Đề tài: Đánh giá và xếp loại một số loài cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long

Lượt xem: 38,464Lượt tải: 4Số trang: 63

Mô tả tài liệu

Để đánh giá kết quả học tập sau 4 năm tại trường Đại học lâm nghiệp, mỗi sinh viên phải thực tập tốt nghiệp nhằm gắn liền việc học lý thuyết với thực tế, làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, giúp sinh viên củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình thực tập biết vận dụng kiến thức đó vào sản xuất.

Tóm tắt nội dung

Để đánh giá kết quả học tập sau 4 năm tại trường Đại học lâm nghiệp, mỗi sinh viên phải thực tập tốt nghiệp nhằm gắn liền việc học lý thuyết với thực tế, làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, giúp sinh viên củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình thực tập biết vận dụng kiến thức đó vào sản xuất. Từ những mục đích trên, sau khi hoàn thành môn học được sự cho phép của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa lâm học cùng với sự đồng ý của bộ môn lâm nghiệp đô thị, tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá và xếp loại một số loài cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long”. Từ đây đã nảy sinh ra những vấn đề cấp thiết đối với đô thị như sự gia tăng dân số, gia tăng quy mô của các công trình xây dựng, sự tăng nhanh của nhu cầu về nguồn tài nguyên như nước, nguyên liệu... Để ngăn chặn và hạn chế suy thoái ô nhiễm môi trường để người dân đô thị được sống và làm việc trong bầu không khí trong lành thì cần phải có sự tham gia của nhiều ngành nhiều lĩnh vực với các biện pháp khác nhau. Một biện pháp quan trọng hữu hiệu nhất và được chú ý nhiều đó là sử dụng cây xanh. Do cây xanh có rất nhiều vai trò tác dụng chức năng như tạo bóng mát điềuhoà khí hậu, giảm tiếng ồn, tạo hương thơm, màu sắc và vẻ đẹp mỹ lệ của cảnh quan làm tăng giá trị của các công trình giúp cho con người gần gũi hoà nhập với thiên nhiên và có điều kiện giao hoà với cộng đồng. Cây xanh đã trở thành yếu tố không thể thiếu được trong quy hoạch và phát triển đô thị. Cây xanh có nhiều tác dụng, song không phải cây nào cũng như nhau, việc đánh giá cây xanh là để chỉ ra tác dụng chính những mặt có lợi và những mặt còn hạn chế. Từ việc đánh giá cụ thể sẽ là cơ sở để xếp loại cây trồng phục vụ cho nhà thiết kế cây xanh chọn lựa được loài cây phù hợp. Để đóng góp vào việc nghiên cứu vấn đề cây xanh đô thị tôi đã tiến hành thực hiên đề tài: “Đánh giá và xếp loại một số cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long”. Cây trồng đường phố rất đa dạng và phong phú mỗi loài đều có ưu nhược điểm khác nhau, tính chất đường phố cũng đa dạng muốn đánh giá được một cách cụ thể và tổng hợp thì ta dùng phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn để lựa chọn mô hình tối ưu. Đây là phương pháp phân tích mang tính khách quan và chính xác vì nó đề cập cùng một lúc nhiều tiêu chuẩn dành cho đối tượng nghiên cứu là các loài cây đường phố. Mỗi loài cây thường chỉ thích ứng với một điều kiện lập địa nhất định nếu sống trong điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cây sinh trưởng phát triển tốt và phát huy tác dụng nhiều mặt. Với đề tài này tôi chỉ tiến hành đánh giá và xếp loại được một số loài cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long, đưa ra một số tiêu chuẩn về cây trồng đường phố nhằm đóng góp một phần ý kiến của mình cho các nhà thiết kế cây xanh sử dụng để có thể lựa chọn được những loài cây phù hợp nhất với hoàn cảnh đô thị Hạ Long. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá và xếp loại một số loài cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ long, tìm ra những loài cây tối ưu thích hợp với điều kiện lập địa cho đường phố Hạ Long, từ đó làm cơ sở cho các nhà thiết kế quy hoạch cây xanh đường phố sử dụng. - Tìm hiểu yêu cầu cây xanh đường phố để xây dựng các tiêu chuẩn về cây xanh đường phố. - Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng (D1.3, HVN, HDC, DT ), hình thái (thân, cành, lá, rễ, hoa, quả), gắn với điều kiện lập địa ở thành phố Hạ Long để làm cơ sở cho việc đánh giá và xếp loại cây trồng đường phố tại thành phố Hạ Long. - Điều tra nghiên cứu về hình thái, đặc tính sinh lý, sinh thái, tác dụng của cây xanh bằng phương pháp phỏng vấn người dân, các chuyên gia có kinh nghiệm và qua tài liệu. - Tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan để có những ý kiến đánh giá và xếp loại cụ thể, chính xác hơn. - Sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn để xử lý kết quả thu thập, gồm các bước sau: Đây là bước quan trọng nhất trong phân tích đa tiêu chuẩn, cần có sự