Tiểu luận: Quốc gia và văn hóa ảnh hưởng đến sự thay đổi và sự đổi mới của tổ chức

Tiểu luận: Quốc gia và văn hóa ảnh hưởng đến sự thay đổi và sự đổi mới của tổ chức

Lượt xem: 76,270Lượt tải: 4Số trang: 58

Mô tả tài liệu

Tiểu luận: Quốc gia và văn hóa ảnh hưởng đến sự thay đổi và sự đổi mới của tổ chức nhằm xây dựng dựa trên một quan điểm đồng tiến hóa (Lewin, Long, và Carroll, 1999) và một cách tiếp cận đa cấp độ (Lammers, 1978), chúng ta xem xét lại những động lực và những sự phức tạp của những mối quan hệ trong số những hình thái thuộc về thể chế, những thực tiễn quản lý, và sự thay đổi và sự đổi mới thuộc về tổ chức.

Tóm tắt nội dung

1 Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh Khoa Đào Tạo Sau Đại Học Lớp Cao Học Quản Trị Kinh Doanh 2008 Môn Quản Trị Thay Đổi Bài dịch chương 11 GGIIAA VVÀÀ VVĂĂNN HHÓÓAA ẢẢNNHH ĐĐẾẾNN SSỰỰ TTHHAAYY ĐĐỔỔII VVÀÀ SSỰỰ ĐĐỔỔII MMỚỚII CCỦỦAA TTỔỔ CCHHỨỨCC HANDBOOK OF CHANGE AND Giảng viên: Ts. Nguyễn Hữu Lam Ths. Trần Hồng Hải Biên dịch: Nhóm 11: Huỳnh Gia Xuyên Trần Phạm Thanh Vân Trần Quốc Tế Vũ Thị Bích Vân TP.HCM, Tháng 06 – 2010 2 CHƯƠNG 11 QUỐC GIA VÀ VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI VÀ SỰ ĐỔI MỚI CỦA TỔ CHỨC Arie Y. Lewin & Jisung Kim Ngành khoa học xã hội đã được khám phá và được thể hiện qua các luận điểm về văn hóa, lịch sử, chính trị, xã hội và khía cạnh kinh tế của một quốc gia, nó ảnh hưởng đến thực tiễn quản lý và sự thích ứng mang tính chiến lược của tổ chức (Adler, Doktor và 1986; Badie và Birnbaum, 1983; Chandler, 1990; Clegg và Reddings, 1990; Djelic, 1998; 1996; Hickson và McMillan, 1981; Lammers, 1978; Lange và Regini, 1989; Meyer, 1994; Nelson, 1993; Putnam, 1993; Skocpol, 1985; 1965; Warner, 1997; Weber, Hsee, và 1998; Whitley, 1999). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ tập trung đến một phần trong những mối quan hệ, phản ánh sự định hướng và thường liên quan đến những vấn đề về lịch sử mà không dựa trên cơ sở lý thuyết của những sự kiện đã được khảo sát. Kết quả là một lý thuyết rời rạc trong quản lý so sánh (Redding, 1997). Sự giả định ẩn làm nền tảng cho những lý thuyết về sự chọn lọc thích nghi đã được xem xét bởi Lewin, Weigelt, và Emory (chương 5 của cuốn sách này) là sự áp dụng phổ biến trong việc giải thích hiện tượng của quá trình thích nghi và sự chọn lọc. Những lý thuyết của sự thích nghi và sự chọn lọc đã xem xét lại trong quyển sách này, ví dụ, không có liên quan đặc biệt khi đề cập đến sự kiện xảy ra ngẫu nhiên tùy thuộc vào hiệu ứng vừa phải của quốc gia đối với một vài trường hợp ngoại lệ (ví dụ, lý thuyết thuộc về thể chế). Mặc dù lý thuyết thuộc về thể chế đưa vai trò của bang vào trong sự thay đổi của tổ chức (phép đẳng cấu cưỡng ép và có tính quy chuẩn) tập trung vào những quá trình thuộc về thể chế như là những ảnh hưởng ban đầu phổ biến của sự thay đổi. Tuy nhiên, lý thuyết thuộc về thể chế cung cấp những khung hữu ích cho việc tổng hợp, kiểm tra, và 3 phát triển nhiều hơn những lý thuyết thuộc về xã hội học và sự thay đổi tổ chức (Elder, 1976; Kohn, 1987). Chương này xây dựng dựa trên một quan điểm đồng tiến hóa (Lewin, Long, và 1999) và một cách tiếp cận đa cấp độ (Lammers, 1978), chúng ta xem xét lại những động lực và những sự phức tạp của những mối quan hệ trong số những hình thái thuộc về thể chế, những thực tiễn quản lý, và sự thay đổi và sự đổi mới thuộc về tổ chức. Việc hiểu được những sự thay đổi do tiến hóa tạo ra tại cấp độ thể chế là một điều cần thiết để giải thích một vài nguyên nhân và những nguồn gốc của sự thay đổi và sự đổi mới tại cấp độ công ty. Kết hợp với những quan điểm thuộc về sinh thái và thể chế, những nhà nghiên cứu đề nghị rằng những quá trình thuộc về thể chế và kỹ thuật nên được xem như là những quá trình quan trọng thuộc về môi trường mà tạo nên những hình thức và hành vi thuộc về tổ chức và tạo thành những tiêu chuẩn chọn lựa cho sự tồn tại thuộc về tổ chức (Baum, 1996; Singh và Lumsden, 1990). Chúng ta tranh luận rằng hình thái cụ thể của một quốc gia hợp pháp hóa và được phản ánh đặc biệt qua những thực tiễn quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những tổ chức công mà chứng tỏ tác động vừa phải của những hình thức chủ nghĩa tư bản của quốc gia vào sự đổi mới và sự thay đổi thuộc về tổ chức. Bài thuyết trình về những thực tiễn quản lý phản ánh những hình thái cụ thể của một quốc gia được xác định bởi những nhân tố thuộc về lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội bao gồm một tài liệu văn bản lâu đời và đang phát triển trong khoa học xã hội (ví dụ, liên quan tới việc phát triển kinh tế, khoa học thuộc về chính trị, môn xã hội học, quản trị quốc tế, chiến lược, tâm lý xã hội, vân vân). Sự tranh luận cơ bản đã tìm thấy trong tài liệu văn bản này là những quốc gia đó phát triển dần dần những hình thái duy nhất của chính trị và những thể chế kinh tế, nhưng giao ước xã hội, và những hệ thống giáo dục mà phản ánh luật lệ chung của văn hóa, những giá trị, và lịch sử của một quốc gia. Với “sự toàn cầu hóa” về những hoạt động của doanh nghiệp, câu hỏi đặt ra và những nhân tố cụ thể của một quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến những thực tiễn quản lý đã làm nổi bật một khả năng quan trọng. 4 Chúng ta xem xét một loạt những sự tranh luận có tính chất lý thuyết và những 5 nghiên cứu thực nghiệm bao gồm những hình thái về thể chế và sự ảnh hưởng của những 6 hình thái về thể chế đến những thực tiễn quản lý. Chúng ta chấp nhận nghiên cứu trước 7 đó về thể chế và những nhân tố quản lý (Lewin và những đồng nghiệp, 1999; Whitley, 8 1996) trong việc chọn lựa những khía cạnh của hình thái thể chế và những thực tiễn quản 9 lý. Chúng ta phát triển một khung tích hợp hình thái thể chế và những thực tiễn quản lý để cấu thành nên những sự tranh luận của chúng ta và khám phá sự vận động của những mối quan hệ. Đặc biệt, chúng ta tranh luận rằng những thực tiễn quản lý như những cấu trúc của sự cai quản, quyền lực và kiểm soát, những mối quan hệ về sự thuê mướn nhân công, và những mô hình chiến lược phản ánh những hình thái thể chế của một quốc gia như là những điều kiện thành lập của quốc gia, vai trò của chính phủ, hệ thống pháp lý, thị trường vốn, hệ thống giáo dục, và văn hóa, mà giữ vai trò như những ràng buộc về dân số và sự thay đổi, sự đổi mới tại cấp độ thuộc về tổ chức (xem hình vẽ 11.1) Những thực tiễn quản lý phát triển dần dần như một kết quả không bao giờ chấm dứt tác động qua lại giữa những sự thay đổi trong hình thái thuộc về thể chế bên trong những tổ chức đã được gắn sâu vào, những vận động của cấp độ dân số, và môi trường vĩ mô. Mục đích Những nhân tố thuộc về thể chế - Những điều kiện thành lập - Vai trò của chính phủ - Hệ thống luật pháp - Thị trường vốn - Hệ thống giáo dục - Văn hóa Những thực tiễn quản lý - Cấu trúc của sự cai quản - Quyền lực và kiểm soát - Mối quan hệ thuê mướn nhân công - Mô hình chiến lược Sự thích nghi, sự thay đổi, và sự đổi mới thuộc về tổ chức Hình vẽ 11.1 : Khung những ảnh hưởng của quốc gia đến sự thích nghi của công ty 10 của chương này, chúng ta sử dụng quốc gia, đất nước, và văn hóa như một sự chọn lựa cho tác động vừa phải của một quốc gia đến quản lý chiến lược và sự thay đổi thuộc về tổ chức. Một cách tương tự, liên quan các yếu tố đất nước, liên quan các yếu tố quốc gia, liên quan các yếu tố đa văn hóa, và những nghiên cứu đối chiếu được dùng như những nghiên cứu thay thế. Chúng ta sử dụng cụm từ vừa phải để diễn đạt bằng lời quan điểm của chúng ta về những tác động cụ thể đến quốc gia tạo ra những sự kiện xảy ra ngẫu nhiên làm cho dịu đi những tác động có tính chất lý thuyết của những mối quan hệ trong số những khái niệm (Child và Kieser 1981; Fligstein 1996). Chúng ta tập trung vào nước Mỹ, Nhật Bản, và Đức trong khảo sát của chúng ta vì những sự thảo luận cụ thể cho ý nghĩa cốt yếu về những sự tranh luận của chúng ta, vì mỗi nước trong số ba nước đó đại diện cho một nền kinh tế dẫn đầu ở chính châu lục đó mà là nguồn gốc của những sự khác biệt nhau thuộc về thể chế, và vì những hình thái cụ thể của quốc gia dựa trên một kế hoạch chi tiết về tăng trưởng tương đối và quan trọng. Chúng ta không tranh luận rằng những quốc gia đó trong cùng một châu lục thì khác biệt với nhau. Trong thực tế, chúng thì khác biệt ở những châu lục khác nhau (Kim, 1998; 1996). Ba nước trên, chúng ta tập trung vào tính đại diện tiêu biểu cả mặt học thuật và người đang thực hiện một kỹ năng, vì những ví dụ và những trường hợp thì tương đối dễ dàng hơn so với những quốc gia khác. Tuy nhiên, khi cần thiết, chúng ta bao gồm cả những trường hợp của những quốc gia khác để giúp đỡ minh họa những quốc gia trông có vẻ giống nhau có những sự tác động khác biệt nhau như thế nào về những thực tiễn quản lý. Những nền tảng khái niệm của các hình thái thể chế Nhà nước và mối quan hệ của nó với xã hội được quan tâm ngày càng cao (Badie và Birnbaum, 1983; Hickson và McMillan, 1981; Warner, 1997). “Cha đẻ” của các lý thuyết xã hội học - Marx, Durkheim, và Weber – mang đến sự khác biệt không quan trọng giữa các nhà nước và sự ảnh hưởng của chúng đến xã hội. Tuy nhiên, hệ thức có 11 ảnh hưởng lớn đến nhà nước là hệ thống rời rạc trong số những lý thuyết trên, cũng như quan điểm cho rằng quốc tịch chính xác là sự xác định tư cách (ví dụ, độc đoán như sự tùy hứng của cá nhân) hạn chế nghiên cứu về vai trò của nhà nước. Những quan điểm này bắt đầu thay đổi nhanh chóng trong những năm 1960, khi nhà nước nổi lên như là một phương pháp chính của cuộc điều tra bởi những nhà xã hội học người Mỹ gốc Anh (Badie và Birnbaum, 1983; Skocpol, 1985; 1999). Việc hiện đại hóa của các quốc gia ở thế giới thứ ba, được dẫn đầu bởi những nhà nước độc tài mạnh mẽ, sự nổi lên của tân chủ nghĩa Mác, và một sự tham chiếu liên tục ảnh hưởng của nhà nước vào nền kinh tế và xã hội trong hầu hết các nước phương Tây, đã biết ơn những học giả đến xem lại vai trò của nhà nước 1999). Ngoài ra, khi sự cân bằng cũ giữa nền kinh tế thị trường và quyền lực của nhà nước đã bắt đầu dịch chuyển theo hướng thứ hai, những nhà xã hội học bắt đầu nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng sự ảnh hưởng và kết cấu của chính phủ (Parsons, 1971). Sự ảnh hưởng của nhà nước đến xã hội là không thể thiếu trong những quan điểm gần đây. “Sự nổi lên” của hoạt động kinh tế trong xã hội mà (1985, trang 481) làm rõ đạt được sự ủng hộ từ nhiều nguồn khác nhau (ví dụ, Clegg và Reddings, 1990; Djelic, 1998). Quan điểm lý thuyết kinh tế học tân cổ điển có vẻ không được xã hội hóa, lập luận rằng hoạt động kinh tế chỉ được hiểu một cách hợp lý trong bối cảnh của những thể chế và những mối quan hệ xã hội. Tranh luận dẫn đến một sự đổi mới được nhấn mạnh và đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn vào những mô hình hoạt động kinh tế của tổ chức đã được gắn kết như thế nào vào những bối cảnh rộng lớn hơn (Callon, 1998; Redding và Whitley, 1990). Trong các nghiên cứu về năng động dân số, tính hợp pháp được giải thích về mặt sự nổi lên thuộc về thể chế và được tìm thấy ảnh hưởng đến những tỷ lệ xây dựng và thất bại của một dân số (Baum và Oliver, 1992). Tương tự, lý thuyết thuộc về thể chế mới (DiMaggio và Powell, 1983; Powell và DiMaggio, 1991) tranh luận rằng sự thay đổi của tổ chức phải được khảo sát về mặt vai trò của nhà nước như một nguồn hợp lý hóa và sức ép cưỡng chế đẳng cấu về tính hợp lý thuộc về quản lý và sự thích nghi thuộc về tổ chức theo thời gian, và như là một bổ sung cho sự phân tích các động lực cạnh tranh trong công nghiệp. 