trên 155 ngƣời bệnh ĐTĐ tại Mỹ về kiến thức về bệnh ĐTĐ với mối liên hệ với kiểm soát đƣờng máu của ngƣời bệnh, nghiên cứu tình trạng ngƣời bệnh: các yếu tố gia đình, xã hội, ngƣời bệnh thiếu hụt về kiến thức bệnh, việc cung cấp kiến thức cho ngƣời bệnh có thể đạt đƣợc mục tiêu kiểm soát lƣợng HbA1C dƣới 7% trong 6 Pace A và cộng sự (2006) nghiên cứu về vai trò của kiến thức bệnh ĐTĐ với quá trình tự chăm sóc của ngƣời bệnh tại Brazil trên 84 ngƣời bệnh ĐTĐ cho thấy có 58% ngƣời bệnh ĐTĐ không đƣợc giáo dục về bệnh, có 28,6% ngƣời bệnh trả lời đúng về bệnh ĐTĐ, có 64% ngƣời bệnh nhập viện thấy thiếu kiến thức về bệnh, các nguyên nhân và triệu chứng ảnh hƣởng đến Zaheera S và cộng sự (2010) nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực rập thống nhất cho thấy có 17,58% ngƣời bệnh trả lời đúng 100% các câu hỏi về kiến thức, 15,78% ngƣời bệnh trả lời đúng 100% các câu hỏi về thực hành. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngƣời bệnh có kiến thức tốt về bệnh nhƣng thiếu Gulabani M và cộng sự (2007) nghiên cứu kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ về điều trị và biến chứng trên 101 ngƣời bệnh ĐTĐ điều trị tại bệnh viện cho thấy, có 50,5% ngƣời bệnh ĐTĐ biết bệnh ĐTĐ có thể điều trị đƣợc, có 63,4% ngƣời bệnh ĐTĐ biết bệnh ĐTĐ phải điều trị suốt đời, có 46,5% ngƣời bệnh ĐTĐ biết bệnh có thể phòng đƣợc và chỉ có 28,7% ngƣời bệnh Sabri A (2007) nghiên cứu kiến thức về bệnh ĐTĐ trên 240 ngƣời bệnh ĐTĐ tại vùng thành thị và nông thôn Parkistan cho thấy các ngƣời bệnh ĐTĐ ở thành thị có kiến thức bệnh, quản lý bệnh và kiểm soát các biến chứng của bệnh tốt hơn nhóm ngƣời bệnh ĐTĐ sống ở nông thôn [47]. Tình hình nghiên cứu về kiến thức bệnh ĐTĐ tại Việt Nam thực hành về phòng, chống bệnh ĐTĐ của 13159 đối tƣợng có độ tuổi từ 30 mắc bệnh ĐTĐ rất thấp (trả lời đúng < 25% số câu hỏi), 5,9% có kiến thức Kiến thức về phòng và điều trị bệnh ĐTĐ cũng thấp, về phòng, chống bệnh ĐTĐ của 450 đối tƣợng có độ tuổi từ 30 đến 64 tuổi tại đối tƣợng có kiến thức về yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ rất kém là 98,7%. Tỷ lệ đối tƣợng có kiến thức về phòng và điều trị bệnh ĐTĐ rất kém là của 130 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại BVĐK tỉnh Hòa Bình, Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức tốt về các yếu tố nguy cơ, triệu chứng, chế độ dinh dƣỡng, chế độ tập luyện, dùng thuốc và các biến chứng của bệnh đái tỷ lệ ngƣời bệnh có thực hành tốt về chế độ dinh dƣỡng, tập luyện, dùng thuốc Nghiên cứu cũng nhận thấy ngƣời bệnh có kiến thức tốt về dinh dƣỡng, dùng thuốc và dự phòng biến chứng thì có tỷ lệ thực hành tốt về các lĩnh vực này cao hơn các ngƣời bệnh khác [22]. hành vi về chế độ ăn và tập luyện ở ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại bệnh viện Hơn một nửa số ngƣời bệnh (54%) biết đƣợc lợi ích của đƣợc hỏi ngƣời bệnh ĐTĐ nên ăn bao nhiêu bữa một ngày và chỉ có 27% chỉ có 12% ngƣời bệnh biết nên mang theo bánh ngọt khi đi tập thể dục và kiến thức trên 180 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại Mỹ cho thấy tỷ lệ kiến thức là các yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức ngƣời bệnh ĐTĐ type 2, trong đó tuổi và mức độ áp lực làm giảm kiến thức của ngƣời bệnh [74]. thức bệnh ĐTĐ của ngƣời bệnh tại Bangkok và các thành phố thuộc tỉnh khác cho thấy điểm cao nhất về kiến thức của ngƣời bệnh là 42 điểm. bạn bè có ngƣời bị ĐTĐ là các yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức của ngƣời Adibe Maxwell O và cộng sự (2009) nghiên cứu kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại Nigeria cho thấy các yếu tố tuổi, giới, trình độ học vấn và thời gian mắc bệnh là các yếu tố ảnh hƣởng đến kiến thức của ngƣời bệnh quan về kiến thức giữa ngƣời bệnh ở thành phố với ngƣời bệnh ở nông thôn, trong đó ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức chung, kiến thức về quản lý bệnh và theo dõi các biến chứng tốt hơn các ngƣời bệnh ở nông thôn [47]. bệnh nữ có kiến thức về bệnh ĐTĐ tốt hơn ngƣời bệnh nam. Có mối liên quan giữa kiến thức chung của ngƣời bệnh với kiểm soát Ngƣời bệnh có kiến thức càng tốt thì lƣợng glucose máu lúc đói thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức của ngƣời bệnh với việc kiểm soát glucose máu, những ngƣời bệnh có kiến thức chung thấp có lƣợng 505 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 cho thấy có mối liên hệ giữa kiến thức bệnh với kiểm soát glucose máu, ngƣời bệnh có kiến thức tốt có lƣợng glucose máu ở thể bị ảnh hƣởng bởi các đánh giá lâm sàng và tình trạng lâm sàng của ngƣời sức khỏe thể chất, tinh thần, mức độ tự chủ, mối quan hệ xã hội và các mối cá nhân về tình trạng sức khỏe thể chất và tâm thần của mình và mối quan hệ khỏe và đƣợc xem xét nhƣ là một chỉ số quan trọng trong các điều tra về dịch ung thƣ vú, viêm khớp, tăng