tham gia ý kiến của người dân và các chuyên gia có kinh nghiệm. - Những tiêu chuẩn phải dễ đo lường và quan sát, hay nói cách khác những tiêu chuẩn đó không quá phức tạp trong việc đo lường và phân tích. Lượng hoá tiêu chuẩn có nghĩa là định lượng các tiêu chuẩn bằng các con số. Mỗi tiêu chuẩn sẽ được lượng hoá bằng phương pháp cho điểm (xét trên khía cạnh tiêu chuẩn định tính). Với sự giúp đỡ của công nghệ tin học thì việc lượng hoá tiêu chuẩn giúp ta thuận lợi trong quá trình tính toán. Sau khi lượng hoá tiêu chuẩn thì bước tiếp theo là phân tích tiêu chuẩn, nội dung này gồm hai vấn đề chính: - Phân tích vai trò và vị trí của từng tiêu chuẩn đối với mục tiêu đề ra. - Tìm ra những tiêu chuẩn mang tính chất chủ đạo và những tiêu chuẩn không có ảnh hưởng đến các tiêu chuẩn khác. Để thực hiện được nội dung này người đánh giá phải lập được ma trận về hệ số tương quan giữa các tiêu chuẩn bằng cách sử dụng phần mềm Exel: Tool/Analysis/correlation: Xn Rn1 Rn2 ... Những tiêu chuẩn mà giá trị thu được càng lớn thì càng đạt hiệu quả cao thường gọi là những tiêu chuẩn tăng có lợi. Còn những tiêu chuẩn mà giá trị thu được càng nhỏ thì hiệu quả càng cao được gọi là những tiêu chuẩn giảm có lợi. Nội dung của chuẩn hoá các số liệu quan sát là chuyển đổi các tiêu chuẩn có các đơn vị khác nhau thành những đại lượng không mang theo đơn vị nào và tất cả đều tăng có lợi hoặc giảm có lợi. Đây là nền tảng thuận lợi nhất để ta thực hiện việc tính toán và so sánh các mô hình với nhau, để từ đó lựa chọn mô hình tối ưu. Dưới đây là một số phương pháp chuẩn hoá số liệu đã được nghiên cứu và ứng dụng: Nội dung của phương pháp này là ở mỗi tiêu chuẩn đem sắp xếp các trị số đo được của mô hình theo nguyên tắc: các tiêu chuẩn tăng có lợi thì đánh số thứ hạng từ tốt đến xấu, trái lại những tiêu chuẩn giảm có lợi thì sắp xếp từ trị số nhỏ nhất đến trị số lớn nhất. Giá trị của các tiêu chuẩn được chuẩn hoá theo các công thức sau: Sau khi chuẩn hoá, ta thấy những số tự nhiên được chuẩn hoá theo hướng càng lớn thì càng tốt cho cả tiêu chuẩn tăng có lợi và giảm có lợi. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ thực hiện nhưng nhược điểm là chưa khai thác hết lượng thông tin của số liệu, hai số chỉ cần sai khác nhau một số lẻ cũng đã phải nhận hai thứ hạng khác nhau. Theo Nguyễn Bá Ngãi, Nijkam (1977 –1982) đã vận dụng chỉ số Ect trong phân tích đa yếu tố (đa tiêu chuẩn) để đánh giá tác động của môi trường. Ở phương pháp này thì mô hình có tổng điểm càng nhỏ thì mô hình đó (loài đó) sẽ càng tối ưu. Khác với phương pháp trên, ở phương pháp này các Xij chỉ lấy giá trị từ 0-1 và được tiến hành theo các bước: Mục tiêu cuối cùng của phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn là tiến đến so sánh và lựa chọn mô hình (loài) tối ưu. a) So sánh trên cơ sở số trung bình hoặc tổng số số tiêu chuẩn cho mỗi mô hình trên cơ sở các bảng số liệu đã được chuẩn hoá. Ta tính tổng các giá trị của các tiêu chuẩn ở mỗi mô hình: Phương pháp này có nhược điểm là chưa tính đến sự ưu tiên đối với các tiêu chuẩn quan trọng. Để có sự ưu tiên với những tiêu chuẩn quan trọng, ta cần nhân thêm trọng số vào. Nếu gọi Y1,y2,...Yn là các trị số và P1, P2, P3,...Pn là các trọng số tương ứng với n tiêu chuẩn cho một mô hình thứ i thì mỗi mô hình được tính điểm là: Pij là trọng số được xác định theo các phương pháp sau: Ở phương pháp này người ta tranh thủ ý kiến của chuyên gia để xác định trọng số tuỳ theo mức độ quan trọng của các tiêu chuẩn. Trọng số tính theo phương pháp phân nhóm dựa vào quan hệ giữa các tiêu chuẩn Phương pháp này căn cứ vào mức độ quan hệ giữa các tiêu chuẩn ta lập thành từng nhóm tiêu chuẩn có hệ số tương quan từ cao xuống thấp và tính giá trị bình quân của các tiêu chuẩn trong nhóm đó và đem số trung bình này nhân với trọng số của nó. Phương pháp này của Orloci (1977) – Canada, phương pháp này được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới và cũng được Chu Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) sử dụng để tính toán các chỉ tiêu ảnh hưởng đến năng suất bò sữa thuộc viện chăn nuôi Rostock (1992). Ta xem mỗi loài cây là sự thể hiện của tất cả các mối liên hệ giữa các yếu tố hay các tiêu chuẩn về cảnh quan, môi trường, giá trị sử dụng gỗ mà ta quan tâm. Ta coi mối liên hệ giữa các tiêu chuẩn đóng góp trong một không gian là 100% số phần trăm đóng góp của từng thành phần là xác suất của từng thành phần đó. Nó chính là trọng số khi tính điểm cho các loài cây nghiên cứu. giá trị max ứng với tiêu chuẩn nào đó thì sẽ có trọng số Pj = của tiêu chuẩn đó. Sau đó tính giá trị max và suy ra trọng số của tiêu chuẩn tương ứng. Hạ Long là thành phố ven biển Vịnh Bắc Bộ có địa hình rất đa dạng và phức tạp chủ yếu là đồi núi có độ cao trung bình trên 150m địa hình cơ bản đất dốc theo hướng Tây - Bắc xuống phía Đông Nam i =1%-30%. Hạ Long là một trong những khu vực hình thành cổ nhất trên lãnh thổ miền Bắc -Việt Nam (theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hạ Long), diện tích đất mặt bằng hẹp, khó khăn trong việc quy hoạch, xây dựng các công trình đô thị của thành phố. ổn định, có cường độ chịu tải cao thuận lợi cho việc xây dựng các công trình về thổ nhưỡng, đất đai thành phố được chia làm 2 nhóm chính là đất đồi núi và đất đồng bằng ven biển. Thành Phố Hạ Long là một đơn vị hành chính và là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh, một tỉnh lớn nằm trong tam giác trọng điểm kinh tế phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tỷ lệ dân số thành thị là 96% (năm 2001), cho đến nay tỷ lệ này giảm đáng kể nhưng vẫn ở mức cao 88.45% do mở rộng diện tích thành phố (sát nhập hai xã Đại Yên và Việt Hưng của huyện Hoành Bồ). Tỷ lệ tăng dân số là 2.27% (giai đoạn 1991-2000) được chia hai khu vực thành thị và nông thôn; ở nội thị dân chủ yếu là cán bộ công nhân viên chức làm việc trong khu kinh tế chủ chốt của Quảng Ninh, ngoài ra dân phần lớn dân làm nghề dịch vụ du lịch (chiếm 51.26% dân lao động) còn lại là buôn bán. Thành phần dân cư thành phố người Kinh chiếm chủ yếu ngoài người Hạ Long gốc còn có hàng vạn dân từ các tỉnh khác đến và thương nhân, khách du lịch nước ngoài. Ngành du lịch, dịch vụ du lịnh, dịch vụ giao thông vận tải cũng là mũi nhọn của thành phố, tính đến năm 2001 trên địa bàn thành phố có 7000 hộ kinh doanh; 164 doanh nghiệp tư nhân, 153 công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn; 126 đơn vị doanh nghiệp nhà nước. Sau thời gian thực tập, tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn có kinh nghiệm tôi đã lựa chọn ra 14 loài cây đang được trồng phổ biến trên các đường phố Hạ Long làm đối tượng nghiên cứu. Bằng lăng là cây lâu năm, dễ trồng lớn nhanh, có hoa đẹp, màu sắc nhẹ nhàng nên thường được trồng ở đường phố, khu nhà ở, trường học, bệnh viện... Quả dài 20 - 25cm, buông rủ dọc theo thân, tạo cho tán một dáng đặc biệt hấp dẫn, quả non màu xanh, chín màu nâu, sống dai dẳng trên cây cho đến mùa ra hoa sau. Sữa ưa khí hậu nhiệt đới, thích hợp với đất ẩm, nhiệt độ từ 21 - 240C, lượng mưa trung bình 2500mm/năm, là cây mọc nhanh ưa sáng, chịu được khô hạn, xanh quanh năm, là cây lâu năm. Cây cao, thân thẳng tắp, tán nhiều tầng, tròn đầu nhưng thưa thoáng, màu sắc xanh dịu, hoa có mùi thơm nên thường được trồng làm bóng mát và làm đẹp đường phố... - Phượng vĩ là cây lâu năm, có tán lá nhẹ nhàng, hoa đỏ đẹp thường được trồng ở đường phố, trường học, công viên, .... - Sấu có tốc độ tăng trưởng trung bình, trở thành cây cổ thụ, cho nhiều bóng mát, nên trồng ở các khu vực rộng rãi như công viên, trường học, đường phố,.... - Cây non tán có dáng hình tháp, cây lớn dáng hình thuỗn tương đối tròn, đường kính tán 8 - 10m, mật độ lá trung bình. - Hoa đẹp mọc thành chùm ở đầu cành hay nách lá, màu vàng nhạt, nở tháng 6 - 7, kéo dài đến tháng 10 -11, cây trồng 4 – 5 năm có hoa. - Muồng đen là cây bóng mát, có hoa đẹp nở vào mùa hè và mùa thu, thường trồng ở trường học, khu nhà ở, công viên,.... - Là cây ưa ẩm, chịu cắt tỉa, ít sâu bệnh, lá xanh quanh năm, thường dùng để trồng cây bóng mát ở đường phố, thích hợp với những nơi có vỉa hè hẹp. Là loài cây mọc nhanh dễ tính, thích ứng tương đối rộng với nhiều loại đất, sống được nơi đất bị nhiễm mặn nhẹ, đất phèn. Cành non ở ngọn và ở dưới đều có xu hướng buông rủ, tạo cho cây một dáng đẹp mềm mại hơi buồn. Là loài cây dễ gây trồng, mọc nhanh sớm khép tán, có tác dụng che phủ và cải tạo đất. Các hoạt động công nghiệp cùng với sự phát triển của giao thông vận tải và sinh hoạt của con người đang làm cho môi trường sống của đô thị ngày càng bị suy thoái, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, gây ô nhiễm đất, nước, không khí, ô nhiễm tiếng ồn. Sức ép dân số lên các đô thị gây ra tình trạng “thiếu nước ăn, thừa nước cống” nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa được xử lý làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm, đồng thời đất cũng bị ô nhiễm. ngày càng tăng do sản xuất công nghiệp và sự gia tăng của các phương tiện giao thông vận tải, làm cho bầu không khí ở các đô thị ngột ngạt, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người. Các hoạt động công nghiệp như khai thác than, cơ khí và sự tham gia hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải đang làm cho môi trường không khí của thành phố Hạ Long bị ô nhiễm ở mức báo động, lượng khí bụi trong không khí ở mức cao từ 3 - 4 lần so với giới hạn cho phép (TCVN- 1995). Nghiêm trọng hơn đó là sự ô nhiễm môi trường nước ở Hạ Long theo kết quả điều tra khảo sát của Sở khoa học công nghệ - môi trường tỉnh Quảng Ninh giá trị BOD, COD, SS trong nước ở khu vực biển Bãi Cháy và Hòn Gai tương đối cao, ở một số điểm bị ô nhiễm của nước thải như cảng Đông Bắc, cảng than Hòn Gai cao hơn giới hạn cho phép từ 2.8 – 3.7 lần. Vì vậy, trong tương lai khi khách du lịch tăng thì lượng chất thải cũng tăng, việc ra tăng chất thải, bụi và sự lấn chiếm biển không những làm môi trường đô thị Hạ Long ngày càng bị ô nhiễm mà còn làm mất đi những vẻ đẹp của thành phố mà thiên nhiên tạo hoá đã ban tặng cho thành phố du lịch này. Đặc biệt cần trồng cây xanh quanh các khu công nghiệp (trọng tâm khu khai thác than) và trồng, chăm sóc tốt các dải cây bên đường để giảm lượng bụi, cây xanh có tác dụng chống ồn rất cao các vòm tán cây trung bình thu nhận được 25% tiếng ồn và phản xạ lại 75% cây lá nhỏ có hiệu quả giảm tiếng ồn tốt. Cây xanh còn có tác dụng giảm nhiệt đáng kể và làm tăng được độ ẩm không khí, độ ẩm trong công viên nhiều cây tăng 20% so với đất trống, độ ẩm tăng 15% thì nhiệt độ giảm 3.5oC (Theo tài liệu tổ chức và quản lý môi trường cảnh quan môi trường của Nguyễn Thanh Thuỷ). Vì cây xanh không chỉ có tác dụng cải tạo môi trường mà nó còn tạo ra hương thơm, màu sắc và cảnh đẹp mỹ lệ của cảnh quan cũng như nhiều lợi ích về sinh thái khác. Vì vậy việc chọn lựa những loài cây tối ưu phù hợp với điều kiện môi trường lập địa cho đường phố Hạ Long là việc làm rất cần thiết. Để thuận lợi cho việc lựa chọn cây trồng đường phố ta cần đưa rõ ra những tiêu chuẩn cụ thể về cây xanh đường phố. Hiện nay chưa có tài liệu hướng dẫn về tiêu chuẩn cây trồng đường phố nhưng qua thực tiễn cùng với sự gợi ý của các thầy cô và cán bộ cây xanh tôi đưa ra một số ý kiến sau: Từ những ý kiến trên cùng với sự góp ý của các chuyên gia có kinh nghiệm và của người dân tôi đã xây dựng được một số tiêu chuẩn chính về cây xanh đường phố như sau: Trong các tiêu chuẩn chính này còn chứa đựng các tiêu chuẩn phụ khác nhằm khai thác các tiêu chí cần thiết để xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn cây xanh đường phố. Giúp cho việc thiết kế, quy hoạch cây xanh đô thị đáp ứng được các mục tiêu ngày càng hoàn thiện. Muốn đánh giá được các tiêu chuẩn trên cần lượng hoá một cách hợp lý. Lượng hoá tiêu chuẩn có nghĩa là định lượng các tiêu chuẩn bằng những con số. Với các tiêu chuẩn về lượng thì những con số này được thông qua việc quan sát, đo lường tính toán bằng các công cụ đo lường hoặc các công thức thực nghiệm. Những tiêu chuẩn lựa chọn cây trồng đường phố được đưa ra đều là tiêu chuẩn chất lượng nên được lượng hoá bằng việc cho điểm. Khi đánh giá xếp loại cây trồng đường phố thì độ chính xác phụ thuộc lớn vào việc lượng hóa tiêu chuẩn. Lượng hoá tiêu chuẩn khi mà các đối tượng có sự tương đồng với nhau, cùng trong điều kiện ngoại cảnh tương tự nhau. Trên đây là những thang điểm tối đa, còn loài nào vi phạm một trong các tiêu chuẩn thì phụ thuộc vào mức độ mà giảm dần điểm: Ví dụ trong tiêu chuẩn hình dáng: Thân thẳng đẹp tròn thì cho 3 điểm; thân không được thẳng lắm 2 điểm; thân cong xù xì thì cho 1 điểm. Tập hợp các số liệu điều tra thực tế gắn với điều kiện lập địa ở thành phố Hạ Long và những dữ kiện đã được nghiên cứu xác định trong tài liệu của các chuyên gia cùng với việc tiến hành chỉnh lý số liệu ta thu được bảng lượng hoá sau: Biểu 01: Bảng lượng hoá 6 tiêu chuẩn của 14 loài cây Chú thích: Thang điểm của 6 tiêu chuẩn trên được cho như sau. Khi nói tới cây xanh cảnh quan thì điều kiện đầu tiên chúng ta phải kể đến là hình dáng của cây, đặc biệt đối với cây xanh đường phố. Hình dáng của cây là phần nổi, là hình ảnh đầu tiên chúng ta cảm nhận được cái đẹp, nét đẹp thẩm mỹ tính khoa học nghệ thuật qua đó. Thân thẳng đẹp thế vóc dáng của cây nó mang vẻ đẹp tự nhiên nhưng chứa đựng những nét nghệ thuật mặt khác cây trồng đường phố không được che tầm nhìn và không ảnh hưởng tới giao thông nên cần có thân trụ thẳng. Cây trồng đường phố cần phải đảm bảo không được phá vỡ các công trình xây dựng, không làm ảnh hưởng đến giao thông vì vậy mà cây phải không có bạnh vè, rễ nổi hoặc nếu có thì phải ít. Sự phong phú, đa dạng về hình dáng của cây xanh có khả năng phù hợp với nhiều kiểu kiến trúc sẽ tăng thêm giá trị nghệ thuật, che được các nét cứng nhắc, góc chết của công trình. Qua bảng lượng hoá ta đã đưa ra số cây