Đại cương phương pháp dạy học Sinh học

Đại cương phương pháp dạy học Sinh học

Thể loại: Giáo dục học
Lượt xem: 4,030Lượt tải: 1Số trang: 52

Mô tả tài liệu

Với kết cấu nội dung gồm 6 chương, tài liệu "Đại cương phương pháp dạy học Sinh học" giới thiệu đến các bạn những nội dung về những vấn đề chung của lý luận dạy học Sinh học, nhiệm vụ dạy học Sinh học ở trường trung học phổ thông, các hình thức tổ chức dạy học Sinh học ở trường phổ thông,... Mời các bạn cùng tham khảo để có thêm tài liệu phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu.

Tóm tắt nội dung

- Trình bày được các nhiệm vụ dạy học Sinh học ở trường Phổ thông, nêu mối quan hệ giữa 3 nhiệm vụ. - Nêu được sự hình thành và phát triển các loại khái niệm trong chương trình Sinh học THPT. - Phân biệt được các hình thức tổ chức dạy học Sinh học ở trường phổ thông. - Lý thuyết: Giáo viên (GV) giao nhiệm vụ học tập cho sinh viên (SV) hoạt động theo nhóm (hoặc cá nhân) tùy theo nội dung học tập; SV nghiên cứu tài liệu, thảo luận nhóm, hoàn thành nhiệm vụ được giao; GV tổ chức thảo luận, tổng kết vấn đề. - Thực hành: SV được giao nhiệm vụ chuẩn bị nội dung thực hành ở nhà hoặc trên lớp, sau đó vận dụng vào từng chương cụ thể, từng bài cụ thể trong SGK Sinh học THPT để phân tích cấu trúc nội dung, xác định mục tiêu, lựa chọn PPDH. 1. Xác định được vị trí của môn học trong hệ thống các môn học của Lí luận dạy học Các quy luật này phản ánh những mối quan hệ tất yếu, bản chất giữa hoạt động dạy và hoạt động học giữa các thành tố của QTDH. Đối tượng nghiên cứu của PPDH: Các quy luật của QTDH phù hợp với những đặc điểm của việc dạy và học bộ môn Sinh học ở trường phổ vụ tổng quát:  Nghiên cứu phát triển lý thuyết (Hoàn thiện nội dung dạy học SH ở trường phổ thông) và tổng kết kinh nghiệm (ĐM PPDH)  phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả và chất lượng D & H bộ môn Sinh học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông của nước ta. * Phát triển nội dung dạy học: Phải thường xuyên cập nhật, chỉnh lý, hoàn thiện nội dung, chương trình các môn học ở trường phổ thông cho phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Vận dụng các thành tựu của LLDH hiện đại, các thành tựu của các ngành khoa học trong các lĩnh vực khác để phát triển, đổi mới nội dung chương trình sinh học, xác định khối lượng, chiều sâu, trình tự hệ thống các kiến thức để đưa vào SGK một cách hợp lý với từng lớp học, cấp học. Song song với việc phát triển chương trình là việc phát triển lí luận về cấu trúc nội dung và phương pháp trình bày các bài trong sách giáo khoa theo hướng giảm bớt chức năng thông tin, tăng cường các hoạt động độc lập của HS với SGK. Tổng kết kinh nghiệm tiên tiến về PP dạy của đội ngũ giáo viên Sinh học nước ta, vận dụng có chọn lọc các PPHD mới của thế giới phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, đưa vào thực nghiệm, thí điểm trước khi áp dụng đại trà, nhằm phát triển các PPDH tích cực trong nhà trường phổ thời với đổi mới PP dạy là việc nghiên cứu mở rộng các hình thức tổ chức dạy học và cải tiến bổ sung các phương tiện dạy học, cải tiến các PP kiểm tra đánh giá theo hướng khuyến khích người học, kích thích sự phát triển tư duy. Để phát triển PP học tập cho HS, đặc biệt là PP tự học thì người GV cần phải tổ chức các HĐHT theo một trình tự logic, phù hợp với năng lực của từng loại HS. Trong việc tổ chức các HĐHT người GV có vai trò là người cố vấn, hướng dẫn, định hướng cho HS tranh luận, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề, qua đó họ tự lực chiếm lĩnh tri thức, đồng thời sẽ rèn luyện, phát triển kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân hay của các thành viên trong nay LLDH đang quan tâm chú ý nghiên cứu sâu về quy luật của quá trình học tập để thiết kế các HĐHT phù hợp, trên cơ sở đó thiết kế các HĐDH của thầy. Sự phát triển của các khoa học Sinh học giúp cho việc lựa chọn, hoàn thiện nội dung chương trình SH ở trường phổ kiến thức SH của các nhà khoa học được sự gia công của nhà sư phạm nó trở thành kiến thức cơ bản phổ thông phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi và hoàn cảnh của nước ta. PPDH không chỉ giới hạn các bài học trên lớp mà còn phải được bổ sung bằng các hoạt động ngoại khóa, tham quan, gắn liền với thiên nhiên và lao động sản xuất. Dạy học, thực chất là tổ chức quá trình nhận thức cho HS, phải tuân theo những quy luật tư duy, từ thực tiễn đến lí thuyết, từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, từ ngoài vào tượng của SH là nghiên cứu bản chất và các quy luật của sự sống, mà sự sống là một hình thức vận động của vật chất, do đó nó cũng tuân theo các quy luật chung của vật chất mà Triết học đã vạch ra. Mặt khác, trong quá trình phát triển của khoa học SH, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, vẫn tồn tại mâu thuẫn và sự đấu tranh găy gắt giữa chủ nghĩa duy tâm siêu hình và duy vật biện chứng. Vì thế lĩnh vực nghiên cứu của KHSH cũng như PPDHSH cần sự chỉ đạo của Triết học biện chứng duy vật để có quan điểm, phương pháp, tư tưởng đúng đắn trong việc nhận thức các hiện tượng, quá trình của tự nhiên cũng như của QTDH SH. 3. Phân tích mối quan hệ với các thành tố trong quá trình dạy học? 3. Xác định được nội dung của các nhiệm vụ dạy học, mối liên hệ giữa các nhiệm vụ Quá trình dạy học môn Sinh học ở bậc THPT có nhiệm vụ trang bị cho HS hệ thống các kiến thức sinh học cơ bản, phổ thông, hiện đại và gắn liền với thực tiễn Việt Nam. Kiến thức phổ thông là những kiến thức cần thiết cho mọi người trong cuộc sống lâu dài, cho mọi thanh thiếu niên trong lứa tuổi học thức cơ bản là những kiến thức phản ánh bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thực tại khách quan, giúp con người làm chủ thực tại và hành động hợp lí Trong trường phổ thông các kiến thức này đã được các nhà sư phạm từ các ngành khoa học và trình bày thành các môn học khác nhau, phù hợp với sự phát triển của khoa học hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong chương trình SH THCS, kiến thức cơ bản nhất là hệ thống các kiến thức các khái niệm Sinh học, các quy luật Sinh học được phát triển theo một trình tự logic chặt chẽ. Các kiến thức này đặt nền móng cho việc tiếp tục học lên THPT hoặc vào các trường trung học chuyên nghiệp - dạy nghề có liên quan với Sinh học hoặc ra đời, hoà nhập với cộng đồng, tham gia lao động sản xuất và các công việc trong các ngành nghề qua môn Sinh học giúp HS nắm vững cơ sở khoa học của những công cụ kĩ thuật, quy trình sản xuất cơ bản, có liên quan đến các đối tượng sống hoặc các sản phẩm sinh tri thức cung cấp cho HS thông qua con đường giáo dục là nguồn tri thức có mục đích, đã được chọn lọc, sắp xếp có hệ thống, quy định trong chương trình, SGK và được GV thể hiện trong quá trình hướng dẫn HS học tập theo kế hoạch hợp lí. Thực hiện nguyên tắc học đi đôi vối hành, lý luận gắn với thực tiễn, học tập gắn liền với sản xuất, việc giảng dạy Sinh học phải làm cho học sinh hiểu biết các nguyên lí cơ bản của các ngành sản xuất có sử dụng cơ thể bị cho các em các kỹ năng và kỹ xảo vận dụng các quy luật sinh học trong hoạt động thực dạy học SH, GV phải tạo cơ hội thuận lợi để HS tập dượt, phát triển các kĩ năng và phẩm chất trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức, để HS rèn luyện các thao tác, kĩ năng, kĩ xảo, xây dựng thói quen vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc phát triển các kĩ năng cần tuân theo quy luật tâm lí của quá trình nhận thức đó là đi từ nhận thức cảm tính (Quan sát, chú ý, ghi nhớ) đến nhận thức lí tính (So sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, cá biệt hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, hệ thống hóa) Phát triển năng lực nhận thức: Bao gồm phát triển các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…) và biện pháp logic (quy nạp, diễn dịch) từ đó hình thành các phẩm chất tư duy (tính tích cực, tính độc lập, tính sáng với quan sát là rèn luyện cho HS kĩ năng mô tả sự vật, hiện tượng quan sát được, từ việc mô tả bằng ngôn ngữ thông thường đến việc sử dụng các thuật ngữ SH ngày càng chính xác. Để rèn luyện kĩ năng này cho SH, GV cần phải thực hiện các thí nghiệm ở trên lớp bằng cách