huyết áp) và các yếu tố nguy cơ của bệnh (BMI, Các công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống trong bệnh ĐTĐ đƣợc chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Y tế Thế giới) đã đƣợc chứng minh có giá trị ở những ngƣời mắc bệnh tiểu hiệu quả của giáo dục bệnh ĐTĐ cho các ngƣời bệnh mới mắc bệnh ĐTĐ Các nghiên cứu cho thấy SF-36 là có giá trị nhất khi so sánh CLCS của tâm lập kế hoạch chăm sóc tại Nam Úc, 389 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đƣợc tạo các tiện ích sức khỏe từ một số lƣợng lớn của ngƣời dân với các quốc gia y tế tính và 11 triệu chứng sức khỏe tâm thần là các vấn đề ngƣời bệnh cần trả lời của ngƣời bệnh trong 3 ngày qua đƣợc đánh giá theo dạng câu hỏi có/không khỏe liên quan với bệnh tiểu đƣờng và các phƣơng pháp điều trị, biến chứng EQ-5D là bộ công cụ tự đánh giá chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số về hoạt động thể chất của ngƣời bệnh là chất của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 72,06 điểm [92]. của ngƣời bệnh ĐTĐ là 74,7 điểm [66]. Về các hạn chế do sức khỏe thể lực: theo nghiên cứu của Yao Yu tại giác đau của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 65,21 điểm [92]. khác của Yao Yu tại Trung Quốc trên 54 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số về cảm giác đau của ngƣời bệnh là 68,32 điểm [128] Nghiên cứu của Yao Yu tại Trung Quốc trên 54 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số về sức khỏe chung của ngƣời bệnh là 47.74 điểm Theo Lau CY nghiên cứu tại Mỹ, điểm số về sức khỏe chung của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 56,69 điểm [92]. trên 54 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số về sinh lực của ngƣời bệnh là ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số về hoạt động xã hội của ngƣời bệnh là hội của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 78,48 điểm [92]. Quốc trên 54 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thấy điểm số của ngƣời bệnh là 48,34 xúc động của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 70,07 điểm [92]. sức khỏe tinh thần của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 58,42 điểm [92]. Nghiên cứu của Yao Yu tại Trung Quốc thấy điểm số của ngƣời bệnh là 60,11 Sức khỏe thể chất: theo nghiên cứu của Laura, điểm số về sức khỏe thể sức khỏe thể chất của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 44,45 điểm [92]. khỏe tâm thần của 380 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là 45,13 điểm [92]. chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 là lo lắng về hạ glucose tố này làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh [113], theo nghiên cứu của Sakamaki H tại Nhật Bản, điểm số chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ là 0,86, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh có biến chứng thấp hơn ở ngƣời bệnh không có biến chứng [110]. chất lƣợng cuộc sống theo EQ 5D của ngƣời bệnh ĐTĐ là 0,85 [91]. Nghiên cứu của Janssen cho thấy, chất lƣợng cuộc sống theo EQ-5D của ngƣời bệnh từ 0,20 (những ngƣời bệnh có biến chứng thận) đến 0,88 cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ, điểm số trung bình EQ-5D ở nhóm can thiệp không có sự khác biệt về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh sử dụng thuốc dapagliflozin và nhóm ngƣời bệnh sử dụng thuốc khác [77]. Theo Ye Wang nghiên cứu chất lƣợng cuộc sống trên 729 ngƣời bệnh của ngƣời bệnh theo EQ-5D là 0,84 (0,22), điểm số chất lƣợng cuộc sống theo Nghiên cứu của Pattanaphesaj tại Thái Lan trên 117 ngƣời bệnh ĐTĐ cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ đánh giá theo VAS là 74,3, biến chứng thận và thần kinh và HbA1c có liên quan đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh, tuổi, giới tính không có liên quan đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh [110], nghiên cứu của Langkilde cho thấy, chất lƣợng cuộc sống theo VAS của ngƣời bệnh ĐTĐ là 72,5 [91]. (12,1), không có sự khác biệt về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh sử Golicki D so sánh chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 với ngƣời bình thƣờng bằng công cụ EQ-5D và VAS cho thấy, ngƣời bệnh ĐTĐ có điểm số trung bình chất lƣợng cuộc sống thấp hơn ngƣời bình thƣờng cuộc sống của 1847 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tại Iran. hôn nhân và thu nhập gia đình có liên quan đến chất lƣợng cuộc sống của lƣợng cuộc sống của 70 ngƣời bệnh ĐTĐ và 70 ngƣời bình thƣờng tại Ấn Độ, kết quả cho thấy, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ thấp hơn ngƣời chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh suy thận mạn tính chạy thận nhân tạo chu chất lƣợng cuộc sống của nhóm NGƢỜI BỆNH suy thận 40,78 ± 19,37 thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm NGƢỜI BỆNH bình thƣờng 