ở thành phố Hạ Long có hình dáng đẹp như: Sao đen, Sấu, Trứng cá... Hương sắc hoa cũng là một tiêu chuẩn quan trọng với mục tiêu cây xanh cảnh quan. Cách sắp xếp tự nhiên của hoa trên cành trên tán, sự phối hợp màu xanh của lá với màu sắc của hoa tạo nên cảnh quan rực rỡ, đó là sự tinh tế mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta. Khi đã có phong cảnh đẹp do có sự phối kết giữa yếu tố hình dáng và màu sắc cộng thêm yếu tố hương hoa thì vẻ đẹp của cảnh quan sẽ trở lên toàn mỹ hơn. Nhưng các loài cây trồng đường phố có rất ít loài mang cả hương lẫn sắc, thường nhiều loài có sắc nhưng không có hương hoặc có hương nhưng không sắc. Các loài cây có hoa đẹp: Muồng đen, Phượng vĩ, Bằng lăng... Cây đô thị nói chung và cây đường phố nói riêng thường được trồng nơi đông người sống và đi lại vì vậy các cây được lựa chọn đều phải giảm tối đa mức ô nhiễm, độc hại. Nếu hoa quả, nhựa và các chất tiết phytonxit của chúng gây ô nhiễm độc hại sẽ làm ảnh hưởng tới môi trường, cản trở giao thông và làm giảm mỹ quan. Những cây ô nhiễm độc hại cần loại bỏ, còn nếu mức độ ô nhiễm bình thường thì vẫn có thể xem xét các tiêu chuẩn khác, chẳng hạn cây Bàng có quả chín rụng gây bẩn đường phố hấp dẫn ruồi nhặng, cản trở giao thông nhưng lại có dáng đẹp và có khả năng chống chịu gió bão tốt vì thế người ta vẫn dùng bàng ở đường phố. Cây trồng muốn sinh trưởng tốt thì phải được sống ở nơi có điều kiện lập địa phù hợp. Cây xanh đô thị cũng vậy muốn sống được thì phải thích ứng với điều kiện hoàn cảnh môi trường đô thị như: chịu được hoàn cảnh khắc nghiệt của đô thị nghĩa là cây xanh phải chịu được khói, bụi, tiếng ồn, chịu được không gian sống chật hẹp, đất xấu, chịu được môi trường ô nhiễm, chịu được những tác động của con người thường xuyên. Cây đường phố còn chịu sự cắt tỉa để tạo nên cảnh quan phù hợp với kiến trúc, không gây cản trở giao thông và các công trình khác (đường, dây điện, nhà ở....) khi cắt tỉa xong thì mọc chồi mới ngay để giữ được vẻ đẹp tự nhiên và duy trì cảnh quan. Nếu cây bị bệnh gây ra sự sợ hãi nguy hiểm đến con người và làm giảm vẻ đẹp cảnh quan của đường phố. Để xây dựng một cảnh quan đẹp là rất khó nó đòi hỏi phải tốn nhiều công sức trong thời gian rất dài vì vậy muốn giữ được cảnh quan môi trường ổn định thì phải chọn những cây lâu năm. Mỗi đô thị khác nhau có điều kiện lập địa khác nhau nên khi lựa chọn cây cần xem xét đến tiêu chí điều kiện lập địa xem loài cây đó có sinh trưởng tốt ở hoàn cảnh đô thị đó không. Chẳng hạn ở Hạ Long đất ven biển chủ yếu là đất mặn, đất cát biển thì cây phải chịu được mặn thích nghi với đất cát có như vậy cây mới sinh trưởng tốt và khoẻ mạnh đáp ứng tốt mục tiêu cảnh quan cũng như những mục tiêu khác đấy là tiêu chuẩn quan trọng nhất trong những tiêu chuẩn được đưa ra. Cây xanh đường phố trồng nơi có nhiều công trình xây dựng, đường dây điện, người qua lại, cho nên một yêu cầu với cây xanh đường phố là ít đổ gãy, cành cây dẻo, mềm không gãy, tán nhỏ nhẹ, rễ cọc ăn sâu, bộ rễ khoẻ. Số liệu này được lấy từ kinh nghiệm của người dân và các chuyên gia và qua tìm đọc nghiên cứu một số tài liệu có liên quan. Tiêu chuẩn này gồm ba yếu tố: cây thường xanh, tán lá kín dày, to và nhám. Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như: loài cây có lá chét thẳng đứng có nhiều tác dụng về ngăn chặn bụi ồn hơn loài cây có lá chét ngang, loài cây có sức sinh trưởng mạnh tốt hơn loài cây có sinh trưởng chậm. Nhưng nhìn chung thực vật đều có khả năng này, nó ở các mức độ khác nhau và đây chính là tiêu chuẩn để phân định sự hơn kém đó. Đây là tiêu chuẩn quan trọng đối với các nhà thiết kế cảnh quan nói chung và thiết kế cây xanh đường phố Hạ Long nói riêng. Do lượng bụi ở thành phố Hạ Long trong không khí (50g/m2/tháng) rất nguy hại cho sức khoẻ con người, làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan của đường phố. Vì vậy các nhà thiết kế quy hoạch cây xanh thành phố Hạ Long cần chú trọng tiêu chuẩn này. 5.4.2 Tìm ra những tiêu chuẩn mang tính chất chủ đạo và những tiêu chuẩn không ảnh hưởng đến các tiêu chuẩn khác Để làm được việc này ta tiến hành lập ma trận về hệ số tương quan giữa các tiêu chuẩn với sự trợ giúp của phần mềm Excel: Tool - Data Analysis - Correlation. Từ kết quả trên, ta thấy tiêu chuẩn hình dáng (1), khả năng thích ứng (4), khả năng chống bụi chống ồn (6), khả năng chống chịu gió bão (5) có liên quan tương đối chặt (vì có tương quan với một số tiêu chuẩn khác với hệ số lớn hơn 0.5) đó là các tiêu chuẩn có tác dụng chi phối các tiêu chuẩn khác. Còn tiêu chuẩn hương sắc hoa và hoa quả nhựa không gây mủ, ô nhiễm độc hại có tương