12 Những hình thái thuộc về thể chế của nhà nước được xây dựng dựa trên những điều kiện lịch sử và văn hóa khác nhau 1991; Redding, 1997; 1965). Nghiên cứu các mục tiêu trong sự phát triển của những quốc gia tư bản chủ nghĩa, đề nghị rằng hiệu quả kinh tế của một quốc gia là một quy mô có ý nghĩa đã ảnh hưởng đến những nhân tố theo mức độ của quốc gia như là những thể chế, những hệ tư tưởng, những áp lực của những nhóm có chung lợi ích kinh tế xã hội, chính sách kinh tế ở cấp độ quốc gia, và những rủi ro lịch sử. Ông phát hiện ra sự tiến hóa của cương vị lãnh đạo kinh tế trên thế giới khi nó dịch chuyển từ Hà Lan đến Vương quốc Anh và cuối cùng là đến nước Mỹ, đang lập luận rằng những nhân tố thuộc về thể chế điều khiển những quá trình chuyển đổi. Lịch sử cũng cho chúng ta biết rằng những nhà nước là khác nhau trong những sự phản ứng của họ đối với sự phản ứng lại về kinh tế nào đó của quốc gia. Ví dụ, trong cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, khi những công ty công nghiệp lớn đã tham gia với những tập đoàn để giảm nhẹ sự không chắc chắn thuộc về môi trường do giá cố định, hạn chế sản xuất, và ngăn cản những đối thủ mới gia nhập vào kinh doanh, các chính phủ Châu Âu và Mỹ khác nhau về phản ứng của họ đối với việc tập đoàn hóa (Barfield và Schambra, 1986; Djelic, Koza, và Lewin, 2000; 1990). Ví dụ, những mạng lưới liên công ty dưới hình thức những tập đoàn đã được sự đồng ý chính thức và hỗ trợ của Đức, ở Mỹ, pháp luật chống độc quyền được ban hành, tiếp theo là việc tố tụng theo các tiền lệ được thiết lập đang phá vỡ cái được gọi là tin cậy. Khi Djelic và những đồng nghiệp cùng tranh luận, một niềm tin vào sự cạnh tranh trong thị trường thì thịnh hành ở Mỹ, và một truyền thống chống độc quyền có nguồn gốc sâu xa trong thông luật của nước Anh. Trong nghiên cứu về sự cải cách tại khu vực thuộc nước Ý từ những năm 1970 đến những năm 1990, Putnam (1993) phát hiện ra sự ảnh hưởng của bối cảnh xã hội nước Ý và lịch sử có hiệu lực của những thể chế. Những mạng lưới dày đặc của những hiệp hội địa phương, sự cam kết tích cực trong những hoạt động của cộng đồng, và những mô hình theo chủ nghĩa bình quân của hoạt động chính trị mô tả một cách truyền thống ở khu vực phía Bắc, được xem là đáng tin cậy và tuân thủ luật pháp. Ngay tại đây, chính quyền địa phương trở nên định hướng đô thị nhiều hơn và hiệu quả của nó liên tục tốt hơn về 13 những thể chế ở phía Nam. Khu vực phía Nam được đặc trưng bởi chiều dọc, chính trị, và sự tham gia xã hội, sự nghi ngờ lẫn nhau, và sự tham nhũng, và tất cả được coi là bình thường. Ngay tại đây, sự tham gia vào các hiệp hội đô thị thì ít ỏi. Putnam tiếp tục cho rằng những thể chế chính thức đang thay đổi có thể làm thay đổi thực tiễn chính trị, nhưng những sự thay đổi thuộc về thể chế thì chậm, phản ánh sự ảnh hưởng và bản chất của sự phụ thuộc vào đường lối. Những tiến bộ trong sự đổi mới khoa học và kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến hình thái thuộc về thể chế của những hệ thống đổi mới quốc gia 1993). Nelson và những đồng nghiệp của ông đã chứng minh rằng những quốc gia tiến hóa ở những hình thái khác nhau của những hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm một tập hợp tương tự nhau “những tác nhân thể chế” (trang 9), chẳng hạn như các phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc gia và các học viện, các trường đại học, và các phòng thí nghiệm của công ty. Ngoài ra, những hình thái của “những tác nhân chủ thể” này thay đổi theo quốc gia tùy thuộc vào những nhân tố chính trị lịch sử, xã hội, và kinh tế của quốc gia. Những hình thái thuộc về thể chế được định nghĩa như những chòm sao của những ràng buộc chính thức và không chính thức mà tạo thành sự ảnh hưởng lẫn nhau của con người (North, 1990). Những ràng buộc chính thức bao gồm chính quyền, hệ thống pháp luật, những nguyên tắc quản lý và sự cạnh tranh cho phép, thị trường vốn, và hệ thống giáo dục. Những ràng buộc không chính thức bao gồm lịch sử, văn hóa, hệ thống giá trị, và những thỏa thuận thuộc về xã hội. Hệ thống những ràng buộc chính thức phản ánh và được gắn vào 1985) trong những ràng buộc không chính thức. Những sự sắp xếp thuộc về thể chế chính thức tiến hóa theo những cách thích hợp, và phản ánh hệ tư tưởng xã hội, hoặc hệ thống giá trị của quốc gia (Lewin và những đồng nghiệp, 1999). Những sự thay đổi trong những ràng buộc thể chế hóa chính thức thường tụt lại sau những sự thay đổi đang nổi lên của những ràng buộc không chính thức. Ví dụ, sự nổi lên và sự kết tinh của các phong trào xã hội như bảo vệ môi trường và quyền tự do cá nhân trước việc ban hành những luật mới mà biểu thị sự thay đổi đến những ràng buộc chính thức. 14 Mặc dù một số quốc gia chia sẻ một số triết lý dân chủ (ví dụ, một hệ thống của những nghị viện với tính chất quần chúng được bầu ra), nhưng những sự khác biệt trong những sự ràng buộc chính thức phản ánh nền tảng lịch sử và văn hóa độc đáo (Badie và 1983). Ngoài ra, mặc dù những hình thái thuộc về thể chế của những nước phát triển có nhiều những ràng buộc chính thức phổ biến, nhưng cả hai những ràng buộc chính thức và không chính thức được xem xét bởi những tác nhân xã hội có thể khác nhau đáng kể và xây dựng sự khác nhau đó dựa vào lợi thế cạnh tranh của một quốc gia (Hill, 1995; Porter, 1990). Trong phần còn lại của phần này, chúng ta thảo luận những yếu tố quan trọng của những hình thái thuộc về thể chế, bao gồm những điều kiện thành lập 1965), vai trò của chính phủ (Murtha và Lenway, 1994), hệ thống luật pháp (Baron, 1996), các thị trường vốn 1980), hệ thống giáo dục (Calori, Veri, và Veiga, 1997), và văn hóa và 1993). Những điều kiện thành lập (1965) khẳng định rằng “Những hình thức và những loại của tổ chức có một lịch sử và lịch sử này xác định một vài khía cạnh về cấu trúc hiện tại của loại tổ chức đó” (trang 153). Ông cũng cho biết những đặc tính dễ phân biệt của hình thức tổ chức tiếp tục tồn tại theo thời gian. Tùy thuộc vào cấp độ của sự phân tích, sự vận hành của những điều kiện thành lập có lẽ thay đổi. Ví dụ, tại cấp độ thuộc về tổ chức, những điều kiện thành lập được đại diện như sự ưu tiên của người sáng lập cho cấu trúc thuộc về tổ chức hoặc một tập hợp nhiều người đầu tiên cùng giới tính (Baron, Hannan, và Burton, 1999). Tại cấp độ dân số của tổ chức, những điều kiện thành lập bao gồm chính sách của chính phủ hoặc những nhân tố về sinh thái chẳng hạn một số người đương nhiệm và tính sẵn có của vốn (Dobbin và Dowd, 1997). Boeker (1988), trong một nghiên cứu thực nghiệm về những ảnh hưởng của những điều kiện thành lập đến những công ty chế tạo chất bán dẫn, tìm thấy những quyết định về chiến lược có từ sớm và những mô hình của tổ chức liên quan đến cả hai những điều ưu tiên, những điều tin tưởng vào nhà doanh nghiệp sáng lập và môi trường. Bên trong những hình thái cụ thể của quốc gia, lịch sử quốc gia, những điều kiện địa lý, và những rủi ro lịch sử cụ thể giữ vai trò của những 15 ràng buộc về mặt hành vi của tổ chức và