90,71 ± bệnh cho thấy chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh ở mức trung bình, trong đó chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh tổn thƣơng tủy sống do chấn thƣơng sử của ngƣời bệnh tăng lên rõ rệt sau 4 tuần điều trị, có mối liên quan giữa mức yếu tố dân số xã hội và bệnh mạn tính với chất lƣợng cuộc sống liên quan đến có hiệu quả, tự chăm sóc ảnh hƣởng đến cuộc sống, sức khỏe và sự thoải mái Có hai nhóm kiến thức mà ngƣời bệnh cần: kiến thức từ kinh nghiệm sẵn có liên quan đến tình trạng hiện tại và kiến thức mới mà ngƣời bệnh quan sát thấy, giá trị của những kiến thức mới và động nào mà ngƣời bệnh đang cần và có thể chuyển thành các hoạt động ngƣời bệnh về các dịch vụ y tế phát sinh ra sự thiếu hụt về tự chăm sóc. Những ngƣời bệnh thiếu hụt tự chăm sóc đều cần các điều dƣỡng, bởi vì những ngƣời này không có khả năng đạt đƣợc nhu cầu tự chăm sóc của mình. Để cung cấp sự thiếu hụt tự chăm sóc cho ngƣời bệnh, điều dƣỡng có thể của ngƣời bệnh, từ đó xây dựng kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt cho ngƣời bệnh ngoại trú để họ có thể thực hiện tất cả các hoạt động tự chăm ngƣời bệnh ĐTĐ, đó là sự thiếu hụt kiến thức về bệnh, sự già hóa, điều kiện sống cơ bản và khả năng áp dụng kiến thức bệnh của ngƣời bệnh. Vai trò tích cực của kiến thức về bệnh ĐTĐ trong việc giúp đỡ các Hệ thống tƣ vấn kiến thức cho ngƣời bệnh ĐTĐ về tự chăm sóc việc tƣ vấn kiến thức tự chăm sóc cho ngƣời bệnh ĐTĐ ngày nay đƣợc thiết Có dƣới 35% ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán ĐTĐ đƣợc tƣ vấn đầy đủ về Trong khi việc giáo dục cho ngƣời bệnh ĐTĐ đƣợc coi là tiêu chuẩn trong điều trị bệnh, có 3 yếu tố làm giảm hiệu quả của việc giáo dục kiến thức Thứ nhất, có ít ngƣời bệnh ĐTĐ đƣợc tiếp cận hệ thống giáo dục đầy hiện cho ngƣời bệnh và một số lớp tƣ vấn không phù hợp với nghề nghiệp và địa bàn sống của ngƣời bệnh, thiếu quan tâm của gia đình ngƣời bệnh và khó Thứ ba, các chƣơng trình giáo dục cho ngƣời bệnh ĐTĐ thƣờng tập giảm hiệu quả của các chƣơng trình giáo dục cho ngƣời bệnh ĐTĐ. Sự già hóa ảnh hƣởng đến cách mà ngƣời bệnh học tập những kiến thức Các nghiên cứu đã cho thấy có mối liên hệ giữa tuổi và tự chăm sóc của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2. Những ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 cao tuổi có kiến thức và thực hành tự chăm sóc tốt; những ngƣời bệnh thƣờng xuyên các dịch vụ y tế hơn; tuổi của ngƣời bệnh có liên quan đến chế độ luyện tập, Những ngƣời bệnh ĐTĐ trẻ tuổi thƣờng ít tuân thủ chế độ theo dõi kiến thức mới và dễ thay đổi lối sống để thích nghi với bệnh [82]. Ngƣời bệnh nữ thực hiện tốt hơn chế độ ăn uống và có nhiều kinh nghiệm hơn trong theo dõi các biến chứng của bệnh ĐTĐ [56]. Theo Boeing (2010) không có mối liên hệ giữa giới tính của ngƣời bệnh với tỷ lệ tử vong và tự chăm sóc về sử dụng thuốc, khi thực hiện tự quản Những ngƣời bệnh có thời gian đƣợc chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ và thay đổi từ lúc đƣợc chẩn đoán đến sống chung với bệnh. cho thấy, thời gian mắc bệnh dài có mối liên quan với khả năng tự chăm sóc cao của ngƣời bệnh, tuân thủ tốt hơn chế độ sử dụng thuốc và theo dõi thƣờng Có mối liên hệ giữa thu nhập với mức độ tự chăm sóc của ngƣời bệnh Nghiên cứu của Chio cho thấy, ngƣời bệnh có mức thu nhập cao có khả năng tự chăm sóc cao và ngƣời bệnh có thu nhập thấp có khả năng tực chăm sóc thấp hơn những ngƣời bệnh trong nhóm thu nhập cao và trung bình. Những ngƣời bệnh trong nhóm thu nhập cao thực hiện tốt hơn các bài tập thể chăm sóc của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh có thu nhập cao tự chăm sóc tốt hơn hơn những ngƣời bệnh không theo tín ngƣỡng nào, thay vì tuân thủ chế độ Sự hỗ trợ của xã hội có vai trò quan trọng trong cuộc sống của ngƣời làm tăng khả năng tự chăm sóc của ngƣời bệnh ĐTĐ, hỗ trợ ngƣời bệnh qua điện thoại làm tăng khả năng tự chăm sóc của ngƣời bệnh [63]. Các dịch vụ cung cấp cho ngƣời bệnh thông qua giao tiếp có mối liên hệ với tự chăm sóc của ngƣời bệnh. tự chăm sóc của ngƣời bệnh, ngƣời bệnh sống cùng với gia đình tăng khả tăng tự quản lý chế độ ăn so với các ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 khác [125]. chăm sóc của ngƣời bệnh. Các ngƣời bệnh đã kết hôn ít sử dụng kháng sinh hơn do đƣợc hỗ trợ cao của xã hội và có hành vi tự chăm sóc tốt hơn so với ngƣời bệnh độc thân chăm sóc các ngƣời bệnh ĐTĐ nhằm kiểm soát tốt lƣợng đƣờng máu, tăng hiệu quả tự chăm sóc và sự hài lòng của ngƣời bệnh với dịch vụ. đƣợc tiến hành trên 35 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú. cho thấy điểm tổng trung bình của ngƣời bệnh và điểm mỗi khía cạnh về nhận điều dƣỡng về kiến thức, tự chăm sóc và kiểm soát trao đổi chất ở ngƣời bệnh 42 ngƣời bệnh đƣợc lựa chọn ngẫu nhiên vào nhóm chứng và thức của ngƣời bệnh trong