108 truyện tiếu lâm

Thể loại: Truyện cười
Lượt xem: 76,810Lượt tải: 10Số trang: 28

Mô tả tài liệu

Ba cuốn TIẾU LÂM AN NAM mà quý bạn đang đọc đây là những cuốn sao chép từ bộ sách do HIỆU ÍCH KÝ, 58 Phố Hàng Giấy Hà Nội ấn hành nhiều lần (lần thứ ba là vào năm 1924). Về sau, sách được tái bản bởi một nhà xuất bản khác là HIỆU QUẢNG THỊNH ở Phố Hàng Gai và vì không muốn dùng danh từ "an nam" nữa cho nên sách được đặt tên là TIẾU LÂM QUẢNG KÝ (Tiếu lâm là rừng cười Quảng là rộng rãi KÝ là ghi chép). Cái tên QUẢNG KÝ đã khiến cho tôi đoán rằng: có...

Tóm tắt nội dung

Về sau, sách được tái bản bởi một nhà xuất bản khác là HIỆU QUẢNG THỊNH ở Phố Hàng Gai và vì không muốn dùng danh từ "an nam" nữa cho nên sách được đặt tên là TIẾU LÂM QUẢNG KÝ (Tiếu lâm là rừng cười - Quảng là rộng rãi - KÝ là ghi chép). Cái tên QUẢNG KÝ đã khiến cho tôi đoán rằng: có lẽ đây là sự hợp tác của hai nhà QUẢNG (THỊNH) và ( ÍCH) KÝ trong việc ấn loát và phát hành 108 truyện vui cười do bố tôi đã ghi chép từ dân gian này. nhiều bậc đạo đức phải giấu giếm vì bị coi là tục tĩu, nhưng thực ra thì hầu hết đều đọc vì ai cũng nhận rằng cái cười là cái riêng biệt của con người (le rire est le propre de l'homme) - cái cười chân thật, cao cả, hồn nhiên có sức quyến rũ và bồi bổ -- le rire franc, large, spontané et réconforte (DALE CARNEGIE); cái cười không những là phép trị bịnh rất thần hiệu mà còn là nguồn chính của nhuệ khí nữa -- le rire est non seulement un puissant thérapeutique mais une véritable source de jouvence ( JAMES SULLY) " Trong hơn nửa thế kỷ loạn lạc trên đất nước và phân hoá trong lòng người, ngoài một truyện ngắn (SỐNG CHẾT MẶC BAY) được đưa vào chương trình giáo dục của chính quyền miền Nam trước đây, toàn bộ tác phẩm của nhà văn, nhà báo Thọ An - Phạm Duy Tốn chưa được biết tới... cho nên vào lúc cuối đời, vì không thể cùng với các bạn làm văn học (nhất là các bạn ở trong nước) làm ngay cuộc sưu tầm và công bố toàn thể sự nghiệp của Thọ An - Phạm Duy Tốn, tôi mạo muội tự làm công việc tìm tòi để cho đăng trên mạng lưới INTERNET, rồi cho vào một CD-Rom những tài liệu mà tôi có được của bố tôi trước khi tôi chết. Tối thiểu, tôi cũng làm được một điều rất bình thường và rất cần thiết là có ngay một chút gia tài còn lại của bố tôi để truyền cho các con, các cháu và các chít... Những chuyện này cũng có nhiều câu lý thú, nhưng mà lời lẽ thường không được thanh nhã lắm; bởi vì rặt là chuyện góp: khi năm ba anh em vui chơi, hoặc thấy lắm sự buồn cười, hoặc thấy nhiều điều trái dở, cho nên đặt ra chuyện để mà bài bác, không giữ gìn lời lẽ. Chuyện là chuyện từng người một đặt ra bốn phương góp lại, cho nên là tinh thần chung cả một dân, chứ không phải tư tưởng riêng của một người nào. Vì thế chúng tôi nhặt nhạnh mỗi nơi một ít, in ra, để lúc nào anh em hứng vui, sẵn có mà xem cho giải trí; trước là mua được trận cười, sau nữa ghi để những tinh thần của người nước mình đã phát hiện ra ở những chuyện ấy. Kìa như các nước Thái Tây, những đấng văn nhân cũng còn dụng công ghi chép những chuyện vui cười, làm ra thành sách; huống chi là nước ta, nhờ có chữ quốc ngữ, chắc hẳn mai sau văn chương mình cũng có thể phát đạt, thì những chuyện này rồi ra cũng là một cái di tích đáng quý, sao lại nỡ bỏ? Một hôm, bác nọ, vợ đi vắng; ở nhà trời mưa, có váy vợ phơi quên không cất vào, để mưa ướt cả. Bà ấy có người con gái; đêm đến, mẹ con cùng ngủ với nhau ở dưới bếp, để riêng nhà trên cho thầy đồ và con trai nằm. Cách mấy tối, thầy đồ ta lại lò dò trèo lên mái nhà bếp; đương dỡ rơm để trụt xuống, bỗng thấy bà lão lại hỏi rằng: hỏi thế này thì khí không phải: đường này có lên trời được không?... Một anh đã phải vợ có máu hay ghen lại còn đi rước một cô vợ lẽ về nhà; để đến nỗi vợ cả sinh chuyện lôi thôi, đêm đêm mang nhốt vợ lẽ vào trong buồng, bắc chõng nằm ngang cửa, canh giữ, không cho anh chồng bén mảng đến. Anh ta tức quá, chẳng biết làm thế nào mà vào lọt được. Một hôm, chồng đi chơi về khuya ; chị ta giả tảng sốt, làm bộ nằm trong màn không dậy. mình có muốn ăn gì không, để bảo nó đi mua ? -- Ông lại gì cho một cái bây giờ chứ. Chồng mơ mơ màng màng, tưởng vợ hỏi mình có muốn ăn một cái bánh chưng sốt sột chăng, mới nói rằng : Chị con gái kia thẹn, đỏ mặt chín nhừ: thấy ông lão nói bắt đền, thì sợ quá, mới chắp tay van rằng : Vía ông Thổ công nhà tôi có phải là chuyện chơi đâu? Chị con gái thấy thế, sợ cuống, vội vàng chạy lại nắm áo ông lão mà kêu xin rằng: -- Tôi lạy ông vạn lạy, ông đừng làm thế, mà người ta cười tôi chết !... Ông lão không nghe, cứ làm già; chị kia thì năn nỉ, van lạy mãi. -- Thế thì chị phaỉ nằm xuống để tôi thu vía ông Thổ công nhà tôi lại. Thu một hồi lâu, tha cho cô ả về; còn ông cụ thì nhọc lử cò bợ; nằm thẳng cẳng như người chết rồi. Cô ả quen mui, trưa hôm sau lại dẫn đến nhà ông lão, te tái gọi ông lão mà nói rằng: Nhưng mà ông lão mệt quá, thở không ra hơi; nằm từ hôm qua, cũng chưa lại hồn. Một hôm, đương đi ở ngoài đường, chợt có đứa bé con trông thấy; nó mới gọi mẹ nó mà bảo rằng : Có một làng, từ ông thủ chỉ cho đến anh cùng đinh, ai ai cũng sợ vợ cả. Một hôm, họp nhau bàn soạn, có một người đứng lên nói rằng : Giá mà ta họp nhau lại, như đũa cả nắm, khó bẻ, thì nó không làm gì nổi. Bọn kia chạy chừng một quãng, ngoảnh lại