con người. Theo (1965), chúng ta dựa vào bối cảnh lịch sử liên quan đến những điều kiện thành lập của một quốc gia, đến những hình thức của tổ chức và những thực tiễn quản lý. Mặc dù những thực tiễn quản lý hiện đại của Nhật Bản bắt nguồn từ thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, một vài khía cạnh quan trọng có trước kỷ nguyên cũ mà tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống quản lý của người Nhật Bản (Allen, 1981; Ito, 1996; 1990). Tính đồng nhất mạnh mẽ của quốc gia đã thiết lập trong suốt kỷ nguyên Tokugawa vẫn giải thích tính đồng nhất và lòng trung thành của thương gia Nhật Bản đối với đất nước. Khổng giáo là nền tảng niềm tin, suy nghĩ, và hành vi của các nhà quản lý. Những lời giảng dạy của Khổng giáo bao gồm sự vâng lời không bị nghi ngờ đối với gia đình, hoàn toàn trung thành đối với cấp trên, tôn trọng những người lớn tuổi, và một sự tôn trọng đối với giáo dục. Chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa nhóm, đã phát triển từ kỷ nguyên Tokugawa, thì trái ngược với di sản tinh thần của biên giới hoặc chủ nghĩa cá nhân nghiêm khắc của người Mỹ. Vì thế, hệ thống hoạt động kinh doanh của người Nhật Bản đã phát triển quanh những mạng lưới tương đối nhỏ, những công ty chuyên môn hóa hợp tác với nhau (Fruin, 1992), trong khi tại nước Mỹ, đi theo pháp luật của những đạo luật chống độc quyền, những công ty phát triển lớn, nhiều ngành, nhiều hình thức hoạt động. Không giống với nước Mỹ, ở đó sự tạo thành và sự củng cố của những mạng lưới đường sắt tư nhân đưa đến kết quả là những phân cấp quản lý mới bao gồm tuyến đường và những chức năng phòng ban 1990), sự củng cố mạng lưới đường sắt ở Nhật Bản đã diễn ra, ở hầu hết các phần của đất nước, thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của chính phủ không kích thích sự tồn tại của các hình thức doanh nghiệp. Trong một phân tích về cương vị lãnh đạo kinh tế của Mỹ, Maddison (1991) tranh luận rằng sự xuất hiện của Mỹ như là nền kinh tế hàng đầu vào cuối thế kỷ 19 là kết quả của những nguồn vốn đầu tư mạnh mẽ, tài nguyên thiên nhiên trong đất phong phú và nhiều khoáng sản, và một thị trường nội địa rộng lớn. Mức vốn cổ phần cho mỗi nhân viên làm thuê ở Mỹ cao gấp hai lần ở Vương Quốc Anh vào năm 1890. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng phong phú là có sẵn giúp cải thiện giao thông vận tải, bao 16 gồm cả đường sắt và đường cao tốc. Dân số của nước Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 19 thì nhiều hơn bất kỳ nước phát triển nào tại Châu Âu, và đang tăng trưởng với tỷ lệ ngày càng cao vì sự nhập cư và tỷ lệ sinh cao. Sự phát triển liên tục trong giao thông vận tải, khai thác mỏ, và sản xuất, thị trường nội địa khổng lồ của Mỹ, áp lực liên tục từ những nhà sáng lập công ty để tăng vốn đã dẫn đến việc tách cổ đông từ những tập đoàn lớn nhiều ngành mới nổi lên với sự quản lý chuyên nghiệp (Berle và Means, 1932; Chandler, 1990; Maddison, 1991). Đạo đức về nghề nghiệp đã ăn sâu vào Thanh giáo đưa ra nền tảng của tư tưởng kinh doanh sớm tại Mỹ (Guillén, 1994). Người theo Thanh giáo đã định cư sớm tại Mỹ, và công việc giảng dạy của họ đã thúc đẩy việc tìm kiếm lợi nhuận hợp lý, và đã hiện diện như người dân ở vùng biên giới và là người đàn ông tự lập như những mô hình vai trò. Hệ tư tưởng này phù hợp với những giá trị chính trị của quốc gia mới – tự do, bình đẳng cơ hội, và chủ nghĩa cá nhân. Giống như Mỹ, hoạt động kinh doanh hiện đại của nước Đức chịu ảnh hưởng lớn của sự phát triển hệ thống công nghiệp hiện đại. Trong suốt giữa thế kỷ thứ 18, sự phát triển đường sắt và sự chế tạo và khai thác mỏ đã mang lại những nguồn đầu tư to lớn cho khu công nghiệp (Kocka, 1980). Sau khi Bismarck thống nhất các tiểu bang của Đức dưới sự lãnh đạo của Kaiser Wilhelm I vào năm 1873, những công ty kinh doanh tại Đức tiếp tục phát triển, đa dạng hóa, và hội nhập theo những điều kiện thành lập có cả điểm giống nhau và điểm khác biệt so với những nước tại Mỹ. Những sự phát triển trong giao thông vận tải và sự phân phối của những công ty lớn nhất trong số những nhóm công nghiệp tương tự như ở Đức và ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, cách quản lý công ty là khác biệt nhau đáng kể tại hai nước. Tại Đức, các ngân hàng đóng vai trò trung tâm như những nguồn lực về vốn (Prowse, 1994). Thông qua những khoản cho vay và những khoản đầu tư dài hạn, cho phép những ngân hàng cử những đại diện của họ những người quản lý, những ngân hàng lớn ảnh hưởng đến những quyết định chiến lược của những công ty kinh doanh (Kocka, 1980). Không giống Mỹ, chính phủ Đức hỗ trợ cho những mạng lưới tạm thời, chẳng hạn như các tập đoàn cacten và xanhđica, thông qua đó các công ty sản xuất tại Đức phát triển theo quy mô và thông qua những chiến lược hội nhập về phía trước (Djelic và những đồng nghiệp, 2000; Kocka, 1980). 17 Một khía cạnh quan trọng của những điều kiện thành lập tại Đức là sự phát triển của chủ nghĩa công đoàn thương mại và sự tham gia của nhân viên ở các nước khác và đã sớm ăn sâu vào những tổ chức lao động 1980). Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Đức là một nước có chế độ quân chủ chuyên chế độc tài tại đó công nhân bị đàn áp bởi những phương tiện pháp lý và thông qua các hoạt động của chính phủ. Chủ nghĩa công đoàn thương mại được thành lập trong suốt những năm 1860 là kết quả của một phong trào xã hội chủ nghĩa. Để can ngăn công nhân tham gia vào công đoàn và chống lại sự ảnh hưởng của phong trào xã hội chủ nghĩa, Thủ tướng Otto von Bismarck đã thiết lập luật pháp, chẳng hạn như bảo hiểm y tế và tai nạn, trợ cấp người già và người tàn tật, đánh dấu một bước đột phá trong chính sách xã hội. Những thành viên của công đoàn đã tham gia vào sự quản lý về những khoản trợ cấp. Vào năm 1918, khi một hệ thống nghị viện được giới thiệu và chế độ quân chủ bị lật đổ, công đoàn đã được công nhận là người đại diện của người lao động, những hội đồng cửa hàng các cấp được giới thiệu bởi luật. Kể từ đó, sự tham gia của nhân viên vào các cấp của cửa hàng và công ty (cùng tham gia vào luật pháp) trở thành một đặc điểm để phân biệt những mối quan hệ của nhân viên Đức. Vai trò của chính phủ Chính phủ quốc gia có trách nhiệm về phúc lợi xã hội, chỉ đạo nền kinh tế quốc gia, làm trung gian và vật đệm cho những việc không chắc chắn về môi trường, và ban hành những hệ tư tưởng tập thể thông qua pháp luật và những cơ chế điều tiết (Badie và 1983; Callon, 1998; Conekin, Mort, và Waters, 1999; Djelic, 1998; Maddison, 1991; Putnam, 1993; Evans , và Skocpol, 1985). Như là một người quan trọng tạo ra thể chế, chính phủ hy vọng tạo ra nhiều cơ hội và thiết lập những ràng buộc đối với những hoạt động thuộc về tổ chức (Baron 1996; Whitley 1999). Một chiều hướng của chính phủ liên quan đến tác động của nó vào những hoạt động kinh tế của các ngành công nghiệp và các công ty. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế có thể sắp xếp từ sự phụ thuộc tối đa vào thị trường tự do đến kiểm soát trung tâm và hoạch định tất cả các hoạt động kinh tế. Hầu hết các chính phủ thuộc về một nơi nào đó ở một thể liên tục giữa 18 hai thái cực. Eisner (1993) khẳng định rằng mức độ đặc điểm can thiệp của một “chế độ quy định” có thể thay đổi khi nền kinh tế và lợi ích chính trị của một quốc gia thay đổi. Những chế độ là “những sự sắp xếp thuộc về chính trị, thể chế để xác định mối quan hệ giữa những lợi ích xã hội, bang và những tác nhân kinh tế như là những tập đoàn, những công đoàn lao động, và những hiệp hội nông nghiệp” (trang 2). Hơn nữa, Eisner chứng minh bằng tài liệu rằng nước Mỹ tiến hóa thông qua bốn loại chế độ, tùy theo tình hình kinh tế và chính trị. Từ năm 1880 đến năm 1920, kh i những tập đoàn có quy mô lớn và các thị trường nổi lên, chính phủ Mỹ theo một chế độ thị trường, mà mục tiêu của chính sách là đẩy mạnh sự quản lý thị trường và tạo ra các tiêu chuẩn của những kết quả qua các phương tiện hành chính. Trong suốt thời kỳ đại khủng hoảng, một chế độ kết hợp thúc đẩy tính ổn định của công nghiệp và tái phân phối thu nhập quốc dân. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển kinh tế và chất lượng của cuộc sống, chính phủ thực hiện đầy đủ một chế độ thuộc về xã hội qua hai thập kỷ. Mục tiêu chủ yếu giải quyết sự ngăn ngừa rủi ro về sức khỏe và môi trường như là một hậu quả của sản xuất công nghiệp tiên tiến. Trong những năm 1970 và 1980, sự lạm phát về kinh tế và sự cạnh tranh phát triển của nước ngoài đã giúp đỡ tạo ra một chế độ hiệu quả để quay trở lại những chính sách mà can thiệp vào cơ chế thị trường hoặc áp đặt những chi phí lớn. Baron (1996) lưu ý rằng mức độ can thiệp của chính phủ cũng khác nhau bởi ngành công nghiệp. Những chính phủ có thể thực hiện kiểm soát trên toàn quốc các ngành công nghiệp quan trọng như điện năng và phân phối, vận chuyển, hoặc xử lý dầu thông qua các sáng tạo của các doanh nghiệp nhà nước (Stanbury và Thompson, 1982). Các động cơ đối với quyền sở hữu của chính phủ đối với những doanh nghiệp đa dạng và bao gồm hệ tư tưởng chính trị (ví dụ, chủ nghĩa xã hội), duy trì những ngành công nghiệp ở khu vực tư nhân là không thể, phát triển những khu vực nhất định của một quốc gia, và bảo vệ những ngành công nghiệp mới mọc từ sự cạnh tranh nước ngoài (Lewin, 1982). Sự sở hữu và quản lý của nhà nước không chỉ định hướng cho bối cảnh những ngành công nghiệp được kiểm soát nhưng ảnh hưởng đến những công ty tư nhân. Hành vi của các nhà quản lý trong doanh nghiệp nhà nước là khác với hành vi của các nhà quản lý ở những công ty tư nhân (Aharoni, 1981) như là một kết quả của nghĩa vụ kép về quản lý 19 lợi nhuận trong khi thỏa mãn những mục tiêu chính trị thuộc về quốc gia. Vì vậy, một tập hợp những hoạt động khả thi mà cả những công ty nhà nước và tư nhân cam kết tùy thuộc vào mức độ kiểm soát và sự can thiệp bởi chính phủ, đưa đến những cơ hội khác nhau cho chiến lược và những quá trình thích nghi thuộc về tổ chức. Một khía cạnh khác của vai trò chính phủ về tác động của những thực tiễn quản lý và sự thay đổi thuộc về tổ chức là sự cai quản giao dịch và sự phân phối quyền lợi tài sản. Murtha và Lenway (1994) phát triển một nguyên tắc phân loại của những hệ thống chính phủ mà định nghĩa sự cai quản giao dịch như sự cân đối của những giao dịch liên tổ chức được cai quản bởi cơ chế giá, có liên quan đến sự cân đối của những giao dịch được cai quản bởi kế hoạch. Quyền lợi tài sản là sự phân phối cân đối của những tài sản thực giữa quyền sở hữu tư nhân và nhà nước. Kết quả về bốn hệ thống chính phủ đầu tiên là nền kinh tế mệnh lệnh (công việc kinh doanh có kế hoạch và những quyền lợi công về tài sản), nền kinh tế quá độ (công việc kinh doanh thị trường và những quyền lợi công về tài sản), công việc kinh doanh tư nhân (công việc kinh doanh có kế hoạch và những quyền lợi tư nhân về tài sản), và công việc kinh doanh có tính đa nguyên (công việc kinh doanh tư nhân và những quyền lợi tư nhân về tài sản). Murtha và Lenway nhận thấy rằng hình thức ban đầu không tồn tại và hầu hết các chính sách kinh tế có liên quan đến việc kết hợp các hình thức với nhau. Hơn nữa, họ cũng bàn luận về khả năng thực hiện những chiến lược của chính phủ có ảnh hưởng đến chiến lược của các công ty nội địa, đến khách hàng, đến những người cộng tác và đối thủ, đến các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, với những yêu cầu của nền kinh tế và quá trình quá độ của nền kinh tế, vd như, việc sở hữu của các bang sẽ dẫn đến tình hình cai trị có nhiểu quyền thực hiện tham vọng mà có ảnh hưởng sự phát triển lợi ích đặc biệt của các doanh nghiệp và nhấn mạnh đến những lợi ích dựa trên chi phí. Ngược lại, trong nền kinh tế có nhiều người hợp tác, có khả năng và đa dạng, chế độ cai trị bảo vệ tài sản sở hữu cá nhân thúc đẩy sự phát triển các lợi ích đặc biệt của các doanh nghiệp, từ đó hướng cho các doanh nghiệp tập trung vào những tiện ích và cạnh tranh trong thị trường quốc tế bằng cách đầu tư ra nước ngoài. Chính phủ Mỹ ít động viên để phát triển chính sách công nghiệp quốc gia so với các nước khác như một chuỗi các chủ nghĩa cá nhân được thừa kế và niểm tin vào sự phổ 20 biến trong thị trường tự do (Hitt, Dacin, Tyler và Park, 1997). Do vậy, vai trò của chính phủ quốc gia là phát triển luật cho thương mại và hợp đồng. Cấu trúc này hướng tới việc đề cao những kinh nghiệm thương mại dựa trên sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, khuyến khích sự tiện lợi của sản phẩm và khám phá các cơ hội mới 1990). Bang cũng có vai trò quan trọng trong việc phát tiển các ngành công nghiệp mới trong nền kinh tế Mỹ vd như ngàng hàng không, đường sắt, công nghiệp truyền thông và trong việc thiết lập luật lệ cai quản cho mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, bang và những người tham gia trong nền kinh tế (Eisner, 1993). Tại Nhật, lao động và hoạt động kinh doanh quan hệ với chính phủ thông qua các tổ chức để thể hiện sự đồng thuận về kinh tế và các chính sách xã hội. VD, Bộ thương mại và công nghiệp quốc tế (MITI) và các hiệp hội các doanh nghiệp tư nhân làm việc bằng cách gia nhập các ủy ban để chỉ ra các vần đề ảnh hưởng đến nền kinh tế, ngành công nghiệp hay thị trường (Murtha và Lenway, 1994). Hơn nữa, cấu trúc của chính phủ Nhật phù hợp với các ngành chủ chốt trong nền kinh tế cho đến các ngành đặc biệt (vd như xây dựng, truyền thông, vận chuyển, sức khỏe, nông nghiệp và năng lượng). Hơn nữa, với các ngành chủ chốt trong ngành kinh tế Nhật, các ngành khác được hướng dẫn từ Bộ thương mại và công nghiệp quốc tế hay Bộ tài chính (MOF), 2 bộ chủ chốt và có ảnh hưởng nhiều nhất (Ito, 1996; 1990). Vai trò của chính phủ trong hoạt động của các ngành càng mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế hợp tác hơn là nền kinh tế đa dạng. Trong nền kinh tế hợp tác, chính phủ tác động đến mục tiêu và chiến lược công ty bằng các luật lệ thừa kế đặc biệt của chính phủ (Fruin, 1992; Plenert, 1990). Hàn Quốc là một ví dụ, chính sách công nghiệp của chính phủ nhấn mạnh đến sự phát triển xuất khẩu như là 1 hình thức thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Những ảnh hưởng đầu tiên của các chính sách này đến các công ty Hàn Quốc là sự tập trung dài hạn của họ lên sự phát triển lâu dài và khối lượng bán hàng hơn là tập trung vào lợi nhuận hay tối đa hóa lợi nhuận (Chang và Chang, 1994; Ungson, Steers và Park, 1997). Sự hợp tác phát triển được tính toán thông qua việc mở rộng tín dụng ngân hàng được cung cấp từ các ngân hàng điều tiết của chính phủ. Kết quả là có tỷ lệ nợ cao và sự 21 phổ biến của các hình thức đa dạng có liên quan nhau (Ursacki và 1995; Kim và Moon, 1991). Tại Đức, việc can thiệp trực tiếp của chính phủ bằng quyền tối cao theo chiều dọc và chiều ngang và bằng những giới hạn trong hiếp pháp trong những hành động đơn phương của chính phủ. Và kết quả, hiến pháp thay đổi rất chậm chạp và những chính sách cho cộng đồng thì cứng nhắc và không tiên đoán được, hướng tới việc đáp ứng chậm với những lợi ích khẩn cấp của cộng đồng hay sự mất liên tục của môi trường. Dưới cấu trúc hiến pháp này, các doanh nghiệp có thể phát triển những kỳ vọng ổn định, những vấn đề dài hạn và xây dựng mối quan hệ (Streek, 1997). Mặc dù chính phủ Đức không bắt đầu bằng những chính sách công nghiệp mạnh mẽ, một lượng lớn cơ sở hạ tầng được cung cấp từ chính phủ 1994). Vai trò của chính phủ ở miền Tây Đức sau chiến tranh thế giới II có thể chia thành 3 giai đoạn. Suốt giai đoạn trước chiến tranh là giai đoạn tái cấu trúc mục tiêu là tốc độ tăng trưởng cao, giá cả ổn định, công việc cho mọi người ổn định và thiết lập lại vị trí mạnh trên thị trường thương mại quốc tế. Một giai đoạn chủ nghĩa can thiệp tiếp theo, áp dụng những điểm chính của Keynesian về bảo hiểm lao động và mở rộng phúc lợi xã hội. Một giai đoạn tự do hóa khẩn cấp khi chính phủ gặp phải khó khăn khi nâng đỡ phúc lợi xã hội và bắt đầu thay thế các chính sách về việc làm với sự phát triển dài hạn, bãi bỏ qui định và cá nhân hóa, và giảm tốc độ phát triển những chi phí cho an sinh xã hội, ví dụ như an ninh xã hội và các loại trợ cấp khác (Kurz, 1991) Hệ thống luật pháp Cấu trúc hệ thống luật pháp của một quốc gia rất quan trọng. Nó giúp định hướng cho các hoạt động kinh doanh (minh bạch) và sự thay đổi trong kinh doanh ( Baron, 1996; Rvà lesome, 1994). Nếu hệ thống luật pháp minh bạch thì các vấn đề trong kinh doanh được soạn thảo thành các điều luật, vd: luật thương mại, luật sở hữu trí tuệ, luật hợp đồng. Ở các quốc gia này các doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh tốt hơn là ở một quốc gia mà chính phủ điều khiển các hoạt động thay cho các điều luật. Ở các quốc gia có chính phủ chỉ đạo, luật không được soạn thảo cụ thể thành các điều lệ, chính phủ 22 hay các các cơ quan đại diện có thể chuyển những điều không rõ ràng sang cách hiểu riêng của họ, có những luật lệ và hướng dẫn riêng cho hoạt động thương mại hoặc họ có thể đặt ra những luật lệ riêng. Kết quả sẽ dẫn đến có nhiều điều không rõ ràng về luật lệ kinh doanh hơn là ở nơi có luật lệ rõ ràng, minh bạch. Do vậy, dưới 1 hệ thống luật pháp chỉ đạo sẽ khó khăn hơn cho các doanh nghiệp để hình thành đồng minh chiến lược. Sự linh động trong việc làm luật giúp xác định hiệu quả và thời gian để thay đổi tình hình luật pháp. Trong môi trường linh động, các doanh nghiệp sẽ có sự ổn định, tin tưởng và có thể dự đoán trước mọi việc, điều này sẽ giúp họ theo đuổi các chiến lược dài hơi. Tuy nhiên, ở đâu mà mà luật lệ dễ dàng thay đổi theo sự thay đổi của chính trị (vd: nước Anh trước chiến tranh thế giới II), các doanh nghiệp gặp phải sự thiếu ổn định, nên họ chỉ ra những đáp ứng theo kế sách ngắn hạn (Kurz, 1991; Rvà lesome, 1994). Luật của Đức tiếp nối theo luật La Mã (Foster, 1996; Tricker, 1990) và được mô tả thành những luật lệ rất chi tiết, cùng với sự cồng kềnh đó nó giúp cho luật và các thủ tục trở nên rất minh bạch. Trình độ cao trong việc làm luật của Đức, cho thấy khác biệt hẳn với hệ thống luật của Anh (Foster, 1996). Sự rõ ràng và minh bạch trong hệ thống luật pháp của Đức cho phép các doanh nghiệp dựa vào luật và các thủ tục trong quản lý hoạt động kinh doanh của họ (Rvà lesome, 1994). Tuy nhiên, luật Đức ít linh động bởi vì quá trình thay đổi hay ban hành luật cần nhiều thời gian và nỗ lực. Hơn nữa, việc thay đổi sang trạng thái cơ bản cần cả sự tham gia của chính trị. Một VD về sự minh bạch và linh động của luật lệ Đức có thể thấy trong ngành công nghiệp bán lẻ trong việc liên hệ với cửa hàng mở cửa hàng giờ. Kurz (1991) cho biết “Cửa hàng chấp nhận mở cửa