nhóm can thiệp cao hơn có ý nghĩa so với nhóm điều dƣỡng đến hiệu quả nhận thức tự chăm sóc và kiểm soát ĐTĐ ở ngƣời khía cạnh nhận thức tự chăm sóc của ngƣời bệnh sau khi tham gia chƣơng trung bình của kiểm soát chế độ ăn, quản lý thuốc, vệ sinh và chăm sóc bàn dựng mối liên hệ với ngƣời bệnh làm tăng hiệu quả nhận thức tự chăm sóc của ngƣời bệnh [96]. Orem chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ có biến chứng loét chân. cứu cho thấy các ngƣời bệnh ĐTĐ có biến chứng ở da thiếu kiến thức về thức các ngƣời bệnh tăng lên có ý nghĩa so với trƣớc khi tham gia [62]. giảm cân nhằm tăng chất lƣợng quản lý ngƣời bệnh ĐTĐ ở ngƣời cao tuổi Mỹ Các triệu chứng lâm sàng và hành vi của ngƣời bệnh ngƣời bệnh thay đổi có ý nghĩa so với trƣớc khi tham gia vào can thiệp [46]. tầm quan trọng của đào tạo quản lý tự chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 và kiến thức cho ngƣời bệnh, khuyến khích ngƣời bệnh tham gia vào chƣơng trình và cung cấp công cụ tự quản lý cho ngƣời bệnh. Theo Briden, kiến thức và thái độ của ngƣời bệnh ĐTĐ tăng lên có ý của ngƣời bệnh tăng 33% có ý nghĩa thống kê [108]. hội, các dịch vụ y tế với tự chăm sóc ngƣời bệnh ĐTĐ. nguyện viên là nhân viên y tế, các ngƣời bệnh tham gia vào nghiên cứu giảm và chất lƣợng cuộc sống so với ngƣời bệnh không đƣợc sự hỗ trợ của các tình lý và giáo dục cho nhóm trƣởng, nhóm trƣởng sẽ hỗ trợ ngƣời bệnh trong sau 6 tháng can thiệp bằng quản lý tự chăm sóc về bệnh ĐTĐ và kiểm có sự thay đổi về kiến thức của bệnh ĐTĐ và BMI của ngƣời bệnh sau 6 ngƣời bệnh ở nhóm can thiệp có lƣợng glucose máu và lƣợng HbA1c thấp chăm sóc, đặc biệt với chế độ dinh dƣỡng và chế độ thể dục, ngƣời bệnh trong chế độ sử dụng thuốc, ngƣời bệnh trong nhóm can thiệp tuân thủ tốt hơn kiến thức của ngƣời bệnh về bệnh ĐTĐ. Thảo cho thấy, sau can thiệp truyền thông, ngƣời bệnh ĐTĐ có thay đổi về Kiến thức của ngƣời bệnh trên các lĩnh vực tăng đáng kể sau can thiệp, độ tập luyện và chế độ chăm sóc tăng thấp hơn, trong đó kiến thức về chế độ nghĩa kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ, góp phần tăng tự kiểm soát, quản lý của ngƣời bệnh, làm giảm biến chứng và tăng chất lƣợng cuộc sống của ngƣời Nghiên cứu của Lê Thị Cầm cho thấy, sau 6 tháng quản lý ngƣời bệnh ngoại trú, glucose máu và HbA1c giảm rõ rệt, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát tốt glucose máu và HbA1c tăng lên, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát kém giảm đi [8]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Đào cho thấy, Kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc bàn chân của ngƣời bệnh ở mức trung bình, với điểm ngƣời bệnh có kiến thức đúng, 45,3% có thái độ đúng và 29,4% ngƣời bệnh Các thiếu hụt kiến thức, thái độ, và hành vi của ngƣời bệnh ảnh hƣởng tới kiến thức, thái độ và hành vi của ngƣời bệnh. bệnh có kiến thức đúng, thái độ đúng thì có hành vi tự chăm sóc đúng, sự điều dƣỡng nên giáo dục các ngƣời bệnh về hành vi chăm sóc bàn chân và Giai đoạn 1: Các ngƣời bệnh đƣợc chẩn đoán ĐTĐ type 2 đang đƣợc Giai đoạn 2: Các ngƣời bệnh đang quản lý và điều trị ngoại trú tại Ngƣời bệnh tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và trong thời gian tham Ngƣời bệnh đang đƣợc quản lý và điều trị ngoại trú tại BVĐK thành Trong thời gian nghiên cứu, ngƣời bệnh không điều trị nội trú Trong thời gian nghiên cứu, ngƣời bệnh chỉ khám và điều trị ngoại trú Ngƣời bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu trực thuộc Sở Y tế Thái Bình, có chức năng khám chữa bệnh và chăm sóc sức Tổng số ngƣời bệnh ĐTĐ đang đƣợc quản lý và điều trị ngoại trú Bình, có chức năng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Tổng số ngƣời bệnh ĐTĐ đang đƣợc trạng kiến thức, chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh ĐTĐ tại phòng khám ngoại trú các BVĐK huyện, thành phố nhằm mô tả thực trạng ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đang đƣợc quản lý và điều trị ngoại trú tại các BVĐK và đánh giá kiến thức, kiến thức, tƣ vấn, theo dõi việc chăm sóc, quản lý tại nhà của ngƣời bệnh và cao, cân nặng, vòng eo, đo huyết áp, đánh giá lại kiến thức về bệnh ĐTĐ và chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đang quản lý và điều trị bệnh ĐTĐ type 2 đang đƣợc quản lý và điều trị ngoại trú tại các BVĐK thành bệnh, các chỉ số cơ thể, lâm sàng, cận lâm sàng … của ngƣời bệnh. - Đánh giá thực trạng kiến thức của ngƣời bệnh về bệnh ĐTĐ và phân - Đánh giá thực trạng chất lƣợng cuộc sống và phân tích các yếu tố liên quan đến CLCS của ngƣời bệnh. (tập huấn kiến thức cho ngƣời bệnh), giải pháp tƣ vấn thƣờng xuyên qua điện thoại đối với việc tự quản lý, chăm sóc của ngƣời bệnh tại nhà cho nhóm cuộc sống của ngƣời bệnh trƣớc và sau can thiệp. p = là tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức chƣa tốt về bệnh Đái tháo