trông, thấy ba ông ấy vẫn cứ quì ở giữa chiếu. Mới lao xao bảo nhau mà khen rằng: "Ừ, thế chứ lại ! Ai ngờ đến gần, thì thấy ba ông đã chết cứng cả tự bao giờ rồi ! Một đêm, thầy đồ muốn đi đồng, nhưng mà tính nhát; phần thì sợ ma, phần thì sợ chó, cho nên không không dám mở cửa ra. Ðến sau mót quá, không thể nào nhịn được nữa, mới đào một cái hố ở ngay kẽ vách, rồi ngồi iả phứa vào đấy. Sáng mai, thầy đồ ta gọi chủ nhà lại, trỏ cái hố mà bảo rằng : Nó mới gọi cả nhà đến đông đủ mà bảo rằng : Ðêm hôm qua có trộm đào ngạch, thế mà chó không con nào biết gì sốt ! May có ông đồ, không thì khốn ! Người đàn bà góa tức lắm, lập mưu để mà trừ hai cái nợ ấy đi; nhất là bác thầy tu tệ quá. Một hôm, chị ta cho người nhà đến bạch với sư ông rằng : -- Sư ông đã có bụng thương yêu đến, thì cô tôi cũng xin vâng. Vậy tối hôm nay, đầu trống canh hai, mời sư ông lại chơi; mà sư ông có lại, thì Người lấy ít vôi bôi lên đầu, rồi đến ngồi ở cạnh cửa; có ai thấy, tưởng là con chó đá, thì không nghi ngờ gì cả. -- Ông đã có lòng thương yêu đến cô tôi, thì còn gì bằng nữa ? Hễ ông có lại, thì ông mang cái tay thước đi, giả làm đi tuần, để cho người ta khỏi nghi. Ðến cửa có con chó đá, ông cứ gõ một cái rõ mạnh vào đầu nó, ở trong nhà nghe thấy, sẽ ra mở cửa mời ông vào. Ông sư được tin ấy, mừng lắm, vội vàng đi tắm rửa sạch sẽ, cạo đầu mới mẻ, bôi vôi trắng hếu; rồi chưa hết canh một, đã dò đến ngồi chồm chỗm ở chổ xó cửa nhà người đàn bà góa. Ðến nơi thấy đầu ông sư trắng hếu, chắc là đầu con chó đá đấy, mới giơ thẳng cánh đập đánh "chát" một cái. Ông Lý thấy thế, nghĩ chó đá nhà ấy thánh thần, sợ mất vía, cũng ù té bỏ cả tay thước mà chạy. Một hôm, một ông sư và ba bà vãi, ra thăm vườn chùa; bắt được một tổ ba con chiền chiện, đem về chùa, làm lễ phóng sinh. Ông sư tức quá, quay lại, vạch quần ra mà gắt rằng : Ngày xưa, có một ông Huyện đi làm quan xa. Một hôm, ông Huyện sai thằng người nhà về thăm xem bà Huyện đã ở cữ chưa. Vốn thằng ấy vẫn ngây ngô, lại hay sợ việc đàn bà đẻ; cho nên khi về đến nhà, không dám vào ngay, còn đứng ở ngoài hàng rào, để nghe ngóng. -- Bẩm, con không tường là cô hay là cậu; nhưng mà con nhìn thì thấy giống ông lắm. Một ông sư, lòng nhân đức, đi qua, thấy mụ ấy kêu, thì chạy lại cứu. Hai người lúng túng; ông sư vẫn không dám lấy tay gỡ, đành chịu chết đứng lom khom ở đấy; mà mụ kia thì cứ nhăn mặt kêu. Phần sư thì mỗi ông hai phẩm oản; nhưng mà nhà chủ thì lại đưa thừa ra một phẩm. Ba ông sư không biết ai lấy ai đừng, mới bảo nhau lúc nào đi ngủ, thì sai tiểu sờ, hễ đầu ông nào nhẵn nhụi nhất, thì được lấy phẩm oản thừa ấy. Phần bà vãi chỉ được có một phẩm oản, thì đã lấy xong rồi. Nhưng nhà có nhiều cháu, không biết làm thế nào mà chia cho đủ được. Ðợi cho ba ông sư tắt đèn rồi, bà ta rón rén lại nằm phục ở bên cạnh, tốc ngược váy lên, để hở mông ra. Ðến lúc chú tiểu đi sờ đầu sư, sờ đến mông bà vãi, thấy nhẳn nhụi lắm, mới lấy tay xoa mãi mà khen rằng : Chứ sư ông xơi gì mà béo đến nỗi đầu múp có rãnh ra thế này ? Xưa có một ông Quan đi làm đê; có một cái lông voi vẫn để xỉa răng, bỏ quên ở nhà. Lại phải anh lính ngớ ngẩn, đi đường quên mất, không nhớ là lông gì, chỉ nhớ "lông" không mà thôi. Bà ngẩn ra, không hiểu làm sao ông lại cho nó về lấy một cái lông ! Hay là ông nhớ, mà muốn có một cái của mình để cho đỡ nhớ chăng ? Vội vàng vào trong buồng, luồn tay nhổ một cái, gói vào mảnh giấy tử tế, mang ra đưa cho thằng lính mà dặn nó rằng : -- Mầy phải giữ cho cẩn thận, đừng có giở ra xem mà bay mất thì mày chết. Nhưng mà ban nãy nó quên, chỉ nhớ ông dặn về lấy cái lông, cho nên bây giờ nó tò mò, muốn biết rõ là lông gì. Song nó đã biết là lông gì rồi, cho nên vội vàng chạy về nhà, nói chuyện đầu đuôi với mẹ, và xin mẹ một cái lông khác để thế vào, không có thì Quan đánh chết. Nhưng mà trời mưa, giọt gianh chảy xuống "tanh tách", thì lại tưởng rằng mình vẫn còn đái chưa hết, cho nên cứ vạch quần, đứng mãi cho đến sáng. Có một anh nghiện thuốc phiện, buôn bán thua lỗ; vợ chồng đem nhau đi nơi khác làm ăn. Nhưng mà gió to không thể nào xài được; bảo vợ hếch váy lên để chui vào đấy mà hút cho đỡ gió. Có một anh hà tiện quá, đến nỗi không ăn mặc gì cả, sợ tốn vải, chỉ đóng khố bằng một cái thừng thôi. Nhưng mà lại thấy một nhà khác có hai vợ chồng với một người con gái, hà tiện hơn: cả đời chỉ ở truồng; ông cũng thế, bà cũng thế, cô cũng thế, cứ để nồng nỗng cả ra. Anh nọ bụng bảo dạ rằng : "Mình đã là hà tiện, mà nhà ấy lại còn hà tiện hơn. Hai vợ chồng nhà nọ cũng ưng; chọn ngày tốt, làm lễ thánh, chỉ bày cúng có một chén tương mà thôi. Cúng xong, bắt anh này hãy bỏ cái khố thừng ra, cất đi để dành, kẻo phí của; rồi bưng chén tương xuống đất, cùng ngồi ăn. Chẳng ngờ anh nọ đương ngồi, trông thấy của vợ thầy và của con thầy để thộn thện ra, thì tự nhiên của mình ngỏng lên, ngất nga ngất nghểu, chạm ngay phải chén tương đổ lêng láng, dính cả vào của anh ta. Ðời xưa vua Diêm vương ốm, muốn bắt một ông thầy thuốc hay ở trên Dương thế xuống để chữa bệnh cho mình, mới sai một thằng quỷ sứ đi lên trên Trần gian tìm kiếm. -- Hễ thầy thuốc nào mà có ít ma đứng ở ngoài cửa, là người ấy hay thuốc đấy; phải bắt ngay xuống đây cho trẫm. Thằng quỷ vâng lời đi lên trần, tìm suốt cả một ngày, ngoài cửa nhà thầy thuốc nào cũng thấy nhiều ma đứng, cho