quan vừa phải. Tuy nhiên chúng không kém phần quan trọng cho mục tiêu đã xác định nhưng nó không liên hệ nhiều với các tiêu chuẩn khác. Mục đích của phương pháp này là để so sánh các loài cây với nhau để lựa chọn các loài cây tối ưu. Nội dung của phương pháp là mỗi tiêu chuẩn đem sắp xếp các chỉ số đo được của các loài cây theo nguyên tắc sau: các tiêu chuẩn tăng có lợi thì đánh số thứ hạng từ tốt đến xấu, còn các tiêu chuẩn giảm có lợi thì sắp xếp từ trị số nhỏ nhất đến trị số lớn nhất. Ta kí hiệu các trị số này là Xij. Sau đây là bảng xếp hạng các tiêu chuẩn: Biểu 03: Bảng xếp hạng các tiêu chuẩn của loài cây theo Yij là giá trị của các tiêu chuẩn đã được chuẩn hoá theo phương pháp thứ hạng. Qua biểu 04 cho ta kết quả đã được chuẩn hoá theo hướng càng lớn thì càng tốt cho các tiêu chuẩn. Qua phương pháp trên, các loài cây trồng đường phố Hạ Long được đánh giá và xếp hạng như sau: Sấu, Sao đen là loài cây tối ưu nhất; tiếp đến là phi lao xếp thứ 2; sau đó lần lượt là Trứng cá, Muồng, Xà cừ....Vị trí cuối cùng là Keo tai tượng. Tuy nhiên với vị trí được xếp hạng như trên chỉ là tương đối chính xác vì đặc điểm của phương pháp này là đơn giản, vận dụng linh hoạt trong thực tế nhưng chưa khai thác hết được lượng thông tin của số liệu và phương pháp mới chỉ chú ý đến vị trí của từng tiêu chuẩn mà chưa chú ý đến giá trị thực (Xij). Chỉ tiêu nào có điểm cao hơn thì ở vị trí cao hơn nhưng lại không rõ là cao hơn bao nhiêu vì vậy giữa hai số chỉ khác nhau một số lẻ là có thể nhận hai số hạng khác nhau. Các tiêu chuẩn để lựa chọn cây trồng đường phố được đưa ra ở trên đều là chỉ tiêu tăng có lợi. Kết quả xếp loại một số cây xanh đường phố Hạ Long theo phương pháp này: Loài cây xếp vị trí thứ nhất là Muồng đen; tiếp theo lần lượt là Bằng lăng, Sữa, Sấu, Sao đen, .... Theo phương pháp này Muồng đen vẫn xếp vị trí 1, Sấu và Sao đen vị trí 2, vị trí cuối vẫn là Keo tai tượng. Mục tiêu cuối cùng của phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn là tiến đến so sánh và lựa chọn mô hình tối ưu, ở đây có hai phương pháp. 5.6.1 So sánh trên cơ sở trung bình hoặc tổng số số tiêu chuẩn cho mỗi mô hình trên cơ sở các bảng số liệu đã được chuẩn hoá Qua biểu 07 cho thấy Muồng đen có hai lần đứng ở vị trí thứ nhất trong 3 phương pháp chuẩn hoá: Sấu và Sao đen ở phương pháp thứ hạng cả hai đều đứng ở vị trí thứ nhất và ở phương pháp chỉ số canh tác cải tiến chúng cùng đứng ở vị trí thứ 2; Bằng lăng đứng thứ 2 trong phương pháp chỉ số Ect; Phi lao, Sữa lần lượt đứng vị trí thứ 3 trong phương pháp cải tiến, phương pháp cải tiến Ect. Có thể thấy một số loài có tác dụng lớn về nhiều mặt hiện đang được trồng phổ biến ở đường phố Hạ long như: Muồng đen, Sấu, Sao đen, Bằng lăng, Sữa, Phi lao, đây là loài cây trồng đường phố đạt hiệu quả cao nhất và thích nghi tốt với điều kiện thành phố Hạ Long. Keo lá tràm, Vông đồng là những loài cây thường đứng gần và cuối bảng xếp hạng, còn những loài cây còn lại có những ưu điểm nhất định. Nhược điểm của phương pháp này là chưa có sự ưu tiên với những tiêu chuẩn quan trọng. Tiêu chuẩn cây trồng đường phố bao gồm nhiều tiêu chuẩn có mức độ quan trọng khác nhau. Khi so sánh và lựa chọn các loài cây khác nhau ta cần phải ưu tiên các tiêu chuẩn quan trọng của cây. Phương pháp có trọng số sẽ giúp chúng ta có sự ưu tiên cho các chỉ tiêu quan trọng. Nếu gọi Y1,Y2,...,Yn là các trị số và P1, P2,...Pn là các trị số ứng với n tiêu chuẩn cho một mô hình thứ i thì mỗi mô hình được tính điểm là: Đem các trọng số P đã được chọn này nhân với các tiêu chuẩn tương ứng rồi tính tổng điểm đối với từng phương pháp chuẩn hoá ta có biểu tổng hợp kết quả sau: Theo phương pháp cho trọng số như trên thì cây Sao đen và cây Sấu đều đứng vị trí thứ nhất ở cả 2 phương pháp, Phi lao luôn đứng vị trí thứ 3 trong cả 2 phương pháp, cây Trứng cá và cây Muồng đen thay nhau đứng vị trí thứ 4, đứng cuối bảng vẫn là cây Keo tai tượng. Những loài cây còn lại thay đổi ít nhiều thứ tự xếp hạng, nguyên nhân có thể do phản ứng của mỗi cây đối với điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, mực nước ngầm ở thành phố Hạ Long là khác nhau và những tác động cắt tỉa, chăm sóc của con người lên từng cây cũng khác nhau. Căn cứ vào mức độ quan hệ giữa các tiêu chuẩn ở bảng 02 ta lập thành từng nhóm các tiêu chuẩn có hệ số tương quan từ cao xuống thấp như sau: Ta được: kết quả của phương pháp thứ hạng với trọng số theo phương pháp phân nhóm phụ biểu 03 Ở phương pháp này kết quả vẫn không có sự thay đổi là mấy: Sấu và Sao đen vẫn là 2 loài cùng đứng ở vị trí thứ nhất và Phi lao vẫn đứng vị trí thứ 3 trong cả 2 