biểu diễn, làm mẫu, từ đó HS bắt chước, làm rèn luyện kĩ năng làm thí nghiệm cần phải có thời gian, và nên phát huy thế mạnh của các nhóm HS. Song song với việc làm thí nghiệm là rèn luyện các kĩ năng liên quan: đề xuất giả thuyết, bố trí thí nghiệm, thay đổi đối tượng và điều kiện thí nghiệm, quan sát kết quả thí nghiệm bằng cách so sánh với đối chứng, kiểm tra giả thuyết và cuối cùng là rút ra kết luận. Các kiến thức thu được nhờ quan sát và thí nghiệm chỉ là những kiến thức sự kiện, cụ thể, riêng lẻ, chúng cần phải được khái quát hóa, trừu tượng hóa thành những kiến thức lí thuyết (khái niệm, quy nạp là suy lí bắt đầu từ việc so sánh các nhóm đối tượng cùng loại để tách ra các dấu hiệu chung, các thuộc tính bản chất của chúng, đây chính là con đường hình thành các khái niệm, quy luật. Tuy nhiên trong dạy học người ta cho phép dùng quy nạp đơn cử, nghĩa là chỉ dựa trên một vài hiện tượng, thí nghiệm để rút ra kết luận. Đó là vì các kiến thức này đã được các nhà khoa học kiểm chứng nhiều lần, mặt khác trong 1 tiết học thời gian có hạn không thể tái hiện lại quá trình phát hiện của các nhà khoa học được. Khi sử dụng quy nạp đơn cử, GV tránh để HS hiểu sai là các kiến thức này được rút ra một cách đơn giản như làm thí nghiệm trong 8 năm liền, với 7 cặp tính trạng, đã phân tích trên 1 vạn cây lai mới rút ra được các định luật, nhưng trong mấy tiết học chúng ta chỉ đơn cử một vài thí nghiệm để rút ra các định luật của dạy học 2 kĩ năng này luôn bổ sung cho nhau và đều cần cho quá trình vận động của tư duy. Tuy nhiên do đặc điểm của quá trình nhận thức của HS THCS, GV cần chú trọng phát triển tư duy thực nghiệm quy nạp trên cơ sở rèn luyện kĩ năng quan sát, thí tượng của SH là các quy luật phát triển của sự sống – là một hình thức vận động của vật chất trong tự nhiên. - Giáo dục quan điểm duy vật: GV cần vạch rõ cho HS rằng: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên nói chung và thế giới hữu cơ nói riêng đều là những hình thức vận động của vật chất. Khi ta đã hiểu rõ CSVC và cơ chế vận động của các quá trình diễn ra trong sự vật hiện tượng thì ắt sẽ nhận thức được nó trên cơ sở DVBC, mà không cần một sự giải thích duy tâm thần bí nào! Các QL SH có sắc thái riêng của chúng nhưng cũng phản ánh quy luật chung nhất của phép biện chứng duy vật: Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (Đồng hóa - Dị hóa); Chuyển hóa giữa lượng và chất; phủ định của phủ định (Hình thành các đặc điểm thích nghi) Khoa học SH ngày càng phát triển thì ngày càng đặt ra nhiều vấn đề “Đạo đức sinh học”, là mối lo của toàn xã hội, như nhân bản vô tính trên đối tượng con người, mua bán các nội quan để cấy ghép, chửa đẻ thuê,… Vì vậy, GV cần phải giáo dục tình cảm đạo đức cho HS để họ có thái độ đúng đắn và vận dụng các thành tựu khoa học phù hợp với đạo lí, đạo đức xã hội. Giáo dục trong nhà trường khác với các hình thức giáo dục khác ở điểm căn bản là nó được thực hiện trên nền của việc trang bị kiến thức có hệ thống được chọn lọc trong tinh hoa di sản văn hóa của loài người và của dân tộc. - Phát triển năng lực nhận thức và hành động là hệ quả của quá trình chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực và chủ động sáng tạo và ngược lại, đó cũng là điều kiện để HS tiếp tục chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc và hiệu quả hơn. - GD các phẩm chất nhân cách vừa là hệ quả của hai nhiệm vụ trên, là mục đích cuối cùng của việc dạy học, vừa là yếu tố kích thích, động lực thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động đến trình độ sáng tạo. 1. Trình bày nội dung cơ bản của nhiệm vụ phát triển trong dạy học Sinh học? Vì sao nói trọng tâm của NV phát triển năng lực nhận thức trong DHSH là phát triển tư duy thực nghiệm - quy nạp trên cơ sở rèn luyện kĩ năng quan sát và thí nghiệm. 