nên không dám bắt. Mãi đến sau mới thấy ở ngoài cửa nhà một thầy lang, chỉ có một con ma đứng mà thôi; bèn bắt thầy lang ấy xuống Âm phủ, đem nộp vui Diêm vương. -- Muôn tâu Bệ hạ, tôi mới làm nghề thuốc được ba hôm nay và mới chữa được có một đám. Có một anh rất làm biếng, không làm ăn gì cả. Ðói cũng chẳng buồn đi ăn mày mà ăn; đến nằm ngửa ở dưới gốc cây sung, há mồm ra, đợi cho quả sung chín rơi vào mồm mà ăn. Ðến sau đói quá, thấy có một anh ở đâu lững thững đi qua đấy. Anh làm biếng ta mới gọi mà bảo rằng : Chẳng ngờ anh kia cũng là một phường lười : lại gần lấy chân quặp quả sung bỏ vào mồm cho anh nọ, chứ cũng chẳng buồn cúi xuống. Có một anh tính hay quên, chẳng làm ăn gì được cả. -- Bây giờ không có lẽ lại cứ ngồi đó mà ăn không được. Phải tìm nghề nghiệp gì làm ăn, chẳng có thì đi lên rừng đẵn củi về để thổi, cũng đỡ khỏi mất tiền mua. Nhưng mà có cái nón đeo ở sau lưng, lại quên không bỏ ra, cho nên iả cả vào nón. Nhảy nhót thế nào đụng phải nón đeo ở sau lưng; ngoảnh cổ lại nhìn, thì thấy nón đầy những cứt; giận lắm, chửi rằng : Sắp sửa bị quân giặc bắt, bỗng tự nhiên nghe có tiếng bảo rằng: "Có ta giúp đây, đừng sợ !" Anh ta ngoảnh cổ lại nhìn, thì không thấy giặc đâu nữa, mà cũng chẳng thấy ai cả; mới chắp tay, vái rằng : -- Ta cứu nhà ngươi là vì rằng : kỳ thi võ mới rồi, nhiều người bắn ta khổ lắm; duy chỉ có một mình nhà ngươi là không nỡ bắn trúng ta thôi, cứ bắn ra ngoài xa cả. Có một chị con gái cấm cung, đến thì mà chửa có chồng. Lo sợ quá, không biết làm sao được, mới nhỏ to nói thật sự tình với vú già rằng : Nguyên ở cách đấy mấy phố, có một ông thầy chữa mắt giỏi lắm, xưa nay đã có tiếng; trước cửa thường treo cái biển vẽ một con mắt. Vú già kia đi đến đấy, trông thấy biển, chắc rằng nhà ông thầy mình đi tìm đấy rồi; mừng lắm, mới vào thưa rằng : Nói đau thôi, chứ cũng không có nói đau ở đâu, bởi vì bụng nghĩ rằng nói thế ông thầy tự khắc hiểu; mà ông thầy cũng tưởng cô nó đau mắt, cho nên mới hỏi rằng : Sao lại không cho gọi tôi trước, để đến bây giờ mộng thịt lồi lên như thế này, mới cho gọi tôi ?... thế nào mà để thối ra rồi mới cho gọi người ta ? Ông thầy thấy thế, tưởng rằng đánh mạnh quá, nổ con ngươi, vỡ nước ra; sợ lắm, ù té chạy mất. -- Không, nhà tôi có chữa chạy gì cho ai đâu ? Thầy mới lại chữa cho cô tôi hôm nọ, bây giờ cô tôi khỏi cả rồi, sai tôi đem cau lại tạ thầy đây mà ! Ông thầy bấy giờ mới chắc là nó đã khỏi thật; hỏi rằng : Ông thầy giẫy nẫy người ra, mới nghĩ rằng : Xưa có một người đàn bà góa, chồng mới chết, đến tháng bảy, đốt mã cho chồng; đón thầy cúng đến nhà để cúng và mời cả thầy đồ dạy học con lại chơi. Phải anh thầy cúng dốt; thấy ông đồ ở đấy, thì sợ rằng cúng sai, ông ấy bẻ, cho nên cứ chàng màng, giở hết khoa nọ, kinh kia; lần lữa mãi đến tối mịt mới vào cúng, hóa ra cỗ bàn thiu cả. Ông thầy biết vậy, nhưng mà cũng không nói gì suốt cả. Cúng vái, ăn cỗ xong, thì đã khuya rồi; ông đồ và thầy cúng không về được phải ngủ ở đấy. Thầy đồ ta mót quá, không thể nào nhịn được, phải tính liều : "Không có lẽ mình lại bậy ra ở đây được ! Chi bằng tương vào đít thằng thầy cúng, rồi mặc kệ nó !" Mới lại sờ đít anh kia. Thầy đồ nghĩ bụng rằng : "Chỉ có mình với nó ở đây thôi. Thôi thì ông cũng liều với mày !" Mới lên tiếng rằng : Có một anh nghèo xác xơ ở cạnh nhà ông Trưởng giả. Anh nghèo ta ngấp nghé, nhưng mà nhà thì trên không gianh, dưới không phên, ai thèm gả cho ? -- Này bà mầy ạ, cái thằng ở bên cạnh nhà, ai ngờ mà nó lại có ! Nếu thật nó có của, mà kín đáo như thế, ta còn con bé út, nên gọi gả quách cho nó. Từ đấy ông trưởng giả cứ ngày ngày sang chơi nói chuyện với anh nhà nghèo, để dò ý tứ. Một hôm, anh ta nói rằng : -- Thưa ông, bên nhà có cái thuyền thúng độ này cũng bỏ không. Người nhà ông trưởng giả thấy thế, nói chuyện lại. Còn chị vợ thì đinh ninh chắc là chồng mình có của, cho nên cũng không nói gì đến chuyện ấy. Vợ anh nghèo, mãi không thấy chồng mình nói gì đến, mới bảo rằng : -- Các anh ấy phúng viếng sang trọng như thế, không có lẽ mình lại chẳng có gì cả hay sao ! Anh chồng túng thế, lấy cái thuổng ném ra bụi tre, mà bảo rằng : Anh ta mới làm bộ nói rằng : Ông thầy dạy nó câu gì, nó cũng không nhớ; bảo nó cái gì nó cũng quên. Một hôm, có ông Ðề là bạn ông thầy học, đến chơi; nó cũng không chào. Từ đấy hễ nó thấy ông Ðề đến, thì nó chắp tay hai tay lại, chào : "Lạy Cụ Ðề ạ !" Bận nào cũng thế. Một hôm, nó về chơi nhà, Mẹ muốn thử xem con học hành tấn tới thế nào, mới đi lấy cái điếu ra hỏi con rằng : Ngày xưa có một người nuôi phải thằng đầy tớ tính hay láu táu, chưa đặt đít đã đặt mồm; bạ đâu nói đấy, chẳng ra đầu đuôi làm sao cả. Hễ ai không có tội thì tha, mà lại cho hóa kiếp lên làm người; ai có tội thì bắt bỏ ngục, hay là bắt đầu thai súc vật. Thế thì không những là mầy dám cưỡng mệnh ta mà mầy lại dối người rằng mầy cứu được. Còn con kia chỉ làm cho người ta sướng, quên cả buồn rầu, xét ra là không có tội, thì ta lại cho lên làm kiếp người. Ông sư tức quá, phàn nàn rằng : "Mình đi tu thì phải tội, mà con đĩ thì lại được phúc. Ðến lúc quỷ sứ xiềng xích lôi kéo ông sư ra; đi qua trước mặt con đĩ, ông sư mới dặn với lại rằng : Ngày xưa có một bà Huyện đến chơi nhà chị em bạn; có thằng đầy tớ đi theo hầu. Ðương ngồi nói chuyện, đông đủ cả mọi người, bà Huyện