từ thứ 2- thứ 6 từ 7 am đến 6:30pm, thứ 7 từ 7 am đến 2pm (thứ bảy đầu tiên của mỗi tháng đến 4pm). Sau nhiều cuộc tranh cãi, đã có sự mở rộng tự do và cửa hàng có thể mở cửa đến tận 8:30pm vào mỗi thứ 5. Sự mở rộng tự do không giống việc mở rộng nơi chốn. Bởi vì sự hợp nhất các tổ chức nhỏ và trung bình ganh đua nhau” (p27). Kurz quan sát thấy rằng, sự linh động trong việc làm luật của Đức phản ánh nhận thức của sự công bằng, cho thấy có sự phù hợp chính đáng khi bảo vệ chất lượng cuộc sống đến chủ các cửa hàng nhỏ và gia đình của họ trong các hoạt động cạnh trang mang tính “trấn lột” của các tập đoàn bán lẻ to lớn. 23 Hệ thống luật của Nhật được điều chỉnh sau hệ thống mã hóa công dân của Châu Âu hơn là hệ thống của Mỹ. Hệ thống dựa trên sự hòa giải các cuộc tranh cãi gay gắt. Bởi vì Nhật Bản đặt những giá trị lớn trong sự hòa giải, nó không có sự đối đầu và mâu thuẫn, họ tìm kiếm những giải pháp giải quyết mâu mẫu trước tiên, mà không cần đến kiện cáo hay tòa án. (baron, 1996; Namiki va Sthi, 1988). Hội đồng xét xử không có nhiều và luật sư được xem như người tư vấn hơn là người tranh cãi. Mặc dù Nhật Bản có tình trạng khác với Mỹ. Thông thường, khi người thi hành (hội đồng thương mại hay FTC) kết luận 1 công ty xâm phạm luật FCT sẽ ban hành cảnh báo và sựa trên đó những hành động cần thực hiện sẽ dựa trên những hướng dẫn. Vấn đề tội phạm hiếm khi chống lại việc thi hành luật xâm phạm thương mại (Baron, 1996). Ở Mỹ, việc soạn luật được dựa trên việc tăng sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, bởi vì các thủ tục luật pháp dựa trên hệ thống luật cần phải rõ hơn và hợp lý hơn. Truyền thống dựa trên trường hợp luật có nghĩa là cập nhật, và làm sao đo lường được tình trạng luật hiện hành để tăng cường sự linh hoạt của hệ thống luật pháp Mỹ. Nói chung, sự minh bạch và linh động cao của mội trường trong tổ chức giúp các doanh nghiệp đảm nhận những biến đổi với những biến đổi của đối tác không biết trước được. Thị trường Vốn. Sự phát triển và những đặc điểm của thị trường tài chính của 1 quốc gia đóng vai trò quan trọng trong mô hình chiến lược của các doanh nghiệp. Mặc dù mối quan hệ giữa sự phát triển của thị trường tài chính và sự chú ý của người quản lý đến thị trường chứng khoán không rõ ràng. Những ví dụ cho thấy ở Mỹ có sự tương quan giữa 2 vấn đề này như 1980). Sự phát triển sớm thị trường tài chính của Mỹ chủ yếu là để phục vụ cho yêu cầu tài chính của chính phủ, cho ngành công nghiệp đang phát triển nhanh chóng, cho những công ty làm đường sắt, thay thế cho hệ thống ngân hàng quốc gia, có nguồn tài chính dồi dào từ các nhà đầu tư nước ngoài. Có những trung gian như: các ngân hàng đầu tư, sự phân chia rõ ràng giữa người chủ và người quản lý (Berle và Means, 1932; Carosso, 1970). Ch ính phủ liên bang cũng mất chi phí tài chính vào các cuộc chiến bao gồm các cuộc nội chiến. Trong giai đoạn đầu của lịch sử nước Mỹ, việc hợp tác và kinh doanh chủ yếu dựa vào thị trường tài chính, vì các tổ chức không đủ khả năng tài chính để phát triển đầu tư. Vd, ngành đường sắt phát triển rộng khắp nơi và cần một lượng tiền khổng lồ, các ông chủ huy động tiền bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Và họ bắt đầu thuê những người quản lý chuyên nghiệp 1077; Neal, 1997). Các nhà đầu tư dựa trên thị trường chứng khoán để điều khiển các người quản lý chuyên nghiệp của mình, những người quản lý thì không phải là người trong gia đình và không có cổ phần. Các công ty môi giới ở New York và Luân Đôn kinh doanh cổ phiếu của các công ty hoạt động ở Mỹ. Họ cũng có liên quan đến các hoạt động hối đoái, thường xuyên tập trung ở các hoạt động thương mại giữa các công ty của các công ty nổi tiếng và các nhà máy. Sự chuyển đổi giữa New York và Luân Đôn sử dụng thị trường hối đoái để điều khiển hoạt động của các công ty để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư ở xa (Neal, 1997). Lewin và cộng sự (1999) cho thấy về sự phân chia, mức độ đa dạng, linh động và cạnh tranh cao của thị trường tài chính Mỹ hướng cho các nhà quản lý tập trung vào việc tối đa hóa giá trị cho các cổ đông. Thị trường tài chính Mỹ đã lớn mạnh vượt trội nhờ vào các tổ chức hay cá nhân góp vốn (Hitt và cộng sự, 1997; Sakano và Lewin, 1999) và các nhà quản lý đã có giá trị thông qua cổ phiếu từ những ngày đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa (Ito và Rose, 1994). Do vậy, thị trường tài chính Mỹ đã được chấp nhận rộng rãi như một thị trường hợp tác điều khiển, ở đó có các luật lệ quản lý và định hướng cho các cổ đông. Trong trường hợp người quản lý không đạt được giá trị tối đa cho công ty, bất cứ tổ chức hay cá nhân nào có khả năng tài chính đủ có thể mua lại công ty và thay thế người quản lý khác, cũng như chính sách hay chiến lược khác để có thể đạt được giá trị cao nhất cho các cổ đông (Prowse, 1994). Không giống ở Mỹ, ở Nhật người quản lý có thể có mối liện hệ với tất cả các cổ đông, như: nhân viên, khách hàng, quan hệ xã hội hay cổ đông. Ozaki (1992) cho biết một người quản lý Nhật Bản không tin tưởng vào hiệu quả của thị trường tài chính, và các nhà đầu tư xem xét sự công bằng trong đầu tư để có thể mạo hiểm (Ozaki, 1992). Giá trị của thị trường chứng khoán chỉ là 1 phần khi xem xét về khả năng quản lý. Ito và Rose (1994) cho rằng bởi vì thị trường tài chính liên doanh của Nhật rất nhỏ so với thị trường 25 tài chính Mỹ, nên việc kết hợp thành lập các công ty lớn và khả năng giảm bớt các công ty con có thể giúp cho thị trường tài chính hiệu quả hơn. Sự tập trung nắm giữ và sở hữu chéo làm cho việc mua lại các công ty đối thủ là không thể xảy ra, nó làm giảm mất sự linh hoạt, và làm cho thị trường tài chính trở nên cứng nhắc (Macey và Miller, 1995). Sự hợp lý khi nắm giữ cổ phần chéo, mạng lưới công ty, mối quan hệ giữa các ngân hàng và hầu hết các thị trường không tồn tại cho việc liên kết, sự giành được và sự đa dạng củng cố cho 1 định hướng lâu dài, đáp ứng sự tiến triển và tiếp tục chiến lược đề ra (Aoki, 1994; Hundley và Jacobson, 1998; Sakano và Lewin, 1999). Chandler (1980) chỉ ra rằng, tại Châu Âu, chủ sở hữu tiếp tục quản lý doanh nghiệp của họ ở mức cao nhất. Bởi vì họ ít mở rộng việc sử dụng