2 Trình bày nội dung cơ bản của nhiệm vụ giáo dục trong dạy học Sinh học? Vì sao nói việc giảng dạy các kiến thức sinh học thống nhất với việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng? 1. Phân tích được khái niệm học vấn phổ thông, hiểu được sự vận động và phát triển của HVPT hiện nay là một tất yếu. + NDDH phải phù hợp với khả năng trình độ tiếp thu của HSvới điều kiện dạy và học trong nhà có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng vốn biểu tượng phong phú cho SH, từ đó các em tư duy để hình thành khái niệm. Là kiến thức phản ánh bản chất của các sự kiện thông qua quá trình khái quát hoá, trừu tượng hoá, được cô đọng dưới dạng một định nghĩa. Số lượng và chất lượng các thuật ngữ khái niệm sinh học là tiêu chí đánh giá vốn hiểu biết của HS. Loại khái niệm này không phản ánh một sự kiện hiện tượng riêng lẻ, mà nó phản ánh một chuỗi các sự kiện liên tiếp sảy ra theo một trình tự chặt chẽ có tính định hướng rõ rệt. Quy luật SH là những kiến thức phản ánh mối liên hệ bản chất, bền vững, tất yếu và phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau hoặc phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của sự vật hiện luật là lời phát biểu bằng ngôn ngữ khoa học phản ánh từng bộ phận của các quy luật khách quan, được phát hiện bằng thực Trình bày cơ sở lí luận để phân tích các thành phần kiến thức trong chương trình sinh học? 2. Phân tích được mối quan hệ giữa HĐ dạy và HĐ học; hai mặt của PPDH; giữa PPDH với các thành tố của quá trình dạy học. 4. Phân tích bản chất và cách thức tiến hành, ưu nhược điểm của mỗi PP thuộc 3 nhóm (Dùng lời, Trực quan và Thực hành) và biết sử dụng chúng trong sự phối hợp lẫn nhau. 6. Biết cách lựa chọn PPDH phù hợp với nội dung, đối tượng và phương tiện dạy học, bước đầu thể hiện hiểu biết về PPDH trong việc soạn giáo án, tập giảng, phân tích giờ dạy. - Nguyễn Ngọc Quang (1970): “PPDH là cách thức làm việc của thầy và của trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”. - Đặng Vũ Hoạt (1971): “PPDH là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học”. - Trần Bá Hoành (2002): “PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các hoạt động học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu dạy học”. Kết quả tương tác giữa hoạt động của thầy và của trò trong QTDH là đạt được các mục tiêu dạy học đề ra. PPDH là cách thức hoạt động của thầy và trò trong mối liên hệ qua lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm đạt các mục tiêu dạy học đề ra. Hai HĐ này có sự tương tác qua lại với nhau, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, nhưng HĐ học được đặt ở vị trí trung tâm (vai trò tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của HS) Mặt bên ngoài (Hình thức): Các thao tác hành động của GV và HS có thể dễ dàng nhận thấy được trong tiết vụ của Sinh học là tìm hiểu bản chất các hiện tượng, quá trình trong thế giới sống, khám phá những quy luật của giới hữu cơ, làm cơ sở cho loài người nhận thức đúng và điều khiển được sự phát triển của Sinh vụ của DHSH là hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo các hoạt động học tập nhằm lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, giá trị về giới tự nhiên hữu cơ mà khoa học Sinh học đã xây dựng cứu KHSH và học tập Sh đều là quá trình nhận thức nhưng một bên là nhận thức điều mà loài người chưa biết, còn 1 bên là nhận thức điều mà khoa học Sinh học đã khám phá ra, tức là loài người đã biết, chỉ có người học là chưa biết. Nếu các nhà nghiên cứu làm ra các tri thức SH học bằng PP chủ yếu là quan sát, thí nghiệm thì GV dạy lại các tri thức đó cũng cho HS nhận thức bằng PP quan sát, thí nghiệm là tốt nhất. Tuy nhiên chủ thể, điều kiện nghiên cứu khoa học và dạy học lạ khác nhau, mặt khác không phải kiến thức nào cũng có thể dạy lại theo cách lặp lại con đường NCKH. Vì vậy, khi chuyển thành PPDH, PP khoa học đã có những biến đổi phù hợp với đối tượng dạy học, với mục đích, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và trở nên đa dạng và phong phú hơn rất biện pháp này chung cho cả 3 nhóm PP (Dùng lời, Trực quan và Thực hành), bao gồm: Quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, kết luận. Là các cách thức tổ chức quá trình nhận thức cho HS, chúng được thể hiện trong 3 nhóm PP có sự khác nhau: - Nhóm PP dùng lời: GV có thể viết câu hỏi lên bảng phụ để HS lần lượt trả lời ; GV có thể