Câu hỏi ôn tập môn: Quản trị tài chính

Lượt xem: 39,190Lượt tải: 5Số trang: 46

Mô tả tài liệu

Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu câu hỏi ôn tập môn "Quản trị tài chính" dưới đây để có thêm tài liệu học tập và ôn thi. Nội dung tài liệu cung cấp cho các bạn những câu hỏi bài tập có hướng dẫn lời giải giúp các bạn củng cố lại kiến thức môn Quản trị tài chính.

Tóm tắt nội dung

Tại sao các nhà quản trị không loại bỏ rủi ro này bằng cách chỉ tài trợ cho hoạt động kinh doanh bằng vốn cổ phần, tránh sử dụng Nợ vay? Khấu hao là chi phí số tiền đã thực chi bỏ ra lúc mua tài sản cố định nếu đưa hết giá trị vào chi phí tại thời điểm đó thì nó ko phản ảnh hết được bản chất ý nghĩa của giá trị sử dụng của tài sản vì tài sản nó có tuổi sử dụng và vòng đời của nó sẽ được trích khấu hao phân bổ dần giá trị TSCD vào sản phẩm để tính chi phí giá thành , hoặc chi phí kinh doanh mà không thực sự là chi ra một khoản tiền để chi trả và khoản chi phí này không hiện hữu bằng tiền mặt thực chi nên ko thể gọi là xuất quỹ được. và nó được phân bổ cho đến hết vòng đời của tài sản khi ko còn sử dụng được nữa thì giá trị khấu hao hay vòng đời của nó sẽ kết thúc chi phí trên sẽ ko được đưa vào chi phí hợp lý để giảm 25% thuế TNDN nữa Khi VATcpn > 0 theo luật tthì doanh nghiêp phải nộp vào quý sau nhưng trong thực tế doanh nghiệp có thể chiếm dụng số VAT đó để đi đầu tư thu lợi nhuận nên đó là doanh thu của doanh nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. DN có thể lựa chọn những phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh khác nhau tùy thuộc mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong muốn.Khi bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao,họ hy vọng dự án đó đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao. Vậy việc ngân hàng đưa ra các điều kiện tín dụng như vật bảo đảm, thế chấp hay cân nhắc tình hình tc của đối tượng cho vay cũng nhằm mục đích hạn chế những khả năng không đòi được nợ.  RR kinh doanh:  (xuất phát từ tình trạng hoạt động của công ty, có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức.) xây dựng kế hoạch kinh doanh chi tiết, cụ thể, đa dạng hóa danh mục dự án đầu tư, trích lập các Quỹ dự phòng (Dự phòng giảm giá HTK, Dự phòng Nợ phải thu khó thanh toán: có kế hoạch xác định cơ cấu vốn tối ưu, sử dụng Nợ + VCSH hợp lý, cũng như hợp lý hóa các khoản phải thu, đảm bảo dự trự tiền mặt để DN đủ khả năng thanh những ưu điểm của Cp: Dn có thể huy động vốn mà ko phải bắt buộc trả lãi suất nhất định, tùy vào tình hình kinh doanh và chính sách của DN mà có phương án chia cổ tức hợp lý Nếu ko hợp lý cổ đông sẽ ko tin tưởng vào khả năng của DN và bán tháo CP đó, làm cho mất tính thanh khoản và các lần sau sẽ rất khó để huy động nhược điểm khác khi huy động vốn bẳng cách phát hành cổ phiếu là DN phải thực hiện những điều kiện nhất định như phải công khai tài chính, làm ảnh hưởng đến các chiến lược kinh doanh khi đối thủ nắm giữ được điều này. Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí lao động vật hoá và lao động sống cần thiết mà DN đã phải bỏ ra để thực hiện sán xuất kinh thu đc xác nhận khi DN đc chấp nhận trả tiền mà chưa biết phương án trả tiền của khách hàng là tiền mặt, thanh toán qua ngân hàng hay sẽ trở thành khoản phải thu đối với DN, nó quyết định đến dòng tiền nhập quỹ của DN, ảnh hưởng khả năng thanh toán của DN. Một khi số tiền bán hàng của DN bị khách hàng chiếm dụng chưa đến thời đ’ thanh toán mà DN cấn xuất 1 khoản tiền để chi trả chi phí phát sinh ngoài dự tính của DN, làm cho DN mất khả năng thanh toán, nếu số tiền là lớn hoàn toàn có thể làm DN phá sản. Chi phí chỉ phản ánh được lượng mà dn phải bỏ ra để thực hiện các hđ kinh doanh tròn thời kì nhất định nó không thể phản ánh chính xác dòng tiền mà dn phải chi trả trong kì . Nhìn vào ví dụ trên, dễ dàng nhận thấy không phải lúc nào dùng nhiều nợ cũng tốt, công ty B là công ty tích cực sử dụng nợ, trong điều kiện nền kinh tế ổn định, Công ty B có ROE cao hơn, nhưng trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, công ty B lại có ROE thấp hơn. (Các bạn tự bịa cho phần phân tích này nó dài hơn một chút nhé ).Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sỡ hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn nguyên tắc mà nói, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế doanh nghiệp phải trả, và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với chủ sỡ hữu. Đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần. Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản và nguồn vốn, luồng tiền và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. _ BCKQKD cho biết thu nhập, chi phí phát sinh để tính kết quả lãi, lỗ trong 1 kỳ kinh doanh nhưng lại không phản ánh luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của DN trogn từng thời kỳ mà BCLCTT phản ánh cho nên ko dự đoán được dòng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán nợ vay, khả ăng trả lãi cổ phần bằng tiền và những biến động liên quan tới dòng tiền trong DN và ko phản ánh dc khả năng thanh toán của DN tại thời điểm nhất định _ Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chính, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông) cái mà BCKQKD ko thể phản ánh. Vì lợi nhuận: Là khoản tài chính mà doanh nghiệp nhận được sau một chu kỳ hoạt động, được xác định bằng cách lấy toàn bộ doanh thu trừ cho chi phí. Giá trị công ty là thước đo về quy mô, về nguồn lực, về sự phát triển của một doanh nghiệp, và được xác định bởi: nguồn lực tài chính, đội ngũ nhân viên, khả năng phát triển trong tương lai, các phát minh, sáng chế mà họ đang nắm tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu để cho doanh nghiệp thu về một khoản lợi nhuận cao nhất còn tối đa hóa giá trị công ty là để công ty phát triển theo hướng tốt doanh, không ai là không muốn lợi nhuận, tuy nhiên, chỉ chăm chăm vào lợi nhuận sẽ chỉ là lối kinh doanh “mì ăn liền” và không thích hợp với xu hướng thời đại, để có bước phát triển ổn định thật sự ta phải có chiến lược lâu dài để nâng cao giá trị doanh ràng trước đó doanh thu của Toyota đã tăng rất mạnh đấy thôi, nhưng do sự tăng ồ ạt này đã làm cho công ty không quản lý nỗi chất lượng và dẫn đến sự khủng hoảng kể trên.Rõ ràng từ những thực tế trên, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nếu không được xem xét cẩn thận, đi kèm cùng những mục tiêu khác rất có thể sẽ đẩy tình hình doanh nghiệp vào tình trạng tồi tệ. lợi nhuận là quan trong, rất quan trọng, bởi tình hình tài chính mà không ổn định thi doanh nghiệp không thể vận hành trơn tru guồng máy của mình nhưng để guồng máy đó hoạt động lâu dài thì lợi nhuận không phải là tất cả. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết Đối với doanh nghiệp ,ngân hàng sẽ xem xét tiêu chí này thông qua báo cáo tài chính thể hiện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong ít nhất 1 năm trở lạ Có phương án, dự án kinh doanh khả thi và hiệu quả Đây là yêu cầu quan trọng đồi với hồ sơ vay của khách hàng doanh nghiệp.Vì thông qua phương án kinh doanh ,ngân hàng sẽ thẩm định cụ thể hơn về khả năng trả nợ của bạn sau khi dự án kết thúc.