trường hợp, Trứng cá và Muồng thay nhau đứng vị trí thứ 4. Đứng cuối cùng của bảng xếp hạng là Keo tai tượng và có thêm loài Vông đồng (đứng thứ 13 trong cả 2 phương pháp). Phương pháp này có ưu điểm là trọng số có thể ưu tiên ở những nhóm tiêu chuẩn có hệ số tương quan cao hơn so với những nhóm có hệ số tương quan thấp. Nhưng không thể tránh khỏi chủ quan vì trọng số cũng do người đánh giá quyết định và có thể có những tiêu chuẩn ít có quan hệ với tiêu chuẩn khác nhưng cũng rất quan trọng như tiêu chuẩn hoa, quả, nhựa không gây ô nhiễm. Như vậy hàng 1 và cột 1 tiếp tục bị loại, tiếp tục tính toán như vậy cho từng ma trận R(3), R(4), R(5) ta sẽ nhận được các giá trị tương ứng: Đem các trọng số nhân với giá trị của các tiêu chuẩn tương ứng ta được - Kết quả của phương pháp thứ hạng theo phương pháp có trọng số tính bằng phương pháp tương quan phụ biểu 05 - Kết quả của phương pháp chỉ số canh tác cải tiến theo phương pháp có trọng số tính bằng phương pháp tương quan phụ biểu 06. Biểu 11: Kết quả so sánh 14 loài cây theo phương pháp có trọng số tính bằng phương pháp tương quan Theo phương pháp này hai loài Sấu và Sao đen vẫn luôn đứng vị trí thứ nhất, Phi lao không thay đổi vị trí thứ 3, tiếp đến là Sữa đứng thứ 4, xếp cuối cùng vẫn là Keo tai tượng và Liễu đều đứng ở vị trí thứ 13 trong cả hai phương pháp. Vậy qua kết quả của các phương pháp có trọng số tính theo theo chuyên gia, trọng số tính theo tương quan, trọng số tính theo phương pháp phân nhóm ta thấy kết quả gần tương tự nhau. Sau khi tính toán kết quả ta có 3 phương pháp chuẩn hoá với ba cách cho trọng số thì vị thứ của 14 loài cây sẽ như sau trong 9 lần xếp hạng. Qua bảng trên cho thấy Sấu và Sao đen là hai loài đều có thứ hạng rất giống nhau có tới 7 lần đứng thứ 1, một lần đứng thứ 2, một lần đứng thứ 3 trong tất cả 9 lần xếp thứ hạng. Đây là loài cây luôn dẫn đầu trong các bảng xếp thứ hạng và thực tế cho thấy chúng có nhiều ưu điểm như: Hình dáng đẹp, khả năng thích ứng cao. Đặc biệt hai loài Sấu và Sao đen đều có hình dáng đẹp lá xanh quanh năm, khả năng chịu được những tác động bất lợi của môi trường và thiên nhiên tốt. Muồng đen dáng không đẹp bằng hai loài trên nhưng loài này lại có hoa màu vàng đẹp tô điểm cho cảnh quan đường phố. Bằng lăng cũng là loài cây cho hoa màu tím tô điểm đường phố và có khả năng thích ứng cao, trong các lần xếp hạng Bằng lăng đứng ở các vị trí từ thứ 2, 4 đến 7, 8; loài này thường thấp hay gây cản trở tầm nhìn giao thông nguy hiểm cho người và phương tiện chỉ thích hợp với loại đường không cho phép xe ô tô tải trọng lớn đi qua như ở Hạ Long với đường phố hẹp họ rất thích trồng loại cây này. Tiếp theo là loài Sữa và Trứng cá có thứ hạng từ 3, 4 đến 7, 8 hai loài là cây trồng đường phố rất thích hợp, tán và dáng đều đẹp, lá xanh quanh năm, lá trứng cá có khả năng chống bụi chống ồn rất tốt, mùa hoa Sữa kéo dài có mùi thơm, có khả năng diệt khuẩn nhưng đối với con người nếu hương quá nồng sẽ gây tổn hại đến sức khoẻ con người. Đây là những loài cây dễ gây trồng, sinh trưởng tốt tạo cảnh quan đường phố, như cây Bàng tán đẹp tạo bóng mát nhanh chỉ sau hai ba năm đã cho bóng mát và tạo cảnh quan cho đường phố, Phượng vĩ sau khi đổ gãy, cây có khả năng đâm chồi, nảy lộc ngay vì vậy cảnh quan vẫn luôn xanh tươi không bị gián đoạn. Đặc biệt Phượng vĩ ngoài màu xanh của lá cây còn có mùa hoa màu đỏ kéo dài và đã được đi vào thơ ca hội họa rất nhiều. Vị thứ của các loài này thường đứng vị thứ 5 đến vị thứ 12; sở dĩ những loài này ít được xếp các thứ hạng đầu là do bên cạnh những ưu điểm chúng còn mang những nhược điểm lớn so với tiêu chuẩn cây xanh đường phố, nên khi chuẩn hoá chúng không được cho điểm cao ở những nhược điểm như: phượng vĩ thân cành cong queo dễ đổ gãy, tán thưa rời rạc; Bàng loài cây hay sâu bệnh, quả thịt rụng làm ô nhiễm môi trường cản trở giao thông; Xà cừ là cây có bộ rễ khoẻ nhưng tán nặng nề, nên chống chịu gió bão không như những cây khác nhưng trồng cây bóng mát, chống bụi, chống ồn, cách ly, chống hoá chất khí độc nó lại là cây ưu việt hơn cả nên nó vẫn được trồng rất nhiều ở đường phố Hạ Long. Những loài cây Liễu, Vông đồng, Keo tai tượng, Keo lá tràm là những loài cây thường đứng gần và cuối bảng, do Vông đồng hình dáng đẹp thích hợp với điều kiện đất phèn mặn nhưng nó rất dễ đổ gẫy, Liễu cành nhánh mềm, rủ đẹp thích hợp với ven hồ công viên… còn Keo tai tượng và Keo lá tràm vừa phân cành thấp lại hay đổ gẫy theo tôi không nên trồng hai loài cây này ở đường phố, chỉ nên trồng ở nơi cải tạo đất. Thực tế những loài cây trên được trồng rất phổ biến ở đường phố Hạ Long, bởi mỗi loài cây