đƣờng, p = Cỡ mẫu thực tế điều tra là 420 ngƣời bệnh trong đó tại BVĐK thành phố là Trong nghiên cứu tổ chức can thiệp cho 110 ngƣời bệnh tại huyện Vũ Thƣ, ngƣời bệnh trong tổng số 1200 ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 đủ điều kiện tham gia Các ngƣời bệnh đƣợc phân chia thành 6 nhóm chính theo tuổi: nhóm Điều tra mô tả cắt ngang: Phỏng vấn về kiến thức bệnh ĐTĐ và chất lƣợng 102 ngƣời bệnh đƣợc phỏng vấn về kiến thức bệnh ĐTĐ, chất lƣợng cuộc sống. Thực hiện can thiệp: Hƣớng dẫn về tự quản lý, chăm sóc bệnh tại nhà: chế độ ăn, sử Thu thập số liệu về kiến thức bệnh ĐTĐ của ngƣời bệnh: Điều tra viên phỏng vấn ngƣời bệnh theo bộ câu hỏi đánh giá kiến thức gồm 20 câu hỏi Bộ câu hỏi về đánh giá về kiến thức của ngƣời bệnh ĐTĐ đƣợc Phần 1 gồm 5 câu hỏi đánh giá kiến thức về chế độ ăn của ngƣời bệnh, Phần 3 gôm 5 câu hỏi đánh giá kiến thức về điều trị bệnh Ngƣời bệnh có kiến thức kém Thu thập số liệu về chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh: phỏng vấn theo của ngƣời bệnh. Các ngƣời bệnh đƣợc phỏng vấn theo bộ câu hỏi, điều tra viên khoanh mà ngƣời bệnh trả lời trong phần trả lời của câu hỏi. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về kiến thức của ngƣời bệnh để xây dựng chế độ ăn hợp lý, cách tập luyện hợp lý, cách theo dõi bệnh và các biến Hƣớng dẫn chế độ ăn ngƣời bệnh ĐTĐ Phát tài liệu hƣớng dẫn tự theo dõi, quản lý và chăm sóc bệnh ĐTĐ cho các ngƣời bệnh, Khi có bất cứ vấn đề gì, ngƣời bệnh gọi điện thoại hỏi và sẽ đƣợc các Các ngƣời bệnh đƣợc đánh giá về đo các chỉ số cân nặng, chiều cao, Đánh giá kiến thức của ngƣời bệnh về bệnh ĐTĐ theo các mức đƣợc Ngƣời bệnh trả lời đúng từ 1-2 câu: kiến thức kém Ngƣời bệnh trả lời đúng 3 câu: kiến thức trung bình Ngƣời bệnh trả lời đúng 4-5 câu: kiến thức tốt Ngƣời bệnh trả lời đúng dƣới 10 câu: kiến thức kém Ngƣời bệnh trả lời đúng từ 10-14 câu: kiến thức trung bình Ngƣời bệnh trả lời đúng từ 15 câu đến 20 câu: kiến thức tốt. So sánh kiến thức của ngƣời bệnh với giới tính, địa bàn sống, tình trạng bệnh đƣợc chia thành 4 nhóm: kiến thức về chế độ ăn, kiến thức về chế độ Phân tích mối liên hệ giữa kiến thức của ngƣời bệnh với tuổi, trình độ Trong đó: Kiến thức là tổng số điểm kiến thức của ngƣời bệnh của ngƣời bệnh Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung ngƣời bệnh qua Trong đó: Kiến thức là tổng số điểm kiến thức của ngƣời bệnh Đánh giá chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ: So sánh chất lƣợng cuộc sống giữa nhóm ngƣời bệnh ở thành thị và Phân tích mối liên hệ giữa chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh ĐTĐ với kiến thức của ngƣời bệnh, tình trạng của ngƣời bệnh theo phƣơng trình của ngƣời bệnh là biến độc lập, các biến phụ thuộc gồm tuổi, giới, trình độ Trong đó: CLSC là điểm số chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh thức của ngƣời bệnh) soát theo quy định của Bộ Y tế về bệnh ĐTĐ: BMI: Mục tiêu điều trị cho ngƣời bệnh ĐTĐ type 2: BMI từ 18,5 đến Huyết áp từ 130/80 đến 140/90 mmHg: ngƣời bệnh đƣợc kiểm soát ở Mô tả kiến thức của ngƣời bệnh sau can thiệp, so sánh tỷ lệ theo nhóm kiến thức, so sánh giá trị trung bình, sự thay đổi điểm của kiến thức chung và kiến thức của từng lĩnh vực của ngƣời bệnh sau can thiệp, kiểm định bằng Mô tả chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh theo từng yếu tố theo công Từ đó rút ra kết luận về sự thay đổi chất lƣợng cuộc sống của ngƣời Nêu giá trị thay đổi dƣơng, can thiệp làm tăng chỉ số của ngƣời bệnh. Nếu giá trị thay đổi âm, can thiệp làm giảm chỉ số của ngƣời bệnh. của ngƣời bệnh mắc bệnh ĐTĐ, đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp đến việc kiểm soát bệnh và chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh, từ đó đề xuất mô hình nhằm tăng chất lƣợng cuộc sống, kiểm soát tốt bệnh và giảm gánh nặng bệnh tật cho ngƣời bệnh và xã hội. Kiến thức của ngƣời bệnh và một số yếu tố liên quan Tổng số ngƣời bệnh nghiên cứu: 420, trong đó Có 240 ngƣời bệnh nam chiếm 57,1% và 180 ngƣời bệnh nữ chiếm Tỷ lệ ngƣời bệnh nam ở thành phố là 57,1%, ở nông thôn là 57,2%, tỷ Tuổi trung bình của ngƣời bệnh là 64,19 ± 9,45. Có 27,3% ngƣời bệnh trên 70 tuổi. Ngƣời bệnh có trình độ học vấn THCS chiếm tỷ lệ cao nhất (35,5%), tỷ lệ ngƣời bệnh có trình độ sau THPT chiếm 28,3%, tốt nghiệp THPT chiếm Nhóm ngƣời bệnh ở thành phố có trình độ học vấn cao hơn nhóm ngƣời bệnh ở nông thôn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Thời gian điều trị trung bình của ngƣời bệnh 5,57 ± 4,83 năm, thời gian Kiến thức về chế độ ăn và một số yếu tố liên quan. Có 67,9% ngƣời bệnh có kiến thức kém về chế độ ăn, trong đó ngƣời bệnh ở nông thôn có kiến thức kém hơn ngƣời bệnh ở thành phố. ngƣời bệnh có kiến thức tốt về chế độ ăn, ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức cao hơn ngƣời bệnh ở nông thôn. Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ ăn với địa bàn và Tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức kém ở nông thôn là 71,2%, cao hơn tỷ lệ ngƣời bệnh ở thành phố; tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức tốt ở thành phố là Các ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức tốt hơn các ngƣời bệnh ở nông thôn, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Các ngƣời bệnh nam có kiến thức tốt hơn các ngƣời bệnh nữ. thức kém ở ngƣời bệnh nam là 65%, tỷ lệ này ở ngƣời bệnh nữ là 71,1%. Không có mối liên quan giữa giới tính với kiến thức về chế độ ăn của ngƣời Tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát glucose ở mức kém có kiến thức về chế độ ăn ở mức kém chiếm 65,3%, ngƣời bệnh kiểm soát glucose ở mức chấp nhận đƣợc có kiến thức ở mức trung bình chiếm 25,9%, ngƣời bệnh có kiểm soát mức độ kiểm soát glucose với kiến thức về chế độ ăn của ngƣời bệnh. Tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ ăn ở mức kém và mức trung Không có mối liên quan giữa kiến thức của ngƣời bệnh về chế Kiến thức về chế độ tập luyện và một số yếu tố liên quan Có 56%% ngƣời bệnh có kiến thức tốt về chế độ tập luyện, có 29.8% ngƣời bệnh có kiến thức ở mức trung bình và 14,3% ngƣời bệnh có kiến thức Các ngƣời bệnh ở thành phố và nông thôn có tỷ lệ kiến thức về chế độ liên hệ giữa kiến thức về chế độ tập luyện với địa bàn sống của ngƣời bệnh. Các ngƣời bệnh nam có kiến thức về chế đệ tập luyện ở mức tốt chiếm đột tập luyện với giới tính của ngƣời bệnh. Có 57,8% ngƣời bệnh có mức độ kiểm soát glucose tốt có kiến thức về chế độ luyện tập ở mức tốt, tƣơng tự nhƣ nhóm ngƣời bệnh mức kiểm soát Tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ tập luyện ở mức trung bình có mức kiểm soát HbA1c ở mức kém chiếm 33,8%, cao hơn ngƣời bệnh có kiểm Ngƣời bệnh có kiến thức tốt thức về chế độ tập luyện với mức kiểm soát HbA1c của ngƣời bệnh. Kiến thức về chế độ dùng thuốc và một số yếu tố liên quan. Biều đồ 3.5 cho thấy có 28,3% ngƣời bệnh có kiến thức kém về chế độ dùng thuốc, trong đó ngƣời bệnh ở nông thôn có kiến thức kém hơn ngƣời Có 16,9% ngƣời bệnh có kiến thức tốt về chế độ dùng thuốc, trong đó ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức cao hơn ngƣời bệnh ở nông thôn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Ngƣời bệnh ở thành phố có tỷ lệ kiến thức tốt chiếm 24,1%, cao hơn tỷ lệ ngƣời bệnh ở nông thôn, tỷ lệ ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức kém Tỷ lệ ngƣời bệnh nam có kiến thức trung bình chiếm 54,6%, ngƣời kiểm soát glucose và HbA1c của người bệnh (n=420) Ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ dùng thuốc ở mức trung bình kiểm Kiến thức về chế độ dùng thuốc của ngƣời Ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ dùng thuốc ở mức tốt có tỷ lệ kiểm thức về chế độ dùng thuốc của ngƣời bệnh có liên quan kiểm soát HbA1c. Kiến thức về chế độ chăm sóc và một số yếu tố liên quan. Có 31,4% ngƣời bệnh có kiến thức kém về chế độ chăm sóc, 35% ngƣời bệnh có kiến thức trung bình và 33,6% ngƣời bệnh có kiến thức tốt về Ngƣời bệnh ở nông thôn có kiến thức tốt về chế độ chăm sóc chiếm tỷ lệ 37%, cao hơn tỷ lệ ngƣời bệnh ở thành phố. kiến thức về chế độ chăm sóc với địa bàn sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh nam có tỷ lệ kiến thức tốt chiếm 38,8% cao hơn tỷ lệ ngƣời bệnh nữ có kiến thức tốt. Mối liên quan giữa kiến thức về chế độ chăm sóc với kiểm Các ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ chăm sóc ở mức trung bình có mức độ kiểm soát glucose máu ở mức tốt cao hơn ngƣời bệnh kiểm soát Tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức về chế độ chăm sóc ở mức tốt có kiến thức về chế độ chăm sóc ở mức trung bình cao hơn nhóm ngƣời bệnh có kiến Không có mối liên quan giữa kiến thức của ngƣời bệnh về Có 27,4% ngƣời bệnh có kiến thức chung ở mức kém, ngƣời bệnh ở nông thôn có kiến thức chung kém hơn ngƣời bệnh ở thành phố, sự khác biệt Có 2,4% ngƣời bệnh có kiến thức chung ở mức tốt. 70,2% ngƣời bệnh có kiến thức chung ở mức trung bình. Các ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức ở mức trung bình chiếm Tỷ lệ kiến thức kém của ngƣời bệnh ở nông thôn là 35,1%, cao hơn ngƣời bệnh ở thành phố. Ngƣời bệnh nam và nữ có tỷ lệ kiến thức chung tƣơng đƣơng nhau, không có mối liên hệ giữa kiến thức chung với giới tính của ngƣời bệnh. quan đến kiến thức chung của ngƣời bệnh về bệnh ĐTĐ, trong đó, các yếu tố thời gian điều trị, trình độ học vấn có mối tƣơng quan thuận, ngƣời bệnh có thời gian điều trị càng dài thì kiến thức chung về bệnh càng cao, ngƣời bệnh mối tƣơng quan nghịch với kiến thức chung, ngƣời bệnh ở thành phố có kiến thức tốt hơn ngƣời bệnh ở nông thôn. nghĩa thống kê với kiến thức chung của ngƣời bệnh. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của người bệnh qua phân tích Liên quan của trình độ văn hóa đến kiến thức của người bệnh. Trình độ văn hóa của ngƣời bệnh có liên quan đến kiến thức chung, liên quan đến trình độ văn hóa của ngƣời bệnh. Liên quan thời gian điều trị đến kiến thức của người bệnh. Thời gian điều trị của ngƣời bệnh có liên quan đến kiến thức chung, thời gian điều trị của ngƣời bệnh. Liên quan tuổi đến kiến thức của người bệnh. Mối liên quan giữa kiến thức với tuổi của người bệnh qua Tuổi của ngƣời bệnh có liên quan đến kiến thức chung, kiến thức về chế độ ăn và kiến thức về chế độ dùng thuốc với hệ số hồi quy dƣơng. trị của ngƣời bệnh. Điểm trung bình chất lƣợng cuộc sống theo các khía cạnh về sức khỏe Tính chung 8 lĩnh vực đánh giá, sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh có điểm số trung bình là 36,74 điểm, sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh có điểm Điểm số cao nhất về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh là lĩnh vực Điểm số thấp nhất về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh là lĩnh vực sức khỏe chung, ở nông thôn đạt 29,75 điểm, thấp hơn ngƣời bệnh ở thành Ngƣời bệnh ở thành phố có điểm số chất lƣợng cuộc sống cao hơn ngƣời bệnh ở nông thôn ở 8 lĩnh vực đƣợc đánh giá, sự khác biệt có ý nghĩa tinh thần ở ngƣời bệnh nữ cao hơn điểm số trung bình ở nhóm ngƣời bệnh Lĩnh vực sức khỏe chung, sinh lực trung bình điểm số ngƣời bệnh nam cao hơn ngƣời bệnh nữ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Ngƣời bệnh có mức kiểm soát glucose ở mức tốt và mức chấp nhận đƣợc có điểm số trung bình về chất lƣợng cuộc sống cao hơn ngƣời bệnh có Các lĩnh vực các hạn chế do sức khỏe thể lực, sinh lực, ngƣời bệnh kiểm soát glucose ở mức chấp nhận đƣợc có điểm số trung bình chất lƣợng cuộc sống cao hơn ngƣời bệnh ở nhóm kiểm soát tốt glucose, tuy nhiên điểm Điểm số trung bình chất lƣợng cuộc sống trong các lĩnh vực hoạt động lực, hoạt động xã hội, các hạn chế do dễ xúc động ở nhóm ngƣời bệnh kiểm soát tốt HbA1c cao hơn nhóm ngƣời bệnh kiểm soát kém HbA1c, sự khác biệt Điểm số trung bình về lĩnh vực sức khỏe tinh thần ở nhóm ngƣời bệnh kiểm soát tốt HbA1c thấp hơn nhóm ngƣời bệnh kiểm soát HbA1c ở mức Ngƣời bệnh kiểm soát tốt huyết áp tâm thu có điểm số trung bình lĩnh lực, hoạt động xã hội, sức khỏe tinh thần cao hơn nhóm ngƣời bệnh kiểm soát Điểm số trung bình chất lƣợng cuộc sống về lĩnh vực cảm giác đau và các hạn chế do dễ xúc động ở nhóm ngƣời bệnh kiểm soát tốt huyết áp tâm thu cao hơn nhóm ngƣời bệnh kiểm soát không tốt huyết áp tâm thu, sự khác Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống với kiến thức của người kiến thức của người bệnh qua phân tích hồi quy đa biến (n=420). Bảng 3.22 cho thấy có mối liên quan giữa sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh với kiến thức về chế độ ăn với tƣơng quan thuận. tập luyện, chế độ dùng thuốc và chế độ chăm sóc không có mối liên quan với sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh. Có mối liên quan giữa sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh với kiến thức Kiến thức về chế độ ăn và chế độ chăm sóc không có mối liên quan với sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh. Chất lƣợng cuộc sống về sức khỏe thể lực và chất lƣợng cuộc sống có Chất lƣợng cuộc sống về sức khỏe chung có mối liên quan nghịch với Chất lƣợng cuộc sống về sinh lực có mối liên quan nghịch với các biến Chất lƣợng cuộc sống về các hạn chế do dễ xúc động có mối tƣơng Sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh có mối liên quan với địa bàn sống, tuổi, biến chứng mắc phải, kiến thức về chế độ ăn và glucose, trong đó kiến thức về chế độ ăn có mối tƣơng quan thuận với sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh, các yếu tố địa bàn sống, tuổi, biến chứng mắc phải và glucose máu có mối tƣơng quan nghịch với sức khỏe thể chất của ngƣời bệnh. Các yếu tố địa bàn sống, biến chứng mắc phải, kiến thức về chế độ tập luyện, kiến thức về chế độ dùng thuốc có liên quan đến sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh, trong đó kiến thức về chế độ tập luyện, kiến thức về chế độ dùng thuốc có mối tƣơng quan thuận với sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh, sức khỏe tâm thần của ngƣời bệnh. khác biệt giữa ngƣời bệnh nam và nữ. sự khác biệt giữa ngƣời bệnh nam và nữ. 5D của ngƣời bệnh ở thành phố là 0,753, ở ngƣời bệnh ở nông thôn là 0,704. Ngƣời bệnh ở thành phố có chất lƣợng cuộc sống cao hơn ngƣời bệnh ở nông của ngƣời bệnh ở thành phố là 68,75, ở ngƣời bệnh ở nông thôn là 65,96. Ngƣời bệnh ở thành phố có chất lƣợng cuộc sống cao hơn ngƣời bệnh ở nông Ngƣời bệnh không có biến chứng thần kinh có điểm số trung bình theo EQ-5D là 0,765, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 0,606. chứng thần kinh làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng mắt có điểm số trung bình theo EQ- 5D là 0,780, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 0,664. chứng mắt làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng tim mạch có điểm số trung bình theo EQ-5D là 0,769, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 0,594. chứng tim mạch làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng thận có điểm số trung bình theo EQ- 5D là 0,739, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 0,609. chứng thận làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng chi có điểm số trung bình theo EQ- 5D là 0,814, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 0,655. chứng chi làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng thần kinh có điểm số trung bình theo VAS là 68,55, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 63,51. chứng thần kinh làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng mắt có điểm số trung bình theo VAS là 69,46, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 64,79. mắt làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng tim mạch có điểm số trung bình theo VAS là 68,86, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 62,53. chứng tim mạch làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng thận có điểm số trung bình theo VAS là 67,86, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 62,08. thận làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Ngƣời bệnh không có biến chứng chi có điểm số trung bình theo VAS là 69,87, điểm trung bình ở ngƣời bệnh có biến chứng là 65,24. chi làm giảm chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh đánh giá theo công cụ EQ-5D có liên quan đến tuổi, kiến thức chung, số biến chứng mắc phải và mức huyết áp tâm thu của ngƣời bệnh, trong đó, yếu tố kiến thức chung có mối tƣơng quan thuận với chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh, các yếu tố tuổi, số biến cuộc sống của ngƣời bệnh. Chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh đánh giá theo công cụ VAS có của ngƣời bệnh, trong đó, các yếu tố địa bàn sống, số biến chứng mắc phải và huyết áp tâm thu có mối tƣơng quan nghịch với chất lƣợng cuộc sống của Có 64,7% ngƣời bệnh kiểm soát BMI ở mức tốt, có 35,3% ngƣời bệnh Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát tốt BMI tăng lên, Có 60,8% ngƣời bệnh có vòng eo ở mức bình thƣờng trƣớc can thiệp(vòng eo < 90 cm với nam và < 80 cm với nữ), có 39,2% ngƣời bệnh có Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh có vòng eo bình thƣờng tăng lên 61,8%, tỷ lệ ngƣời bệnh có vòng eo cao giảm xuống 38,2%, sự khác biệt Có 27,5% ngƣời bệnh kiểm soát huyết áp tâm thu ở mức kém, 59,6% ngƣời bệnh kiểm soát huyết áp tâm thu ở mức chấp nhận đƣợc. tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát tốt huyết áp tâm thu tăng lên không đáng kể, Có 9,8% ngƣời bệnh kiểm soát huyết áp tâm trƣơng ở mức kém, 77,5% ngƣời bệnh kiểm soát huyết áp tâm trƣơng ở mức tốt. ngƣời bệnh kiểm soát huyết áp tâm trƣơng ở mức kém giảm từ 9,8% xuống Có 83,3% ngƣời bệnh kiểm soát đƣờng huyết ở mức kém, có 11,8% % ngƣời bệnh kiểm soát đƣờng huyết ở mức chấp nhận đƣợc, có 4,8% ngƣời Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát glucose mức tốt tăng từ 4,9% lên 7,8%, ngƣời bệnh kiểm soát glucose ở Có 31,4% ngƣời bệnh kiểm soát tốt HbA1c, 34,3% ngƣời bệnh kiểm soát HbA1c ở mức chấp nhận đƣợc, có tới 34,3% ngƣời bệnh kiểm soát Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát HbA1c ở mức tốt tăng từ 31,4% lên 44,1%, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát HbA1c ở mức kém Có 52,9% ngƣời bệnh kiểm soát Cholesterol ở mức tốt, 22,5% kiểm soát cholesterol ở mức chấp nhận đƣợc và có 24,5% ngƣời bệnh kiểm soát Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát ở mức tốt Có 25,5% ngƣời bệnh kiểm soát triglyceride ở mức tốt, 31,4% kiểm soát ở mức chấp nhận đƣợc và có 43,1% ngƣời bệnh kiểm soát triglycerid ở Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát triglyceride ở mức tốt tăng từ 25,5% lên 28,4%, tỷ lệ ngƣời bệnh kiểm soát triglyceride ở mức kém Thay đổi về kiến thức của người bệnh trước và sau can thiệp Sau can thiệp, tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức tốt về chế độ ăn giảm từ 69,6% xuống còn 33,3%, tỷ lệ ngƣời bệnh có kiến thức tốt tăng từ 0% lên Thay đổi về kiến thức của đối tượng nghiên cứu trước và Sau can thiệp, trung bình số câu trả lời đúng về chế độ ăn của ngƣời ăn của ngƣời bệnh lên 44,6% có ý nghĩa thống kê. Trung bình số câu trả lời đúng về chế độ tập luyện của ngƣời bệnh tăng của ngƣời bệnh lên 9,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. chế độ ăn của ngƣời bệnh lên 42,1% có ý nghĩa thống kê. Trung bình số câu trả lời đúng về chế độ chăm sóc của ngƣời bệnh tăng của ngƣời bệnh lên 1,9%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.