viết hoặc photo các đoạn tư liệu và lấy ra đọc khi cần thiết; GV sử dụng các phiếu học tập phát cho HS hoặc dán lên bảng cho HS hoàn thành. - Nhóm PP thực hành: GV sử dụng bản hướng dẫn các thao tác thực hành và các câu hỏi thảo luận phát cho từng nhóm HS hoặc treo lên bảng dùng chung cho cả lớp. Biện pháp định hướng tốt nhất là GV cần nghiên cứu kĩ PTTQ để nêu ra hệ thống câu hỏi mà câu trả lời HS chỉ có thể tìm được qua việc quan sát từ PTTQ. Dựa vào PTTQ để hình thành kiến thức mới thông qua sự định hướng, gợi ý, tổ chức của GV, HS tự lực tìm ra tri thức mới. Hệ thống câu hỏi GV đưa ra theo một trình tự logic nhất định, mà câu trả lời của HS chỉ có thể tìm được thông qua sự tìm tòi, nghiên cứu phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS Hình thành các kiến thức mới ở HS một cách chủ động, sáng dạy học SH mẫu vật tự nhiên có ưu thế là cho HS những biểu tượng chân thực, sinh động về thiên nhiên hữu cơ. Các vật tượng hình cung cấp cho HS những biểu tượng về hình dạng, màu sắc, cấu tạo, môi trường sống, tập tính hoạt động của các loài động, thực vật, vi sinh vật. So với các mẫu vật tự nhiên, chúng có ưu thế là có thể phóng to, thu nhỏ kích thước thật của đối tượng, có thể tập trung chú ý vào những chi tiết quan trọng nhất mà chúng ta cần nghiên cứu. Tuy nhiên chúng có nhược điểm là có thể gây những biểu tượng sai lầm về màu sắc thật, tương quan kích thước thật của đối tượng quan sát, cho nên khi sử dụng, GV cần phải lưu ý cho HS. Các vật tượng trưng đó là các biểu đồ, đồ thị, sơ đồ phát hiện mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, nhận xét diễn biến có tính quy luật của các quá trình sinh lí. Ngày nay với sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật như: máy chiếu overheat, projeter, video,… làm cho các PTTQ phát huy được sức mạnh và đem lại hiệu quả vượt trội trong dạy học, vì vậy GV cần phải cập nhật để sử dụng. Các thí nghiệm giúp HS phát hiện tính quy luật của các quá trình, phán đoán mối quan hệ nhân quả giữa các hiện nay nhờ các phần mềm tin học, người ta có thể thiết kế các thí nghiệm ảo thay thế cho các thí nghiệm trên đối tượng vật thật, nhờ đó mà việc BDTN đơn giản hơn và hiệu quả dạy học cao hơn. Khi tiến hành thí nghiệm GV cần phải nắm vững kĩ thuật, chủ động phán đoán các khả năng có thể xẩy ra và cách xử lí và cần phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi để dẫn dắt HS quan sát, thảo luận, các nhận xét, kết luận cần rút ra. Trong nhóm PP này, công tác độc lập của HS hoặc làm việc theo nhóm trên đối tượng thực hành là nguồn thông tin dẫn tới tri thức mới. HS trực tiếp thực hiện các thao tác thực hành trên đối tượng dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV để từ đó tự lực rút ra các kiến thức mới, kĩ năng mới. Bằng cách này, HS nắm vững kiến thức chắc chắn hơn, đặc biệt là biết rõ con đường dẫn tới tri thức mới, đồng thời phát triển tư duy, kĩ năng và chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn. Các nhiệm vụ này được GV giao cho từng cá nhân hay nhóm HS, sau khi hoàn thành SH báo cáo trước lớp, thảo luận rút ra kiến thức bổ sung vào việc xây dựng nội dung bài học. HS dùng mắt thường hoặc sử dụng kính hiển vi để tri giác trực tiếp và có mục đích đối tượng nghiên cứu, theo dõi, ghi chép các sự vật hiện tượng trong tự nhiên mà không can thiệp vào dạy học Sinh lí người ở lớp 8, GV có thể cho HS quan sát  ngay trên cơ thể của các em, như đếm nhịp nhở, nhịp khác, HS tác động vào đối tượng nghiên cứu bằng các điều kiện nhân tạo nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một hoặc vài yếu tố xác định, tập trung theo dõi một vài khía cạnh nhất chương trình SH THCS có thể giao cho từng HS hoặc theo nhóm HS tiến hành một số thí nghiệm đơn giản về sinh lí thực động vật, như thí nghiệm xác định chất hữu cơ được tạo ra từ lá cây khi có ánh sáng; Thí nghiệm xác định chất khí thải ra trong quá trình quang hợp; … Để thí nghiệm của HS thu được kết quả, GV cần xác định rõ mục đích, hướng dẫn kĩ về mặt kĩ thuật, cung cấp các dụng cụ, hóa chất,… cần thiết và tổ chức theo dõi ghi chép, thu thập số liệu, phân