các công nghiệp sản xuất hàng loạt. Hơn nữa, các sản phẩm làm ra ít khi ở dạng kết hợp như ở Mỹ. Người sáng lập , người sở hữu và gia đình của họ tiếp tục đưa ra những quyết định, do vậy, những người làm quản lý ở Châu Âu ít hơn ở Mỹ (Djelic và cộng sự, 2000). Thị trường tài chính Đức là 1 thị trường không phải để điểu khiển (Prowse, 1994; Streek, 1997). Rất nhiều công ty có sỡ hữu cá nhân và việc sở hữu tập trung hơn, chỉ có 1 phần nhỏ của thị trường tài chính là làm thương mại dựa vào tỷ giá hối đoái (Jurgens, Naumann và Rupp, 2000; Neal, 1997). Các công ty hướng đến việc bỏ vốn cho chính họ thông qua việc tin tưởng ngân hàng hơn là sự công bằng. Theo Neal, năm 1993 trị trường tài chính đóng góp vào GDP chỉ có 26%, so với Mỹ là 63%, so với Anh là 120%. Chỉ có 10 công ty trong số 800 công ty chiếm 63% tài chính cho thương mại. Chỉ có khoảng 5% dân số Đức thật sự có nắm giữ cổ phiếu, so với 16% ở Pháp, 21% ở Mỹ, Anh và 35% ở Thụy Điển. Jugens và cộng sự cho biết thị trường chứng khoán nhỏ của Đức có mối liên hệ với nền kinh tế quốc gia làm cho các cổ đông chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong nền kinh tế Đức. Bởi vì các doanh nghiệp dựa trên nợ ngân hàng dài hạn, điều này đã làm thay đổi tình hình tài chính của các doanh nghiệp Đức trong gần 2 thế kỷ (Neal, 1997), những người quản lý hướng đến việc đáp ứng cho 1 tương lai xa và không tính đến cổ phiếu (Streek, 1997). Hệ thống giáo dục 26 Hệ thống giáo dục có thể thi hành một quy tắc quan trọng trong việc tạo dựng, chuyển đổi và củng cố niềm tin và giá trị xã hội (Calori và cộng sự, 1997; Waner, 1996). Nó được xem như là nguồn tài nguyên nhân văn giá trị cao Chandler (1990) nhấn mạnh quy tắc hệ thống giáo dục như một sự ảnh hưởng đến việc đào tạo và tuyển mộ công nhân và các nhà quản lí và tác động đến cả việc điều hành ngày qua ngày, những quyết định chiến lược lâu dài. Sự khác nhau trong hệ thống giáo dục giữa các quốc gia có thể quan trọng và có thể ảnh hưởng sự đáp ứng tổ chức cũng như là sự phát triển của công nghiệp tư nhân, sáng tạo kỹ thuật trong tổ chức, và …..Trong nỗ lực hệ thống giáo dục quốc gia sử dụng các dữ liệu thống kê, Wolhuter (1997) đề nghị xây dựng những lí thuyết thần học dựa trên diện mạo của hệ thống giáo dục cũng như là những mẫu hoặc trình độ tư hữu hóa giáo dục hoặc quản lí chương trình giảng dạy tập trung hay phân hóa. Wolhuter chỉ ra rằng phương pháp này đưa ra lý thuyết hơn là quy nạp. Trong nghiên cứu tương đối về sáng tạo công nghệ, Albach (1994) tìm thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa kiến thức chủ đề và định giá rủi ro của sự sáng tạo. Ông biện luận rằng ác cảm rủi ro suy yếu theo mức độ giáo dục, mà theo ông là có thể đúng cho bất kì nền giáo dục nào. Một bài báo đã minh chứng rằng mức độ và nội dung của hệ thống giáo dục cũng như là mức độ tập trung có thể là nhân tố quyết định trong việc đáp ứng tổ chức và quá trình chiến lược. Giai đoạn đầu của công nghiệp, nền giáo dục cao trong khoa học và công nghệ nước Đức đã giúp ích lớn cho công nghiệp tư nhân. Các trường đại học Đức trở thành các trung tâm đặc biệt dành cho nghiên cứu và học bổng về khoa học và công nghệ trước các phiên bản Hoa Kì và Anh Quốc của họ (Chvà ler, 1990). Từ khi thành lập cộng hoà liên bang Đức, chính phủ đảm bảo với người dân sự đúng đắn để phát triển tư do và lựa chọn công việc và sự nghiệp. Giáo dục là chịu trách nhiệm cá nhân đối với toàn thể. Đức được biết đến với hệ thống phát triển cao của việc đào tạo và giáo dục hướng nghiệp (VFT). Hệ thống giáo dục Đức là hệ thống tay đôi mà bao gồm cả giáo dục dựa trên cấp độ đại học và công nghiệp và cung cấp các khoá học tiêu chuẩn quốc gia về nghề nghiệp từ cấp độ học nghề cho đến những thợ lành nghề và cả cấp độ kĩ sư (Lane , 1992 ; RVÀ LESOME, 1994). Hệ thống tay đôi mà nguồn gốc từ truyền thống thủ công phường hội và các hiệp hội thợ thủ công, các tổ chức kê khai hàng hoá cho việc sự dụng hiệu quả 27 và hữu dụng nguồn nhân lực và thị trường (Neary, 1993). Sự khác biệt hoàn toàn từ các quốc gia khác nhau, giáo dục và đào tạo hướng nghiệp được liên kết mật thiết trong hệ thống nước Đức. Khi trẻ em đến 10 tuổi, các em chọn giữa các trường học cơ bản, nơi hệ thống tay đôi chiếm ưu thế và các trường trung học phổ thông mà sẽ dẫn các em đến với nền giáo dục đại học 1994). Những học viên tốt nghiệp chương trình đào tạo hướng nghiệp tham gia những công việc đã quy định (ví dụ, lính cứu hoả, hầu bàn, thợ hàn, thợ lợp nhà, …) với hướng dẫn nghiêm khắc chuyên nghiệp và đặc biệt. Ở Đức, không giống như Nhật Bản, triết lí giáo dục hướng tới giảm sự cạnh tranh trong hệ thống giáo dục và trì hoãn sự cạnh tranh cho đến khi tiếp nhận vào hệ thống nhân sự. Ở Nhật Bản, chương trình giảng dạy cho các trường công cộng được tiêu chuẩn hoá bởi Bộ giáo dục và ngay cả sự xem xét thứ yếu đòi hỏi sự tỉ mỉ, quá trình tốn nhiều thời gian (Ito, 1994). Sách giáo khoa và nội dung khoá học được quy định sẵn. Những tiêu chuẩn này đưa ra cho các trường tư thục. Vào được đúng trường đại học rất khó khăn bởi vì nền giáo dục có sự phân hạng cao theo kinh tế xã hội. Những người tốt nghiệp từ những đại học tốt có nhiều cơ hội tốt hơn để gia nhập chính phủ hay các tập đoàn (Briggs, 1991; Dore, 1994; Warner, 1996; Wiersema và Bird, 1993). Hệ thống giáo dục của Nhật chuộng nhân tài, con đường vào đại học rất mệt mỏi và dựa trên bài thi đầu vào. Do vậy, hầu hết phụ huynh thúc giục con cái mình chuẩn bị cho kỳ thi vào những trường đại học hàng đầu để có thể có 1 công việc tốt nhất cho tương lai. Do việc cạnh tranh vào các trường học tốt là phổ biến (Bracey, 1998) và hệ thống giáo dục là tập trung và đồng nhất 1990), nên nhiều sinh viên Nhật rất chú ý đến việc học thêm, học toán và khoa học từ các thầy giáo tư nhân cho đến các chương trình thường niên của các trường học. Các trung tâm giáo dục tư nhân nhằm hướng các học sinh phổ thông trung học gia nhập vào các trường đại học có uy tín tại hầu hết các thành phố của Nhật. Mỹ đã đạt được trình độ cao trong giáo dục từ thời kỳ sớm của giai đoạn công nghiệp hóa. Chandler (1990) chỉ ra rằng hệ thống giáo dục cao hơn của Mỹ đã bắt kịp được hệ thống giáo dục của Đức