Đa số ngân hàng sẽ yêu cầu vốn tự có của doanh nghiệp tham gia vào dự án tối thiểu là 30% nhu cầu vốn của dự án. Thứ hai , việc thế chấp TSĐB cho ngân hàng sẽ làm cho doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong nghĩa vụ trả nợ,doanh nghiệp sẽ không ỷ lại mà phải cố gắng kinh doanh để hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn.tuy nhiên để TSĐB được ngân hàng chấp nhận còn phải qua nhiều bước xem xét khác nhau. Ý nghĩa cốt lõi của IRR là cho nhà đầu tư biết được chi phí sử dụng vốn cao nhất có thể chấp nhận điểm của IRR là không được tính toán trên cơ sở chi phí sử dụng vốn do đó sẽ có thể dẫn tới nhận định sai về khả năng sinh lời của dự án. Không thể đưa ra các kết luân lựa chon khi các dự án không đồng nhất về mặt thời gian cũng như xếp hạng ưu tiên khi nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bị giới hạn Nhìn chung thì IRR là phương pháp đơn giản nhưng đối với các dự án dài hạn có dòng tiền khác nhau và tỉ lệ chiết khấu khác nhau, các dự án có dòng tiền không ổn định, thì IRR không phải là chỉ số tốt mà NPV mới chính là sự lựa chọn đúng đắn. Vì vậy, khi so sánh hiệu quả của các dự án, cần xem xét bản chất của ngành nghề kinh doanh và chi phí vốn bỏ ra ban đầu để có những so sánh kết luận chính xác. Hoặc dự án đầu tư vào một nhà máy công nghiệp chế tạo có lãi về mặt tài chính nhưng lại làm ô nhiễm môi trường thì NPV kinh tế có thể lại không đáng nền kinh tế hiện đại, để đảm bảo công bằng và bảo vệ môi trường, xu hướng chung là tất cả các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế sẽ phải trả cho các tác động ngoai lai mà họ gây ra với chủ thể nhân là hệ thống tài chính doanh nghiệp thiếu các hoạt động đánh giá tín nhiệm đúng chuẩn và thường xuyên, hệ thống tài chính và giá trị đồng nội tệ thiếu ổn định, dẫn đến không có đường cong lãi suất làm khác, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn nợ của công ty phát lại, cổ phiếu là chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với 1 phần vốn cổ phần của công ty phát cùng, phát hành cổ phiếu doanh nghiệp không phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh bởi vốn huy động là của chủ sở hữu. Thực tế, việc sử dụng nợ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn vốn mạnh hơn trong quá trình đầu tư. Theo lý thuyết cấu trúc vốn của Miller và (MM), một doanh nghiệp nên gia tăng tỷ lệ nợ cho đến khi giá trị hiện giá của tấm chắn thuế từ lãi vay vừa đủ để bù trừ bằng gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính. Vì vậy, các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp phải phân tích và đưa ra mức vay nợ bao nhiêu là có lợi cho doanh nghiệp mình, tránh trình trạng sử dụng quá nhiều nợ sẽ dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính lớn hơn phần bù trừ tấm chắn thuế, khi đó sẽ đưa doanh nghiệp đến những rủi ro về tài định đề II của MM, khi nợ là phi rủi ro thì tỷ suất sinh lợi dự kiến từ cổ phần thường của một doanh nghiệp có vay nợ tăng tương ứng với tỷ lệ nợ / vốn cổ phần, tức là tỷ lệ nợ / vốn cổ phần càng nhiều thì tỷ suất sinh lợi từ cổ phiếu tăng có lợi cho NĐT. Cho đến cuối năm 2006, theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, các DNNN mới xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỉ đồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỉ đồng, chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản đảm bảo, sử dụng dự phòng rủi ro của ngân tiên, ta so sánh việc sử dụng nờ và vốn chủ sở hữu cái nào tốn ít chi phí hơn, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình. Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là đi vay ở ngân hàng số tiền $40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn). Từ ví dụ này, bạn có thể thấy nợ rẻ hơn vốn cổ phần là như thế nào, do đó cũng rất dễ hiểu khi các cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần. Nếu doanh nghiệp của bạn sử dụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánh thuế, do đó chính hành động đã đem đến cho doanh nghiệp lợi ích tấm chắn thuế từ nợ. Bởi vì nợ được xem chi phí tài chính cố định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia tăng thêm rủi ro tài trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phải trả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750 (75% x vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Từ đây có thể thấy, dù nợ có chi phí rẻ hơn vốn cổ phần, doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sử dụng nợ là hợp lý? Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần. Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ. “Tiền tôi có, tại sao phải vay?” Cũng vậy, sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạt động và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ phần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng nợ. Cổ tức là một trong những chính sách quan trọng của bất cứ công ty cổ phần đại chúng nào trên thế giới, không chỉ ở Việt Nam. Lãnh đạo doanh nghiệp luôn cân nhắc thận trọng về chính sách này vì nó phải đáp ứng đồng thời 3 mục tiêu: làm hài lòng các cổ đông qua việc trả cổ tức định kỳ, đảm bảo luôn có tái đầu tư để phát triển doanh nghiệp, mức trả cổ tức phải ổn định để dự phòng cho cả những năm kinh doanh không như mong đợi (vì một khi đã trả cổ tức cao trong 1 hay vài năm trước, doanh nghiệp sẽ “khó ăn nói” với cổ đông nếu năm sau hạ mức cổ tức thân cổ đông cũng sẽ được hưởng lợi ích cho dù không nhận cổ tức, vì khoản lợi nhuận giữ lại đó sẽ góp phần làm gia tăng các giá trị nội tại của doanh nghiệp, và từ đó sẽ làm tăng giá cổ phiếu trong tương lai. Hơn nữa, việc đánh thuế trên cổ tức tiền mặt được nhận vẫn chưa được thực hiện tại Việt Nam. Nếu bạn là nhà đâu tư ngại rủi ro và muốn chắc chắn thì có lẽ bạn sẽ yêu thích cổ tức tiền mặt hơn, vì giá trị của chúng rất chắc chắn. Và các doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền mặt có thể là một sự lựa chọn của bạn. Nếu phải trả cổ tức trong khi thực tế doanh nghiệp lại đang rất cần vốn, công ty có thể trả cổ tức bằng cổ phiếu thay cho tiền mặt. Bản chất của việc trả cổ tức bằng cổ phiếu là một cam kết tái đầu tư của cổ đông để sau đó chính cổ đông sẽ thu được nhiều hơn nữa lợi nhuận trong tương lai. Tóm lại, chia cổ tức bằng lợi nhuận cho dù dưới hình thức tiền mặt hay cổ phiếu đều không làm thay đổi giá trị của cổ phiếu, DN nên có những pt đúng đắn để đưa ra chính sách trả cổ tức phù là thu nhập trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp, lúc này cả hai dự án doanh nghiệp đều có thể thu về thể bất kì doanh nghiệp nào cũng luôn mong muốn và hướng tới xây dựng một cơ cấu vốn mục tiêu, nhằm đạt được mục đích là gia tăng giá trị tài sản của vốn chỉ sở hữu Việc sử dụng nợ là có lợi hay bất lợi , phải tùy thuộc vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phụ thuộc vào tình hình kinh tế Khi nhà nước ban hành về việc tăng thuế thu nhập dn như vậy sẽ khuyến khích dn sử dụng nhiều nợ vay hơn bởi lẽ các nhà quản trị tài chính họ sẽ tận dụng được chắn thuế trong trường hợp này Ví dụ về việc sử dụng nhiều nợ vay hơn để tận dụng lá chắn thuế: phân tích sự thay đổi lợi nhuân của dn, khi sử dụng tỷ lệ nợ 10% và 20% trong khi doanh thu không đổi Tuy nhiên quyết ddingj của doanh nghiệp có thay đổi cơ cấu hay không, cụ thể là có sử dung thêm nhiều nợ vay hoặc ít nợ vay đi không là tùy thuộc và ý kiến quản lí chủ quan của các nhà quản trị tài nghiệp trả lãi vya cho vốn nợ làm giảm khoản thuế TNDN do lãi vay là chi phí trước thuế nhưng trả cổ tức cho cổ đông thì không vì phân bổ cổ tức chi trả thuộc khoản lợi nhuận sau thuế nó không ảnh hưởng tới khoản thuế TNDN Trái phiếu :  một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy nắm giữ trái phiếu được nhận tiền gốc và 1 khoản tiền lợi tức cố định tùy theo lãi suất và mệnh giá ghi trên trái phiếu bất kể kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ra sao Mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi có ý nghĩa hơn đối với mệnh giá của cổ phiếu phổ thông, vì nó là căn cứ để trả cổ tức và là căn cứ để hoàn vốn khi thanh lý hay giải thể công ty. o cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá, cổ phiếu ưu đã