tích kết quả. Khi HS tự tiến hành thí nghiệm và thu được kết quả thì chắc chắn các ẹm sẽ nắm vững tri thức hơn và hiểu rõ bản chất của chúng. Vì vậy, GV cần hướng dẫn HS tập làm quẹn với những TN đơn giản để phát huy tính sáng tạo, độc lập tìm ra tri thức, đáp ứng nhu cầu thích học hỏi, khám phá của các em. QTDH cung cấp nguồn nhân lực quan trọng cho quá trình CNH – HĐH đất nước, để đào tạo nguồn nhân lực có tri thức vững vàng, khả năng thích ứng cao, kĩ năng giỏi,… thì phải ưu tiên sử dụng các PP trực quan, thực hành, tăng cường dạy học theo kiểu tìm tòi, nghiên cứu, dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, hạn chế theo kiểu tái hiện, thông báo, giải thích, minh họa. Ở các lớp cuối cấp thì có thể sử dụng các PP đòi hỏi HS tư duy cao, như PP thực hành thí nghiệm, đặt và giải quyết vấn đề, có thể sử dụng PP diễn giảng các vấn đề khó trong 1 thời gian dài. Quá trình khám phá của HS có sự định hướng, hướng dẫn của GV, do đó kết quả khám phá sẽ nhanh và hiệu quả hơn, chứ không phải mò mẫm như trong NCKH, như mô hình của khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ trình độ thấp đến trình độ cao, tùy theo năng lực tư duy của người học, và có thể được tổ chức theo cá nhân, nhóm nhỏ hay nhóm lớn tùy vào mức độ phức tạp của vấn đề khám phá. - Sự thu nhận và sử lí thông tin được điều khiển bởi quá trình điều hành – kiểm tra, có chức năng định hướng chú ý, lựa chọn các PP thích hợp, giám sát điều chỉnh con đường tiến tới mục này nguồn thông tin rât đa dạng: SGK, sách tham khảo, tivi, đài phát thanh, báo, tạp chí, mang internet, đĩa CD, VCD, DVD,… Vì vậy, người học cần phải biết lựa chọn nguồn thông tin phù hợp và những thông tin cần thiết phù hợp với mục tiêu đề ra để tránh mất phương hướng, mất thời gian. Đối với HSPT, SGK là nguồn thông tin chính, GV cần phải dạy cho HS biết cách đọc sách, cách ghi chép thông tin đọc được, khái quát thành ý chính, mã hóa thành sơ đồ, biểu khi vào mục mới GV có thể yêu cầu HS đọc lướt nội dung SGK đê nắm được nội dung chính, để ý các cụm từ quan trọng, khó nay SGK được viết theo kiểu tổ chức các HĐ tìm tòi, khám phá qua quan sát, thí nghiệm, thảo luận để HS tự lực chiếm lĩnh tri thức mới. GV cho HS thực hành đọc lướt vài lần, trao đổi, thảo luận với các thành viên trong nhóm, trên cơ sở đo tự rút ra quy trình đọc lướt hiệu quả nhất. Để rèn luyện khả năng này của HS, trong bài dạy của mình GV cần có các biện pháp sau: nhắc lại các ý chính, nhấn mạnh giọng nói, gạch chân dòng trên bảng, nói chậm lại các ý chính, đưa ra các bài tập tìm ý chính từ dễ đến khó để HS luyện dẫn HS ghi lại các ý chính, ý phụ một cách rõ ràng, logic, có thể ghi theo cách hiểu, chứ không nhất thiết là lặp lại lời của GV hay SGK, làm nổi bật các ý chính quan trọng bằng thứ mực khác hoặc gạch dạy học HS không chỉ hiểu, chấp nhận mà còn phải biết cách đặt câu hỏi, tìm ra những mâu thuẫn trong kiến thức để hiểu sâu và rộng hơn, nhớ lâu hơn. + Khi trả lời câu hỏi của HS cũng không nên trả lời tức thì, mà cần nêu ra xem có HS nào trả lời được không, trong lúc đó GV suy nghĩ và tìm cách trả lời tối ưu thảo luận nhóm GV là người tổ chức các tình huống dẫn tới thảo luận, tranh cãi, hướng sự chú ý của HS vào những điểm quan trọng, can thiệp khi cuộc thảo luận đi chệch hướng hoặc bế tắc, dẫn dắt HS những cấp độ hiểu biết cao hơn. HS tham gia thảo luận sẽ được nâng cao dần khả năng diễn đạt ý kiến của mình cho người khác nghe và sau đó tiếp nhận ý kiến phản hồi về chất lượng ý kiến của mình, qua nhiều lần như vậy, HS sẽ có khả năng diễn đạt, tốt hơn. Cần định hướng cho HS khi diễn đạt nên sử dụng vốn từ để diễn đạt theo ý của mình, tránh lặp lại y như SGK, trong cách trình bày nên minh họa các ví dụ, hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ khái niệm vẽ ra các mối liên hệ, các móc xích kết nối các kiến thức mới học được với nhau, kết nối các thông tin mới và thông tin đã có. Trong dạy học bằng các hoạt động học tập khám phá có thể phân biệt những dạng hoạt động nào và những hình thức tổ chức hoạt động nào? Ví dụ: Nội hàm của khái niệm TV hạt kín là thực vật bậc