ta tự nhiên vãi ngay ra một cái rắm. Nhưng mà lúc bấy giờ các bà ngồi chơi đấy thì đông, mà đầy tớ đứng hầu chung quanh cũng nhiều, cho nên lộn xộn, không biết rõ là rắm ai. Cho nên khi về đến dinh, chỉ gọi nó vào nhà trong, mà chửi mắng nó đáo để một hồi, rằng : "Ðồ ngu ! Mầy như người ta thì mầy nhận là của mầy, có được không ! Anh nỡm ta sợ mất vía, vội vàng lui ra; xăm xăm chạy một mạch đến nhà kia, nói với đông nhan cả mọi người rằng : Khi người chồng còn sống, cứ mỗi bận đi lại với vợ thì bỏ một hột gạo vào trong cái hũ. Còn người khách không có đũa, đứng dậy, bảo người nhà rằng : -- Giấu cày thì cứ im mà giấu; sao ông lại kêu rống lên thế, người ta biết, người ta có lấy mất không ? Ăn cơm xong, ông lão trở ra đồng, vào bụi tre tìm cày thì không thấy cày đâu nữa : người ta ăn cắp mất rồi ! Hai ông thầy, một ông thầy bói và một ông thầy thuốc, không biết làm sao mà hằn thù nhau. Một hôm, có mụ đàn bà, chồng ốm, thuốc thang cúng vái làm sao cũng không khỏi, cùng đường, đến nhờ ông thầy bói xem hộ có phương kế nào cứu được chồng chăng. Ông thầy gieo quẻ xong, bảo chị ấy cứ đến xin thuốc ông lang nọ cho chồng uống thì khỏi ngay. Nhưng mà bụng ông thầy muốn xỏ ông lang, mới dặn mụ ấy rằng : -- Hễ lại nhà ông lang, thì phải nói ông ấy : "Có phải thật ông là ông lang mà dao cầu mạng nhện chằng và ô thuốc mốc, không ? Hỏi thăm đến nhà ông thầy thuốc nọ, rồi cũng nói như lời ông thầy bói đã dặn. Ông lang thấy nó hỏi thế thì tức quá, đoán rằng hẳn lại thằng thầy bói xỏ mình đây; cho nên mới hỏi lại mụ nọ rằng có phải ông thầy bói dặn thế không. -- Phải bắt cho được một con ruồi ở mép ông thầy bói ấy, mà làm thang thì thuốc này mới nghiệm. Mụ ấy xin vâng; vội vàng trở lại hàng ông thầy bói, ngồi chực xem hễ có con ruồi nào đến đậu mép ông thầy thì bắt. Ông thầy bói ngồi buồn, gọi vào mua ăn; ăn nhồm nhàm, mật dính cả vào râu : Bổng có một con ruồi xanh ở đâu bay lại, đậu ngay vào mép. Mụ kia mới rón rén lại gần, giơ thẳng cánh, vả ông thầy bói một cái "đốp" lòi cả bánh rán ra. Mụ kia vội vàng nói đầu đuôi cho ông ta nghe, rồi một mạch chạy thẳng về nhà... Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã : hễ rượu vào rồi, thì tự khắc thơ ra tuồn tuột ! Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cỗ ván. -- Thưa các Ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất. Ðương trò chuyện ở trong màn, sực thấy anh chồng đẩy cửa về, anh nọ vội vàng chui ngay xuống dưới gầm giường còn chị kia thì giả cách đau bụng, kêu lăn kêu lộn ở trong màn, gọi chồng bảo rằng : -- Có mau mà giắt tôi ra đường sau đi đồng, không thì chết mất. Anh ta lập tức bấu ngay một ít rêu, viên tròn lại, đứng dậy, chạy vào bảo chồng chị kia rằng : Anh chồng không biết lấy gì mà trả ơn anh láng giềng được. Ngày xưa có một anh tính khí lẩn thẩn : hễ vợ đi đâu, cũng đi theo đấy; vợ ngồi đâu cũng ngồi ngay bên cạnh, để giữ gìn cái của vợ, kẻo sợ nó đánh rơi mất. Người vợ bảo làm sao cũng chẳng nghe, cứ quấn quít, không chịu rời nó ra một bước nào. Vợ tức mình quá, một hôm, mới nhặt một cái mảnh sành, giắt sẵn vào lưng, rồi ra đi chợ. Ði đến một cái ao, nó quay lại bảo cu cậu về đi, không về thì nó vất cái ấy xuống ao cho rồi. Nó mới cầm miếng mảnh sành, ném đánh "bõm" một cái xuống ao, mà nói giỗi rằng : -- Bảo mãi cũng chẳng nghe thì để làm gì mà không vất đi cho rảnh ! Anh nọ tưởng vợ ném cái ấy xuống đấy thật, vội vàng chạy về nhà lấy cái gầu lại tát nước. Có một chị đi đến đấy, thấy thế hỏi rằng : Nhưng mà hễ có tìm thấy cái gì, thì phải trả tôi. Anh kia trông thấy, vội vàng chạy lại, nắm lấy cái ấy, mà kêu lên rằng : Chị cãi của chị, anh cãi của anh; đương lôi thôi thì người vợ vừa về đến đấy, thấy thế, vội vàng tốc váy lên, bảo chồng rằng : Anh nọ trông lên, thấy rõ của mình đâu vẫn ở đấy, mới buông chị kia ra, mà nhăn nhở nói rằng : Một anh có tính ngủ mê; ngủ mê quá, đến nỗi một hôm anh em, họ khiêng ra chùa, họ cạo trọc cả đầu đi, mà cũng vẫn ngủ không biết gì suốt. Ðến khi trở dậy, thấy mình ở chùa, mà sờ lên đầu thì không thấy tóc; lấy làm nghi ngờ. Chẳng biết có phải mình không hay là sư, mới hỏi rằng : -- Cứ đi về nhà thử xem thì biết : hễ phải ta thì chó nó không cắn, mà không phải ta thì nó cắn ! Anh ta chắc là không phải mình rồi, bỏ nhà đi biệt, không về nữa. Anh nọ muốn ăn, nhưng mà lại không muốn mất tiền; cho nên mới đợi để anh kia ngủ say, rồi đi mò bánh rán ăn; ăn chán, lấy mật bôi vào râu anh kia. Ðến trưa, anh nọ muốn ăn mít, muốn ăn nhiều, mà lại muốn trả tiền ít mới bảo nhà hàng dọn mít ra, hai người cùng ăn. Thành thế ra nó ăn nhiều, nhưng mà lại mất ít tiền; còn anh kia ăn ít, mà lại phải mất nhiều tiền. Anh ta cũng cứ im lặng, xỉn tiền ra trả phân minh, chẳng nói năng gì cả. -- Tôi ăn mít, lại nhớ đến người anh em bạn tôi, ngày xưa, cũng vì ăn mít mà chết oan. -- Tại anh ta nuốt phải một hột, rồi sau nó mọc cây ở trong bụng, nổ bụng ra mà chết. Giá mà anh ấy bảo tôi trước thì không việc gì đến nỗi chết : tôi có cách chữa, lấy được hột mít ấy ra như không. Anh kia mới bảo phải đưa, mỗi một hột mít lấy được, là một tiền thì mới chữa cho. Anh kia mới lấy mùn thớt cho ăn, bao nhiêu hột mít cùng là một thứ ăn vào, mửa ra hết sạch. Thường thường hễ chồng đi câu được tôm về, có bao nhiêu con lớn thì chị ta trọn lấy cả, giấu để một chỗ, đợi