giống như trái phiếu được ấn định một tỷ lệ lãi cố định tính trên mệnh giá và mức lợi tức này ko thay đổi dù cho kết quả kinh doanh của DN có thay đổi ra sao Chi phí thấp Thủ tục vay vốn rườm rà Thời hạn vay ngắn Giá trị khoản vay thường nghiệp nên sử dụng khi: Có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả Khi doanh nghiệp có quan hệ tốt với Ngân hàng Cần huy đọng vốn nhanh, gấp để đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng thương mại Chi phí hạn huy động ngắn Giá trị nhỏ Không ổn định và không thể tiến hành huy động ngay khi cần mà phát sinh trong hoạt đọng kinh doanh thương mại Doanh nghiệp nên sử dụng khi: Có điều kiện phát sinh trong hoạt động thương mại Phát hành trái phiếu Giá trị huy động lớn Thời hạn huy động đa dạng phong phú đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp lần nhà đầu tư Phương thức trả lãi chủ phân tán quyền kiểm soát công ty Thủ tục rườm rà, yêu cầu khắt khe về pháp lý Bắt buộc phải công bố thông tin tài chính ra công nghiệp nên sử dụng khi Doanh nghiệp có tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi Có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả Tính cấp bách của việc sử dụng vốn không cao Thuê tài sử dụng tài sản khi chưa đủ năng lực tài chính để sở hữu Khi có khả năng có thể mua lại tài sản đó Dịch vụ cho thuê tài chính chưa phát triển tại Việt Nam: sản phẩm cho thuê chưa đa dạng nhất là các sản phẩm công nghệ cao Chi phí cao Doanh nghiệp nên sử dụng vốn eo hẹp Các sản phẩm thích hợp Thời hạn vay dài Giá trị khoản vay đa dạng Thủ tục vay vốn rườm rà Chi phí cao và khó kiểm nghiệp nên sử dụng khi: Có dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả Khi doanh nghiệp có quan hệ tốt với Ngân hàng Cần huy động vốn lớn ổn định. Lợi nhuận giữ lại Có khả năng tự quyết nguồn vốn cao thay đổi cơ cấu quyền sở hữu công ty Không ổn định về thời gian cũng như là giá trị Chi phí cao Không đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn Doanh nghiệp nên sử dụng khi Có lợi nhuận Khi doanh nghiệp đang đặt mục tiêu tăng trưởng lên cao Phát hành cổ vốn huy động lớn Chi phí lớn Thay đổi cơ cấu quyền sở hữu công ty Thủ tục rườm rà yêu cầu khắt khe về pháp lý Bắt buộc phải công bố thông tin tài chính ra công chúng Tạo nguy cơ bị mua bán và sát nhập cho doanh nghiệp nên sử dụng khi Cần có nguồn vốn lớn ổn định để mở rộng sản xuất kinh doanh Có tình hình kinh doanh tốt Loại hình doanh nghiệp: công ty cổ phần, công ty nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp (DN) phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu trái hành TPDN là phương thức huy động vốn trực tiếp từ thị trường vốn không qua các định chế tài chính trung gian, nên chi phí thường rẻ hơn vay ngân hàng. Tuy nhiên, việc phát trái phiếu sẽ mang đến cho các doanh nghiệp phát hành nhiều lợi ích hơn so với việc vay Ngân hàng để tài trợ cho Dự án nghiệp được chủ động sử dụng nguồn vốn phát hành trái phiếu mà không cần căn cứ theo tỷ lệ tham gia của vốn tự có và các nguồn vốn khác (điều kiện mà các ngân hàng thương mại hay yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ khi giải ngân vốn tín nghiệp có nguồn vốn phát hành trái phiếu trong một thời gian ngắn mà không cần xem xét đến tiến độ thực hiện dự án (điều kiện mà các ngân hàng thương mại hay yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ khi giải ngân vốn tín thu từ phát hành trái phiếu được dùng để đầu tư dự án/cơ cấu các khoản vay trung và dài hạn/ tăng quy mô vốn hoạt động (phù hợp với phương án phát hành); Doanh nghiệp có thể mua lại trái phiếu trước hạn; Trái phiếu được dùng để chuyển nhượng, cho, tặng, để lại thừa kế, chiết khấu, thế chấp và cầm cố trong các quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật; (linh hoạt, chủ động hơn trong quá trình sử danh sách các DN phát hành thành công trái phiếu trong 6 tháng đầu năm chủ yếu là các tập đoàn DNNN lớn hoặc các Cty niêm yết có những dự án bất động sản hoặc dự án đầu tư cho hoạt động xuất khẩu. - Thủ tục khá rườm rà và mất nhiều thời vì những nhược điểm này mà 'Phát hành CP' thường là bước đi cuối cùng của DN để có vốn cho việc mở rộng SXKD) - DN phát hành TP thường có những lợi thế như không phải chịu sức ép chi phối từ cổ đông mới như phát hành CP, được hưởng lợi từ chính sách thuế đối với khoản lãi trả TP, trong khi các khoản trả cổ tức thì không. 