cao, có cơ quan sinh sản hữu tính là hoa, hợp tử phát triển thành phôi và tạo thành hạt, hạt được giấu kín trong quả. Sự tương quan giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm được hiểu khác nhau theo quan niệm của logic hình thức và logic biện chứng Khi nhận thức càng ở mức cao trên con đường khái quát hóa các hiện tượng của thế giới khách quan thì nội hàm của khái niệm càng phong phú. Ví dụ khái niệm “gen”, từ thời Mendel được hiểu đơn giản là nhân tố di truyền, dần dần càng được hiểu đầy đủ và phong phú và ngày nay chúng ta hiểu khái niệm gen gần như hoàn thiện – là một đoạn AND quy định tổng hợp 1 loại Protein, các loại ARN, trên gen có các đoạn Intron xen kẽ với exon, có nhiều loại gen khác nhau: gen điều hòa, gen vận hành, gen lại Logic hình thức giúp ta phát biểu định nghĩa các khái niệm phổ biến và đơn nhất, còn logic biện chứng giúp ta hiểu bản chất của khái niệm chung và riêng hợp với quy luật của quá trình nhận thức. Là khái niệm phản ánh sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ của một đối tượng Sinh vật, hoặc phản ánh mối quan hệ riêng biệt giữa các đối tượng đó. KN về các quan hệ: Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức năng của 1 cơ quan, giữa cơ thể với môi niệm đại cương là khái niệm phản ánh những sự vật hiện tượng, quá trình, quan hệ cơ bản của sự sống, chung cho toàn bộ sinh trên thể hiện các phân môn HS được học ở trường phổ thông, ở cấp 2 chủ yếu học các phân môn cụ thể, do đó khái niệm chuyên khoa chiếm chủ yếu. Khái niệm Là những KN phản ánh các dấu hiệu của SV, HT mà con người có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác cơ sở các dấu hiệu rút ra từ PPTQ, HS tiến hành các thao tác tư duy, phân tích, so sánh, suy lí quy nạp, khái quát hóa để tìm ra dấu hiệu bản chất của khái niệm Sinh sản hữu tính Là hình thức sinh sản có sự tham gia của hai loại giao tử có tính đực và tính cái tạo thành hợp tử và phát triển thành cơ thể mới. Đột biến Là những biến đổi trong NST hoặc AND, phát sinh do các tác nhân lí hóa của ngoại cảnh hoặc do những rối loạn trong tế bào gây ra những biến đổi bẩm sinh và di truyền cho thế hệ sau. + Định nghĩa theo tên gọi: Câu định nghĩa giải thích tên gọi của khái niệm, cách định nghĩa này thường được dùng khi tên gọi của KN đã phản ánh được một vài dấu hiệu quan trọng của KN đủ để phân biệt với các KN khác. Lưu ý: Có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để cùng định nghĩa một khái niệm, dù sử dụng cách nào thì cũng phải thể hiện được các đặc tính bản chất của khái niệm; trong cách định nghĩa theo KN giống tránh dùng KN giống vượt cấp so với KN được định nghĩa. GV nên tạo điều kiện cho HS vận dụng khái niệm thông qua bài tập (Giải thích của HT tương tự, …), lấy các ví dụ khác, suy luận để hình thành khái niệm mới. b. Dựa vào kiến thức đã biết để hình thành khái niệm mới: HS nhận biết các dấu hiệu của KN thông qua lời dẫn dắt của thầy hoặc HS dựa vào những biểu tượng đã có, hoặc 1 hiện tượng khác gần gũi với vốn kinh nghiệm cảm tính của các em để hình thành KN mới. Loại khái niệm này không phản ánh một sự kiện hiện tượng riêng lẻ, mà nó phản ánh một chuỗi các sự kiện liên tiếp sảy ra theo một trình tự chặt chẽ có tính định hướng rõ bày các sự kiện theo một trình tự xác định, nêu bật tính định hướng, liên tục và thống nhất của quá trình, nêu rõ các giai đoạn chính, các cấu trúc vật chất tham gia vào quá bước này phân tích rõ chức năng của từng cấu trúc, sự tương tác giữa các cấu trúc, xác định cấu trúc chủ yếu nhất thường sử dụng phương pháp diễn giảng hoặc giảng giải và sử dụng các biện pháp hỏi đáp kết hợp với trực quan. Nêu ý nghĩa sinh học của quá trình đối với sự sống của cơ thể, đối với sự tiến hóa và khả năng vận dụng vào thực khái niệm này phản ánh xu thế vận động, phát triển tất yếu của các sự vật, hiện tượng và phản ánh mối liên hệ bản chất giữa các mặt khác nhau của cùng một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật khác nhau, trong đó đặc biệt là mối quan hệ nhân quy luật của sự sống được phát hiện từ thực nghiệm sinh học được gọi là định luật sinh dạy học