lúc nào chồng đi vắng, ở nhà đem vào bếp nướng ăn. Một hôm, chồng rình biết ý thế, mới lấy một cái que cứng, vót nhọn đầu, rồi lên nằm ở trên gác bếp. Lúc chị kia đi đâu về, không thấy chồng ở nhà, tưởng đi vắng, mới lấy tôm đem vào bếp ngồi nướng. Chăm chăm chúi chúi nướng cho mau; cho nên mặc váy, ngồi xổm, để cả ra, mà cũng không biết. Nào ngờ anh chồng nằm ở trên kia, hễ nướng được con nào thì anh ta lại xiên mất con ấy. Nhìn trước nhìn sau, chẳng thấy ai, mà dòm xuống chỉ thì thấy cái kia; giận lắm, phát nó một thôi một hồi, mà bảo rằng : -- Chỉ có bà với mày ở đây thôi, mà đi đâu mất cả tôm ? Ðến một chỗ, đường nhỏ và lội, không thế nào đi được; phải giắt lên quán, để gửi nhà hàng. Nhưng mà ở trong quán chẳng có thấy ai; chỉ thấy một ông thầy bói ngồi đấy mà thôi. -- Chứ ông là ai mà lại gửi ngựa cho tôi ? Ngộ chốc nữa có đứa nào đến bảo là ông Chánh, đòi ngựa, thì tôi biết làm thế nào ? Hễ chốc nữa tôi lại lấy ngựa, ông sờ lại, y như thế thì trả ngựa tôi; mà không, thì thôi, ông không cho lấy. Nó đợi cho ông Chánh đi được một lúc lâu, rồi nó lại, bịt mũi, bắt chước tiếng ông Chánh, mà nói với ông thầy bói rằng : Thế mà chẳng lấy phần cho tôi, công gìn giữ ngựa từ nãy đến giờ; Tệ lắm, ông Chánh nhé !... Có một anh, vợ mới đẻ; em gái vợ đến chơi với chị, ngủ đấy để bồng con lớn đỡ chị. Anh chồng thấy vậy, chán quá đi vắng vẫn định về thì tòm tem; ai ngờ về, vợ nó lại như thế ! nhau với con chó cái, không gỡ ra được, cho nên phải ôm cả chó lên giường. Người nhà thấy vậy, sợ lắm, chạy sang kể chuyện với ông thầy pháp ở bên láng giềng : đầu đuôi hai vợ chồng tự nhiên phát bệnh như thế, để xem ông thầy có phép gì cứu chữa được chăng. Ông thầy bảo rằng ma làm đấy, phải cúng thì mới khỏi. Ông thầy sang, vào thăm người chồng, hỏi bệnh não ra làm sao. -- Ông có cúng thì cúng cho nhà tôi, vì không biết làm sao mà tự nhiên nó phát sốt phát rét lạ như vậy. Ông thầy lại vào thăm người vợ, thì người vợ nói khẽ rằng : -- Ông có cúng, xin ông cúng cho nhà tôi, vì không biết làm sao mà tự nhiên đau bụng đau bão làm vậy. Ông thầy, biết rõ rằng hai bên cùng mắc một bệnh, mà bên nọ giấu bên kia. Nhưng mà trong bụng chỉ tơ tưởng chuyện vợ chồng nhà chủ, cho nên tê tê buồn buồn, sẵn thấy có nậm rượu ở trên bàn, đem xuống, đút ngay cái thần xác vào đó. Vợ một anh đến rình trước cửa, trông thấy rõ chồng mình ngồi tựa án thư về mé ngoài sân, mới đẩy cửa vào. Anh kia vốn xưa nay vẫn thường phải vợ túm tóc như vậy, cho nên cũng tưởng chị nọ là vợ đến bắt mình về, thì cứ nín lặng chịu để lôi đi, không dám thở. Còn chị nọ, vẫn quen túm tóc chồng, chắc anh này là chồng mình, thì cứ việc mà lôi bừa đi. Lôi về đến nhà, chị ta mới gìm đầu anh kia xuống tận đất, rồi đấm, vả cho anh ấy một thôi một hồi, tối tăm cả mặt mũi lại. Anh kia bấy giờ nghe thấy lạ tiếng, ngửng mặt lên trông, thấy chị nọ mới ngẩn người ra; tẽn quá, lườm chị ta mà nói rằng : Có một anh tính hay khoe của; mới may được một cái áo mặc vào, ra đứng ở ngoài cửa, để chực xem có ai khen chăng. Anh này cũng có tính hay khoe của; nhà có đám cưới, lợn xổ, chạy đuổi tìm lợn, đến đấy thấy anh kia đứng mới hỏi rằng : -- Anh có thấy con LỢN CƯỚI nhà tôi nó chạy qua đây không ? Có một anh rể mới, nhà ở xa; một hôm đến thăm bố mẹ vợ. Ði đường xa, cho nên đói; anh ta ăn hết cơm ở trong liễn, nhưng mà không dám gọi lấy thêm. Nhân dịp lúc ấy ông nhạc ngồi nói chuyện muốn tậu nhà, anh rể mới thưa rằng : -- Thưa cha, ở làng con có người muốn bán nhà; nhà ấy rui cột hãy còn tốt, cái nào cũng toàn bằng gỗ lim và cũng lớn bằng cái liễn cơm này cả. -- Thưa cha, trước người ta nghèo, không có cơm ăn cho nên muốn bán; bây giờ người ta có ăn rồi, không chịu bán nữa. Bỏ đi thì thèm, cho nên mới thè lưỡi liếm ngay một vạch, từ bên này sang bên kia đĩa. Rồi lại thè lưỡi, liếm một cái từ dưới lên trên, mà hỏi rằng : Có một ông thầy đồ ngồi dạy học ở nhà người ta. Thầy đồ ăn vụng ngay mấy bát, nhà chủ biết, nhưng mà lại nể, không dám nói gì, sợ thầy thẹn mà đi mất. Vả lại, có mấy con chó dữ lắm, cho nên thầy cũng sợ mà không dám ra. Chẳng ngờ nhà chủ cũng dậy sớm, thấy thầy đồ mang tráp đi, thì lại tưởng rằng vì tích thầy ăn vụng chè hôm qua, hoặc nhà có ai nói năng gì chăng, cho nên thầy thẹn, thầy không ở nữa mà bỏ đi. Thầy đến đây dạy học có một cái tráp, mà bây giờ thầy đem cả đi, thì tôi không nghe. Ở bên cạnh nhà, có ông đồ, bụng muốn gạ gẫm, nhưng mà không biết làm thế nào được. Rồi cho học trò sang nói mánh với chị kia rằng : "Thầy tôi biết cách dưỡng thai. -- Không có ông đồ bên cạnh thì có đâu được như thế, mà bây giờ hôn hít ! Anh chồng ngạc nhiên hỏi làm sao, thì vợ kể hết chuyện đầu đuôi cho mà nghe. Một hôm, thầy đồ đi vắng, anh ta bảo vợ sang nói với vợ thầy đồ rằng : Vậy thì mời bà sang chơi, cho nhà tôi khám qua gọi là, để khi Quan có hỏi, thì nói rằng : "đã khám rồi, nhưng mà bà không có đách." Như thế thì bà khỏi phải lôi thôi mà hai vợ chồng tôi cũng trả được ơn." Anh lính ở bên kia, nghe thấy, cũng ra đứng cửa, chửi trống không rằng : Có hai thằng ăn trộm, đêm đến rình một nhà; đợi khi nhà người ta ngủ cả rồi, thằng nọ bảo thằng kia rằng : Không ngờ gặp phải thằng thật thà quá : Nó vào tìm chẳng thấy cái gì nặng cả, chỉ thấy có cái cối đá là nặng; nó mới huỳ huỵch vần ra; vừa vần, vừa hò "ô vậy !" rầm cả nhà lên. Rình lúc nhà người ta ngủ cả rồi, thằng ăn trộm kia mới bảo nó rằng : Ðếm thấy quan nào cũng thiếu mất mươi lăm đồng; nó mới vào đánh thức chủ nhà dậy mà trách rằng : Có một anh đi học hà tiện; đến nhà ông thầy, hỏi phải nên mua gì cúng Thánh. -- Ðã bảo, chỉ phải mua một cái bánh đa là đủ, sao lại vẽ vời đi mua gà làm gì, thêm tốn ? -- Thôi, thế thì anh hà tiện hơn tôi, cần gì mà phải học tôi nữa ? Có một anh đau bụng tháo dạ, đến xin thuốc ông lang mà nói rằng : Ông có thuốc gì cứu cho tôi khỏi; tôi nghèo chẳng có gì, chỉ xin tạ ông một bữa chén. Cách đến hơn mười hôm rồi, mà chẳng thấy nó nói gì đến cả. Mầy ỉa đống cứt rắn thế kia, mà không cho ông ăn nhé ! Ðến chỗ : Phàm huấn mông..., ông thầy không biết nghĩa là gì, cứ dạy rằng : Ðến sách khác, có chữ Bôi, là cái chén; Ông thầy thấy chữ Mộc đứng bên chữ Bất, bảo rằng : "Bất là cây Bất !" Ơí bên cạnh nhà trường, có một người đàn bà biết chữ, nghe thấy ông đồ dạy láo như vậy, mới ru con, hát rằng : Có một ông hà tiện, gả con gái cho một anh cũng hà tiện. Có một anh thích râu ba chòm quá, mà mình thì ở cằm, ở mép, không thấy mọc một cái râu nào; trong bụng thường phàn nàn rằng : "Thôi, số mình chẳng được, thì cố làm thế nào cho con về sau có vậy ?" Anh ta nhất định đón ngay về nhà để lấy giống; làm cơm thết đãi, rồi nói thực tình rằng : -- Tôi chỉ sở nguyện được một bộ râu như của ông, mà không làm sao được. Có một anh không có râu, bị vợ diếc móc khổ quá, phải đi lấy thuốc mọc râu. Chẳng may ông lang đi vắng, chỉ có bà lang ở nhà thôi. Bà lang thấy anh ta đến, mới hỏi rằng: Rồi lấy một ít liên tu, gói vào giấy, đưa cho anh kia mà nói rằng: Khi uống thuốc rồi, thì lên giường, nằm ngửa, lấy túm đá cuội ấy mà giay trên môi một lúc, rồi lấy ít dầu vừng đồ qua, thì mọc được râu. -- Tôi đi vắng, ở nhà có ai đến lấy thuốc không ? Ông đi vắng, nếu không có tôi ở nhà khai phương cho người ta, thì người ta đi lấy chỗ khác. Khi tôi mới lấy ông thì tôi có tí... Sao ông chỉ đồ cho tôi có một ít lâu, mà bây giờ mọc rậm thế ?... Có một ông đồ, người xứ Nghệ ra ngoài Bắc kỳ tìm chỗ dạy học. Ði đến một cái đền thờ Ðức Thánh Quan, vào xem, trông thấy ở trong cung có tượng Ngài uy nghi ngồi giữa, ông Châu vác ngọn dáo; ông Bình bưng hòn ấn, đứng hầu hai bên, trên án có cái đỉnh, nắp con sấu ngoài sân có đôi hạc đứng chầu trên lưng rùa; liền làm bài thơ họa cảnh, trọ trẹ ngâm rằng : Có một chị, chồng đi lính vắng, ở nhà nuôi một con mèo, đặt tên là ông Hàn. -- Bác đi vắng, không biết bác gái ở nhà có ngoại tình với ông Hàn nào mà ăn cũng gọi ông Hàn, ngủ cũng gọi ông Hàn; cả ngày cứ nheo nhéo rằng : "tôi yêu ông Hàn lắm, lại đây chơi với tôi !" Dù có thế nào cũng đừng bảo rằng tôi mách, mà bác gái oán tôi. Rồi trở ra về, trong bụng giận vợ lắm, nhưng mà cũng không nói gì cả. Ðêm hôm ấy, nằm bên cạnh vợ, một hai toan hỏi; nhưng mà lại thôi. Vả cu cậu bấy lâu nay đi lính, bị cầm hãm đã lâu cho nên bây giờ không thể nhịn, mà nằm yên được, phải lôi thôi.. -- Mình đi vắng thì tôi ở nhà ăn một mình, ngủ một mình, chứ lại với ai ! -- Vậy thì chứ ông Hàn nào mà yêu cả ngày, gọi cả ngày thế ? Mình chưa biết ông Hàn, để tôi gọi đến cho mà xem. Chồng mới bảo vợ nằm bò xuống, giả làm voi, cho thằng con cưỡi lên cỗ làm quản tiền, còn mình thì quỳ ở sau làm quản hậu; rồi thúc voi đi vòng quanh giường. Ðược một nhát, quản hậu thúc voi thế nào tự nhiên thấy voi nằm bẹp dí xuống đấy, không đi được nữa. Một hôm, có việc phải đi vắng cả ngày, mới đem nhốt vợ vào trong buồng, đóng cửa lại, lấy bùn trát vào khe cửa, gí mồm, đánh dấu; xong rồi dặn vợ rằng : -- Bà cứ đứng ở ngoài ấy, chớ có đẩy cửa vào mà sai dấu, về nó đánh tôi chết. -- Không biết bằng cái gì mà lại có hai vạch hình như lưỡi trai, trên có nhiều vạch nhỏ lí tí rẽ sang hai bên. Ðến khi về, chị kia lại vào trong buồng, bảo mụ nọ đóng cửa lại, mà gí cái ấy vào; xong rồi cứ việc đi về. Chiều, anh chồng về nhà, vào xem dấu, thì thấy khác, lấy làm lạ, nói rằng : Người ta lấy thịt cho nó ăn, nó cũng chẳng nhà, mang áo đẹp cho nó mặc, nó cũng không nhả, cứ cắn túi bạc chạy hoài. Một anh học trò trông thấy thế, chạy lại, xin thổi đỡ thầy; thầy không khiến, cứ phồng mắt trợn mắt thổi mãi. Một anh kiết xác kiết xơ, nó cũng nói rằng nó có mười vạn. Tôi muốn tiêu một xu chẳng có; thế thì bác có khác chó gì tôi !... Một hôm, ông Di Lặc trông thấy ông Hộ Pháp đội mũ mặc áo lịch sự đẹp đẽ lắm, mới khen rằng : -- Tôi đây mang tiếng bụng phệ; nhưng mà bất quá ngày rằm mồng một nó chỉ cho một phẩm oản quả chuối thôi, chứ có gì đâu ? Tôi cũng chẳng dám nói giấu gì ông; ông cứ trông thấy bộ bề ngoài tôi choáng thế này, thì ông bảo là sang trọng; chứ thực mà đem cạo những cái vàng son này đi, thì trơ đất thó ngay ra đấy chứ gì ! Thầy điạ lý sực nhớ gần đấy có nhà quen, mới bảo hai thầy kia rằng : -- Ngày xưa tôi có để giúp một ngôi đất cho cái nhà ở trong làng này. Anh em mình cố gắng đến đấy, thế nào cũng được một bữa no say. Nhưng tôi dặn trước hai ông : hễ đến đấy mà người ta có mời ăn, thì ta phải làm cao mới được; chớ làm bộ đói mà họ khinh. Ba thầy cứ một mực rằng : "Xin thôi, chúng tôi đã cơm rượu ở ngoài hàng cả rồi. Chỉ đến phiền ông ngủ nhờ một tối; sáng mai anh em xin đi sớm." Nhưng mà hai thầy kia cứ cằn nhằn trách rằng đầu đuôi chỉ taị anh thầy