có một ưu điểm riêng và đi đôi với ưu điểm là nhược điểm. Do đó, khi trồng ở đường phố nhà thiết kế cây xanh phải chọn những loài cây đạt những tiêu chuẩn chính và có tham khảo tới sở thích của người dân đô thị. Trên cơ sở nghiên cứu môi trường đô thị, điều kiện hoàn cảnh sống của cây xanh đô thị và những đặc điểm sinh thái học của các loài cây. Ta thấy, cây xanh có vai trò to lớn đối với môi trường và con người đô thị, mỗi loài cây thích hợp với từng điều kiện hoàn cảnh lập địa nhất định. Vì vậy, việc đưa ra những tiêu chuẩn về cây xanh đường phố và đánh giá, xếp loại cây xanh đường phố là vấn đề cấp thiết. Với mục tiêu của đề tài là đánh giá và xếp loại một số loài cây xanh thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long bằng cách áp dụng phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn. Tìm hiểu rõ được đặc điểm sinh học, tình hình sinh trưởng phát triển của một số loài cây xanh thường gặp trên đường phố Hạ Long, và đã sử dụng phương pháp đa tiêu chuẩn để đánh giá xếp loại cho 14 loài cây xanh thường gặp trên đường phố Hạ Long. Nhưng việc cho điểm và xếp thứ hạng của đề tài không phải nhằm mục đích loại trừ mà là sự gợi ý có căn cứ khoa học, là cơ sở để các nhà thiết kế cây xanh cảnh quan căn cứ vào đó mà lựa chọn loài cây phù hợp với điều kiện lập địa, khí hậu, địa hình, không gian, kiến trúc và thị hiếu của con người ... Vì vậy, kết quả thu được của từng phương pháp có sự sai khác nhất định, nhưng để có kết quả xếp hạng thật chính xác thì việc xây dựng tiêu chuẩn và lượng hoá tiêu chuẩn là rất quan trọng, nó đòi hỏi phải có tầm hiểu biết rộng có kiến thức ở nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau. Khi tiến hành các công việc này cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm cũng như của người dân để bảng xếp hạng đạt được độ chính xác cao nhất. Trong đó chỉ số canh tác cải tiến tỏ ra ưu việt hơn hai phương pháp kia vì nó đã kết hợp được ưu điểm của hai phương pháp thứ hạng và phương pháp chỉ số canh tác Ect mà lại thu được kết quả nhanh chóng. Nhưng để có kết quả chính xác, theo tôi nên dùng phương pháp có trọng số tính bằng phương pháp tương quan, nó khắc phục được hầu hết các nhược điểm của ba phương pháp chuẩn hoá và hai phương pháp có trọng số còn lại, vì nó đã có sự ưu tiên đối với các tiêu chuẩn cần ưu tiên bằng việc cho trọng số dựa trên tương quan giữa các tiêu chuẩn với nhau nên đảm bảo tính chính xác và tính khách quan của kết quả. Do đó, tôi đã sử dụng kết quả của phương pháp chỉ số canh tác cải tiến với trọng số tính theo phương pháp tương quan để đưa ra bảng xếp loại từ cao xuống thấp của 14 loài cây trồng thường gặp trên đường phố tại thành phố Hạ Long như sau: Tuy nhiên phương pháp trọng số theo tương quan tính toán phức tạp và lâu hơn các phương pháp trên. - Do thời gian nghiên cứu ngắn nên không có được những đánh giá chính xác của mỗi loài cây trong mỗi mùa khác nhau, đồng thời do năng lực bản thân còn hạn chế nên việc lượng hoá các tiêu chuẩn, phân tích các tiêu chuẩn còn gặp nhiều khó khăn - Đề tài mới chỉ đi sâu nghiên cứu một số chỉ tiêu quan trọng cây xanh đường phố. - Chúng tôi đã nghiên cứu 14 loài cây trồng thường gặp ở đường phố Hạ Long, còn một số loài khác như: Long não, Ngọc lan, Me,... - Cần tiếp tục nghiên cứu thêm một số tiêu chuẩn khác như: khả năng chống chịu hoá chất, khí độc, sở thích gây trồng của người dân đối với mỗi loài cây và có thời gian đủ để theo dõi được những biến động về giá trị của các loài cây trong những khoảng thời gian khác nhau. - Trong phương pháp đa tiêu chuẩn tôi thấy rằng cần phải nghiên cứu sâu hơn nữa về các phương pháp cho trọng số vì phương pháp này cho kết quả có độ chính xác và tính khách quan cao.Đặc biệt nếu làm việc với chuyên gia có kinh nghiệm tốt thì nên dùng phương pháp cho trọng số theo phương pháp chuyên gia, phương pháp này giúp tính toán đơn giản và kết quả vẫn chính xác. Cần nghiên cứu thêm về các loài cây khác có khả năng thích ứng với điều kiện lập địa Hạ Long, từ đó đưa ra những đề xuất làm phong phú số loài cây trồng đường phố cho thành phố Hạ Long 5.4.2 Tìm ra những tiêu chuẩn mang tính chất chủ đạo và những tiêu chuẩn không ảnh hưởng đến các tiêu chuản khác 30 5.6.1 So sánh trên cơ sở trung bình hoặc tổng số số tiêu chuẩn cho mỗi mô hình trên cơ sở các bảng số liệu đã được chuẩn hoá 36 SÊu CÊp tuæi II 18.96 4.3 6.43 2.12 Bµng CÊp tuæi II 19.7 4.75 7.66 3.783 Ph­îng vÜ CÊp tuæi III 41.1 7.65 9.616 3.783 LiÔu CÊp tuæi II 18.3 3.4 4.86 1.83 Sao ®en CÊp tuæi II 17.066 3.766 5.45 1.99 Trøng c¸ CÊp tuæi II 21.43 6.88 5.85 2.293 S÷a CÊp tuæi II 27.33 4.15 5.953 2.443