các KN khoa học không được hình thành đầy đủ ngay 1 lúc mà phải được phát triển tuần tự, từ bài này sang bài khác, từ chương này sang chương khác, nhất là đối với các khái niệm đại cương. + Số lượng KN mà HS phải lĩnh hội thì nhiều, nội dung các KN đó lại phức tạp mà trình độ kiến thức năng lực của các em ở từng lớp thì có hạn. + Sự phát triển KN đi đôi với vốn tri thức, năng lực trí tuệ và sự phát triển thế giới quan khoa học của HS. Kiến thức của nhân loai ngày một tăng lên, mà chương trình lại có hạn, hơn nữa HS chưa đủ kiến thức cơ sở để nắm ngay khái niệm 1 cách đầy đủ, cho nên đôi khi phải hình thành khái niệm ở dạng chưa hoàn toàn chính xác và đến khi có đầy đủ điều kiện thì phải chỉnh lí cho khái niệm chính xác nghiên cứu khoa học cùng với sự xuất hiện những lĩnh vực mới là sự xuất hiện các khái niệm DHSH, mỗi lần chuyển sang 1 phân môn mới, HS lại được tiếp xúc với những khái niệm mới.Ví dụ, khi học sang phần Di truyền và biến dị, HS được làm quen với các khái niệm mới như: di truyền, biến dị, kiểu gen, kiểu hình, tính trội, lặn, … Trong khoa học, các KN mới xuất hiện thường không phải bằng con đường phủ định hoàn toàn cái cũ mà chủ yếu bằng sự chỉnh lí giới hạn của KN cũ. 1. Trình bày được các hình thức tổ chức DHSH, mối quan hệ giữa chúng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nội dung và PP dạy học sinh học 3. Bước đầu vận dụng lí luận để biên soạn một số bài dạy cụ thể theo các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Bài lên lớp là hình thức dạy học cơ bản của quá trình DHSH ở trường phổ thông, được diễn ra trong 1 khoảng không gian xác định, tại một địa điểm nhất định, với một số lượng HS ổn định cùng độ tuổi, cùng trình độ. Trong bài lên lớp dưới sự chỉ đạo của GV, HS lĩnh hội được các tri thức lí thuyết, những kĩ năng, kĩ xảo thực hành 1 cách có hệ thống và liên tục theo một chương trình xác quan niệm hiện đại việc chia bài lên lớp thành các bước chỉ là hình thức bên ngoài của cấu giờ lên lớp GV cần vận dụng mối quan hệ tất yếu này để tổ chức tiết học có khoa học và hiệu quả. Các bước của bài lên lớp tùy vào tính chất bài học, tùy vào nội dung hay PP mà sử dụng một cách linh hoạt, có thể hoán đổi vị trí hoặc bỏ qua một vài bước không cần thiết. Để khái quát và hệ thống hóa kiến thức, bài lên lớp củng cố hoàn thiện tri thức có thể được tiến hành theo hướng nêu vấn đề hoặc tái tạo tài liệu đã học theo hướng hệ thống khái quát lí khi đã dặn HS ôn tập và chuẩn bị các câu hỏi do GV đặt ra, GV có thể tiến hành theo PP dùng lời, trực quan, thực hành. + Câu hỏi không chỉ mang tính chất tái hiện lại kiến thức mà sự tái hiện chỉ là cơ sở cho việc phân tích, tổng hợp, thành các tri thức khái quát. Nội dung dạy học phần lớn đã được xác định ở SGK, nhưng GV cần phải căn cứ vào vốn trí thức, hứng thú học tập để lựa chọn và xác định khối lượng kiến thức khoa học chủ yếu cho bài lên lớp, xác định khả năng tự học, tự nghiên cứu độc lập, khả năng thảo luận, nêu vấn đề. Ở trường THCS, việc hình thành và phát triển các kiến thức sinh học đại cương được xây dựng thông qua tất cả các phân môn cụ thể ở các lớp 6 – 9. Vì vậy, GV cần phải biết lựa chọn các nội dung tài liệu có tính sự kiện để hình thành các tri thức mang tính quy luật SH đặc trưng cho các cấp độ tổ chức sống. Khi chuẩn bị bài lên lớp, GV cần xác định vị trí của bài lên lớp, tính đến khả năng sử dụng các quan hệ liên môn trong việc hình thành các khái niệm, kiến thức sinh học, như: có cần sử dụng kiến thức lí hóa, địa lí để bổ sung, làm dẫn chứng cho KThức sắp học hay không; hay kiến thức này HS đã được làm quen ở môn học khác chưa, mức độ như thế nào? Khi chuẩn bị bài lên lớp, tùy vào tính chất nội dung của bài học mà bố trí thời gian giữa các phần cho hợp lí, đảm bảo hoàn thành nội dung bài học. GV cần phải dự kiến thời gian chi tiết cho từng phần: KT bài cũ, giới thiệu bài, các hoạt động, phần củng cố,… Khi soạn bài nhất thiết phải có cột thời gian, và cần kiểm tra tổng thời gian đã đủ 45 phút chưa, đã hợp lí chưa? 1. Tại sao nói bài lên lớp là hình thức tổ chức dạy học cơ bản nhất trong các HTTC DHSH?