địa lý cả : -- Việc gì mà lại xui nhau làm khách, để đến nỗi bây giờ đói quá không sao ngủ được ? Thầy địa lý thấy nói lôi thôi, sợ nhà người ta biết, mới bảo rằng : Ðể chốc nữa nhà nó ngủ yên, tôi xuống bếp lục xem, may ra có cái gì ăn, thì tôi sẽ gọi. Vốn bác thầy bói tính háu đói mà lại tham ăn, nghe thấy nói thế, bụng bảo dạ rằng : "Nếu hắn đi, có gì, hắn lẩm một mình thì làm sao ?" Mới vội vàng lẳng lặng lẻn xuống đất, rón rén mò đường vào bếp. -- Kiếp trâu giả cũng có ngần, làm bố chúng nó thì phải lo lắng cho chúng nó suốt một đời người; khi chết đi, dẫu còn có nghìn có vạn, cũng là để lại cho chúng nó cả. Lại còn như khi chúng nó hầu bóp cổ người ta quá, thì người ta cứ gọi bố chúng nó ra mà người ta chửi ! Hôm mồng bốn tết, nhà vợ cúng tiễn ông vãi; cu cậu trèo lên giường lễ, thế nào lại quay lưng vào giường thờ, mà lễ ra ngoài sân ! Có một ông lão già, suốt đời chỉ khư khư làm giàu tích của để cho con thôi. Gọi là che mặt thế gian, mua cỗ ván răm ba quan, đưa cha ra đồng mà thôi; chứ chẳng dám dềnh dàng gì cả. Bất nhược là hễ cha mà nhắm mắt đi rồi, thì xin đem sã xác cha ra làm ba mảnh, anh em đem lên chợ bán lấy tiền là hơn. -- Ừ, thế nhưng mà chớ có bán chịu cho cái thằng Ba ở bên láng giềng này, nó hay mua bừa lắm đấy nhé !.. Chẳng may về thì ông thông gia đi vắng, Bà thân gia thết cơm, nhưng không dám đem cái nố rượu lậu ấy ra. Ðêm, bà chủ nhà đi tiểu vào cái nồi đinh; nhân có khách nằm gần đấy, mà tương "lố tố" ra thì e bất lịch sự, cho nên cứ phải nín hơi, thót bụng lại, cho nó "ri rỉ" ra mà thôi. Ông lão nằm nhà ngoài, nghe thấy nước đâu chảy "tong tỏng", tưởng trong nhà đương cất rượu, mới lẩm bẩm rằng : Bà chủ nhà ở trong kia nghe thấy, phì nực cười, bật hơi, nó mới toé ra "tồ ồ ồ tồ tồ" một tràng dài. Một người đàn bà, không có chồng, hay đi cúng cấp ở đền chùa; phải lòng một ông sư với một anh thầy cúng. Làng bắt vạ, đòi người đàn bà ấy đến tra hỏi, thì người ấy cứ thực mà xưng rằng trót có đi lại với ông sư và thầy cúng; nhưng mà không biết chửa với người nào. Ðòi sư và thầy cúng đến hỏi, thì hai người cùng chối, không chịu nhận; người nọ đổ cho người kia. Quan cũng không biết phân xử ra thế nào, mới định lưu việc ấy lại, đợi cho lúc đứa bé lớn lên, biết nói, sẽ đòi xét lại. -- Mẹ mầy khai : trước có đi lại với tên thầy tu và tên thầy cúng này, rồi chửa, đẻ ra mày. Vậy mầy có biết đứa nào là cha mầy, thì mầy cứ nói, không việc gì mà sợ. Nhưng mà lúc con còn ở trong bụng mẹ con, thì con chỉ thấy có người trọc đầu hay vào thôi.. Có một anh nghiện ra đồng ngồi rặn ỳ à ỳ ạch, chảy cả nước mắt nước mũi ra mà vẫn không xong. Ðương bất rất lấy làm khổ quá, chợt thấy có một anh đi đường, rẽ xuống bờ ruộng, phát đánh xoẹt một bãi tướng, xắn quần, đứng dậy, đi ngay. Anh nghiện ta đi xong, về nhà hậm hà hậm hực mãi mà bảo vợ rằng : Khi ra về, chị này tán với anh kia rằng đã có mang hơn một tháng. Chị ả đầu ta nghe tin anh nhân tình sắp đến nơi, luống cuống không biết làm thế nào; túng thế, mới bắt một con chó bông trắng con, bọc ẵm, giả tảng làm con mới đẻ ra. Anh kia đến, thấy nói đẻ con trai, lấy làm mừng lắm; liền đỡ lấy con chó, ẵm bế mà bông lơn rằng : Một anh tính hay ưa tĩnh, lại phải hai bên láng giềng, một bên thì anh thợ rèn ở, một bên thì anh thợ bạc ở; ngày đêm đập gõ kỳ cạch, điếc cả tai. -- Giá mà hai anh ấy dọn đi ở chỗ khác, thì tôi xin làm ngay tiệc tiễn hành. Hai anh thợ biết vậy; một hôm, cùng sang chơi, nói rằng : Một anh keo bẩn, có khách đến chơi nhà, không chịu thết cơm. Ðến lúc chủ nhà ra chịu chuyện, khách mới ngẩng mặt trông lên nóc nhà mà nói rằng : Anh nhà quê ta chợt trông thấy ông Thiên Lôi ăn mặc cân đai mũ áo, tưởng là Quan Lớn, mới chắp tay khúm núm vái mãi. Có một anh đứng ngoài, cứ mách bảo hão; nói làm sao, cũng không chịu nghe. Anh mách, một tay xoa má, còn một tay cứ chỉ vào bàn cờ mà nói rằng : Nhà chùa lập lệ rằng : Hễ ai muốn làm chay, thì phải đưa năm chục qua tiền, để nhà sư tụng kinh cho vong nhân được siêu sinh sang Tây Phương. Thiên Lôi vừa giơ búa thì thằng ấy vội vàng nắm tay ông Thiên Lôi mà nói rằng : Nếu ông mà là Thiên Lôi cũ, thế thì ngày xưa cha tôi bất hiếu với ông tôi, lúc bấy giờ ông đi đâu ?.. Một ông nhà giàu, không có con trai, chỉ có ba người con gái, kén chọn mãi, được ba rể, cùng nuôi ở trong nhà. Ông ta mới cất một cái nhà ngói lịch sự quá, hoàn công thợ vừa xong, dọn dẹp đến ở. Ngay đêm hôm ấy, rể lớn đi đánh chén say ở đâu về, gọi cửa mãi không được, phát khùng, hai tay đấm cửa mà gào rằng: Tao làm cái nhà này tốn kém hàng trăm hàng nghìn, mà nó lại mở mồm nói độc như vậy ! -- Cha nói thế, chứ nhà này đem lạy mà bán cho người ta lấy ba trăm, cũng chẳng ai thèm mua ! Thà rằng cha gọi ai mà bán rẻ lấy vài trăm, còn hơn để đến sau cháy, thì một đồng cũng không đáng nữa. Vợ lo quá, mới đi mời ông thầy lại xem mạch. -- Như thế thì tối đến, chuột không trông thấy tôi; chỉ thấy đốm trắng, tưởng là cơm, lại ăn, tôi chỉ phải há mồm cắn mà thôi, khỏi phải đi rình bắt nữa ! Nhưng mà phải nhổ hết lông lá đi thì mới lên làm người được. Có khách ở xa đến chơi, gà vịt đầy sân, mà lại phàn nàn rằng : -- Chẳng mấy khi ông lại chơi, nhà tôi không có cái gì ăn uống tử tế để thết đãi ông, thì tôi lấy làm buồn lắm. -- Tôi có con ngựa đấy, ông đem mà làm thịt, để anh em ta cùng đánh chén cho vui. Ông chọn xem trong đàn ngỗng của ông, có con nào lớn, cho tôi mượn một con, cưỡi về cũng được.. -- Tôi tưởng người ta ăn đồ ngũ cốc, cái hơi dưới phì ra, có thối thì mới phải. Thế mà lại thơm thì chẳng hoá ra cái điềm không lành ư ? Anh kia mới vội vàng giơ tay vợt một cái, để vào mũi, hít ngửi mà nói rằng : Tào Tháo mới dụng kế, lấy tay trỏ đám xanh xanh ở trước mặt mà bảo rằng : "Ðường kia có rừng mơ đấy !" Quân sĩ nghe nói đến mơ, thèm nhỏ giãi ra, đỡ khát." Nay, nhà ta nghèo cũng nên bắt chước : cứ đến bữa ăn, đem treo một con cá mắm ở vách; hễ và một miếng cơm, thì nhìn con cá mắm một cái, thế cũng như là ăn mắm. Một hôm, thằng bé lớn thèm con cá mắm quá, không biết làm thế nào được; nhân lúc bố nó xuống bếp, nó nhìn hai ba lần, rồi mới và một miếng cơm. -- Thưa bố, anh lớn anh ấy và một miếng cơm mà lại nhìn mắm những hai ba bận, đấy ạ ! Có một chị đa ngôn đa quá, khoang khoét ra điều ta đảm đang đây, khinh chồng chẳng làm được đỉnh chung gì. Ong ta mới cười ha hả, nói rằng : Thế mới biết cái mồm chị không bằng cái lỗ đít tôi nhé ! Chó nhà ấy thấy người lạ đến, sủa mãi; nhưng mà anh ta điếc đặc, không nghe thấy gì cả, chỉ thấy mõm chó hả, mới hỏi chủ nhà rằng : Một ông nhà giàu, dinh cơ vườn trại cực nhiều; duy chỉ có cái vườn trồng chuối ở đầu làng là rộng nhất và đáng tiền hơn cả. Ông ta không có con trai, chỉ có một người con gái mà thôi; cho nên vẫn định bụng để dành phần cái vườn ấy cho đứa cháu ăn thừa tự. chết con cũng không bỏ chỗ đất này !" Anh cháu ăn thừa tự nghe thấy thế, tưởng chị kia tranh cái vườn chuối âý, mới hăm hở chạy đến, đạp chị ta một cái ngã ngửa... Một ông già cũng tầm thường, có một đứa con gái, người mảnh khảnh, yếu ớt, đem gả cho một anh hàng cơm sức lực khỏe mạnh. Một hôm, gọi chàng rể lại nhà, cho ăn cơm uống rượu, rồi sẽ bảo nhỏ rằng : Anh rể lỗ mãng, không hiểu là gì, hỏi lại rằng : Ðêm đến vào với vợ, theo lời ông nhạc, chỉ cho vào có một nửa mà thôi. Anh nọ khăng khăng : "Ông bảo thế, không nghe thế nào được" Chỉ làm một nửa, còn một nửa kia giữ lại. Vốn ông bố, tối hôm ấy đến chơi, thấy tối đèn, chắc là con và rể đã đi ngủ rồi; toan giở ra về, nhưng lại thấy trong buồng có tiếng thì thào, cho nên mới đứng lại nghe. -- Thì mầy cứ thả cả ra cho nó chết có được không ? Bọn buôn gà vịt đương ngủ, mơ màng nghe thấy ông cụ nói thế, tưởng cụ đòi thả cả gà vịt của mình ra, vội vàng trở dậy, tay giữ lấy miệng lồng, mồm van lạy rằng : -- Lạy cụ, cụ có sơi con nào thì cụ sơi, xin cụ đừng thả cả ra, mà hại chúng tôi... Anh không có râu, muốn xỏ anh kia, mới đố rằng : -- Anh thử nghĩ kỹ mà xem : như da mặt anh dày thế kia, mà nó còn dùi thủng ra được, thì râu không cứng là gì ! Anh có râu hiểu là anh nọ nói xỏ mình, mới đáp rằng : Có một anh, chung quanh nhà thì những thầy đồ, thầy lang, thầy địa lý, thầy phù thủy, thầy bói, thầy số ở nhiều lắm; mà anh ta thì dốt nát chẳng làm được thầy gì cả. Vả lại vợ nó cứ nhiếc móc, cho nên cu cậu tức mình, cũng nhất định đi làm thầy. Bà hàng nghi hoặc, chẳng biết là thầy gì, mới lại gần hỏi rằng : Ngay lúc đó, có một anh, vợ ở nhà phải bệnh thổ tả, hốt hoảng chạy đến xin gừng. Anh kia vội vàng đi kiếm, mang lại, Thầy mới lấy một tờ giấy, vẽ năm con chó xồm, mõm vạt ống dầu, rồi đưa cho mà dặn rằng : -- Ðem về giơ cái bùa này lên cho người có bệnh trông thấy, rồi đốt thả vào trong bát nước lã, cho uống thì khỏi ngay. Hôm sau, thầy đương ngồi uống rượu, bỗng có một người chạy đến xin bùa cho vợ. -- Thưa lạy thầy, nhà con trở dạ từ hôm qua đến giờ mà chưa đẻ được, xin thầy làm phúc cứu cho. -- Anh mang cái bùa này về, giơ lên cho chị ấy nhìn, rồi đem đốt mà hòa với nước lã cho uống, thì đẻ ngay. Anh kia vội vàng đem bùa về, cứ thế mà đốt cho vợ uống. -- Chắc hẳn thầy mẹ ở không được bằng lòng thầy, cho nên thầy chẳng dạy bảo gì suốt cả. Người bố lập tức bắt lợn, đong gạo, mua chè lá thân hành đem con đến tận nhà thầy, làm lễ nhập môn lại, năn nỉ thưa rằng : -- Lạy thầy, xin thầy làm phúc cho cháu ăn mày thầy, để về sau cháu được nên thân người, thì chúng tôi không bao giờ dám quên ơn. Này, như người tháo dạ, thì vẽ lũ chó cho nó vào nó dọn sạch ở trong ấy đi, thì còn đâu mà là ỉa nữa ? Còn như đàn bà khó đẻ, thì vẽ ông Ba Bị cho ông ấy vào doạ nạt đứa bé; đứa bé sợ, phải thòi ra. Một hôm, người chồng đi vắng, thằng nhỏ ngồi ở trong bếp, giả cách vạch quần bắt rận, rồi thở dài mà than rằng : Mới ăn cơm nguội có một tháng, mà gì... -- Việc gì mà bữa nào cũng bắt ông ăn cơm nguội, mà hỏi thì lại câm, là nghĩa làm sao ? Anh kẻ noi gánh phân đi qua, thấy cô ta đứng cửa, mới làm thơ ve, thơ nôm nhưng mà trong câu nào cũng có đệm một chữ, đọc rằng : Vốn lâu nay Bà chửa, không năng nhìn thấy mặt nó, cho nên mới trách rằng : Anh nọ vừa sực đi đến giáp bờ rào, nghe tiếng Bà Lớn nói thế, tưởng Bà Lớn quở mình; sợ lắm,vội vàng bẩm rằng : Lên đến trên đê, ông sư thèm quá, không làm sao nhịn được; đánh liều, luồn tay vào trong váy nó, thọc một cái. Một hôm, có việc phải đi vắng; ra gí mồm vào thúng cám, để làm dấu; xong rồi mới đi. Một khi, có bạn ở xa đến chơi; anh ta phải thết cơm rượu, cứ lối cũ giở ra. -- Tôi uống rượu, nhìn thấy chén, thì lại sực nhớ đến người anh em bạn thân của tôi, ngày xưa cũng vì uống rượu bằng chén con như thế này, mà phải chết oan.