1 Vốn từ lợi nhuận không chia: là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của DN + Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng thừa thiếu vốn của các nhà doanh nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng nhu cầu vốn của những nhà doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. + Sự tồn tại của hình thức tín dụng này sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được nguồn vốn nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh. + Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quen biết, uy tín nên có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp. + Tín dụng thương mại được cấp bằng hàng hoá nên doanh nghiệp cho vay chỉ có thể cung cấp được cho một số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp cần đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc bán ra. + Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất kinh doanh cung cấp, vì vậy qui mô tín dụng chỉ được giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có. + Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp có thể không phù hợp nhau, do vậy khi thời gian mà doanh nghiệp cho vay muốn cung cấp không phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần đi vay thì tín dụng thương mại không thể xảy ra. + Cho thuê tài chính cho phép bạn sử dụng linh hoạt đồng vốn của mình vào mục đích khác, nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn thay vì phải đầu tư vốn để mua tài sản cố định, giúp bạn tận dụng được cơ hội kinh doanh. + Sử dụng cho thuê tài chính sẽ không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đi vay vốn ngân hàng. + Cho thuê tài chính giúp bạn có nhiều cơ hội chủ động trong lựa chọn thiết bị, dễ dàng đổi mới công nghệ, tiếp cận và sử dụng những máy móc, thiết bị hiện đại nhất.., từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tận dụng được cơ hội kinh dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, sau 11 năm có mặt, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 12 công ty được thành lập dưới các hình thức sở hữu khác nhau. Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 150 tỉ đồng - rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (thường là trên 1.000 tỉ một cuộc khảo sát ngẫu nhiên mới đây đối với 1.000 doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau thì hơn 70% số doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng họ biết rất ít và chưa bao giờ tìm hiểu, sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính; gần 20% hoàn toàn không biết về dịch vụ này, thậm chí có doanh nghiệp hiểu cho thuê tài chính như hoạt động mua trả góp, nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ bản chất cấp tín dụng của dịch vụ cho thuê tài chính, chưa thấy rõ được hiệu quả, lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài chính mang cho đến hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê sẽ phải thanh toán tổng số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với đi vay từ các nguồn khác như ngân các tổ chức tín dụng và các văn bản dưới luật khi quy định về cho thuê tài chính đã không phân định triệt để các khái niệm liên quan đến sở hữu, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuê trong các giai đoạn của quá trình cho thuê tài chính, giá trị cho thuê tối vốn cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi đều là vốn chủ sở hữu tuy nhiên cỏ phiếu ưu đãi còn có tính chất của nợ vì được chia cổ tức và tài sản trước các cổ đông nắm giữ cổ phiếu với phương thức sử dụng cổ phần ưu đãi có lợi thế là không phải trả vốn gốc, có thể tùy chọn trả hoặc không trả cổ tức nhưng cổ tức không được khấu trừ thuế và khó huy động được với khối lượng lớn. Đối với phương thức huy động bằng phát hành cổ phần thường thì tuy không phải trả vốn gốc, không bị áp lực trả cổ tức nhưng không được khấu trừ thuế đồng thời còn bị phân chia phiếu bầu và chịu tác động đến quản trị công ty với các cổ đông mới. Nếu là công ty cổ phần với mục tiêu chính của quản lý tài chính là đem lại lợi ích tối đa cho cổ động thông qua chỉ tiêu thu nhập trên cổ phần (EPS) thì việc lựa chọn phương thức huy động vốn còn tùy thuộc vào EBIT (thu nhập trước thuế và lãi suất) kỳ vọng của DN. -Vốn điều lệ: Là số vốn do các thanh viên góp vốn cam kết sẽ góp vào khi thành lập doanh nghiệp ( không được phép thấp hơn vốn pháp định - nếu có ). -Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn đầu tư huy động từ nội lực doanh nghiệp ( Nguồn vốn kinh doanh, các quỹ của doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối ).Vốn chủ sở hữu là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp quan điểm tài chính, thì vốn chủ sở hữu còn được gọi là vốn tự có của doanh nghiệp hay gọi là tự tài trợ đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ cứu thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh chưa cho biết được khả năng thanh toán, chi trả của doanh nghiệp trong từng thời kỳ ngắn cứu ngân quỹ DN giúp xác định các luồng tiền vào, ra, các khoản phải thu, phải trả phát sinh trong kỳ, đồng thời lập kế hoạch tài chính ngắn hạn, dự báo các luồng thu, chi phát sinh trong các tháng, nhu cầu và khả năng tiến mặt, để chủ động trong đầu tư hoặc huy động vốn tài trợ Thu và chi phản ảnh các luồng tiền vào, tiền ra của doanh nghiệp thường trong thời kỳ ngắn: từng tuần, từng tháng, cho biết khả năng thanh toán đích thực hay khả năng chi trả của DN. - Cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính kq lãi, lỗ trong 1 kì kd - Sở hữu hàng hóa, dịch vụ đã thực sự chuyển giao nhưng trong thực tế việc thanh toán tiền lại lại xảy ra vào 1 thời điểm khác - K phản ánh được khả năng thanh toán của DN tại thời điểm nhất định - Phụ thuộc vào quan điểm kế toán nên trong quá trình hạch toán có thể gât ra sai sót - K dự đoán được dòng tiền trong tương lai và những biến động liên quan đến tiền - Luồng tiền vào, ra trong DN, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của DN trong từng thời kỳ (khoản thu, chi) - Chỉ ghi những dòng tiền thực ra và thực vào trong DN ở thời điểm nhất định - Phản ánh được khả năng thanh toán của DN ở thời điểm nhất định - Khách quan, k phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của kế toán - Dự đoán được dòng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán nợ vay, khả năng trả lãi cổ phần bằng tiền và những biến đọng liên quan đến dòng tiền trong DN Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo pháp này chỉ có thể áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp chặt chẽ với các phương pháp quản lý khác, đồng thời các yếu tố môi trường kinh doanh phải ổn định, dự báo được. Tóm lại, JIT là hệ thống sản xuất được sử dụng chủ yếu trong sản xuất lặp lại, trong đó sản phẩm lưu chuyển qua hệ thống được hoàn thành đúng lịch trình và có rất ít tồn kho, do đó giúp doanh nghiệp giảm thấp chi phí, nâng cao khả năng cạnh chúng ta đã biết, vốn là một trong những đầu vào cơ bản cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh bối cảnh nền kinh tế chúng ta vừa thoát khỏi những ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu, và vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thực tại như lạm phát, lãi suất cao, tỷ giá bất ổn định, TTCK liên tục chạm đáy, và thêm vào đó là với chính sách tiền tệ thắt chặt, dường như việc tiếp cận các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam lại càng khó khăn hơn bao giờ hết. Như đã biết, một cấu trúc nguồn vốn hợp lí phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả, có chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro chấp nhận được, phù hợp với điều kiện kinh doanh cụ thể của DN. Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà DN hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của DN. Nếu hệ số vốn chủ sở hữu càng cao, các khoản nợ của DN càng được đảm bảo khả năng thanh toán và dĩ nhiên tài chính của DN càng nằm trong giới hạn an toàn. Tuy nhiên, vốn vay sẽ là nhân tố quan trọng kích thích DN đang có những hợp đồng, dự án thực sự hiệu quả tận dụng tốt lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận. Do vậy, nhìn vào cấu trúc nguồn vốn có thể đánh giá được một cách khái quát chính sách tài trợ vốn kinh doanh của DN, mức độ an toàn trong sử dụng tài sản, mức độ an toàn hay rủi ro khác trong kinh danh nghĩa DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng với các DN khác, tuy nhiên trong thực tế DNNN hầu như vẫn được hưởng khoản “lợi ích vô hình”, đó là dễ dàng hơn trong tiếp cận các nguồn vốn những điều đó đã khiến cho cấu trúc nguồn vốn của các DN này bị mất cân đối nghiêm trọng, vốn cho hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn vốn đi vay. Chi phí nguồn vay : Mặc dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền thông được ưa chuộng, nhưng các DN cho rằng lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá không ổn định và thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các ngân hàng đang là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng huy động vốn của DN. Khó khăn lớn nhất mà họ phải đối mặt là lãi suất và các loại phí đi vay quá cao, đồng thời, khó đáp ứng điều kiện cho vay của các nhà đầu tư hay bên cung ứng bối cảnh siết tín dụng và thị trường chứng khoán ảm đạm như hiện nay, DN cho rằng quan trọng nhất là phải tái cấu trúc nguồn vốn để sử dụng hiệu quả đồng vốn hiện có của DN, tối ưu hóa các nguồn vốn nhàn rỗi và thu hẹp danh mục đầu tư với những dự án chưa cần thiết để tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, theo khảo sát, chỉ có 10% DN cho rằng tìm kiếm vốn từ các quỹ đầu tư nước ngoài là một biện pháp hiệu quả để đảm bảo vốn cho sản xuất kinh khăn là hiện hữu nhưng đó cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp có trình độ quản lý vốn tốt chiếm ưu thế để vươn lên, mở rộng thị phần. Yêu cầu cấp thiết đối với mỗi DN là phải có một chính sách tái cấu trúc nguồn vốn , tức là cấu trúc lại nguồn vốn hợp lý hơn với các chi phí vốn nhằm cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời để đạt tới tối đa hóa giá trị DN. Quyết định cấu trúc nguồn vốn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi DN, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu và rủi ro tài chính mà DN có thể phải đối mặt. Tuy nhiên không phải bất kỳ DN nào cũng có thể xác định được cho mình ngay từ đầu một cấu trúc nguồn vốn hợp lý đảm bảo cho DN kinh doanh hiệu mua cổ phần (hay quyền mua trước) là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành CP phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại mức giá xác định, thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trong một thời hạn nhất định. Có thể gây ra thua lỗ lớn do việc sử dụng các công cụ đòn bẫy hay vay mượn; rủi ro do đối tác không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (đặc biệt là trong hợp đồng swaps); tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với những nhà đầu tư nhỏ, thiếu kinh điều kiện bình thường, giao dịch các chứng khoán phái sinh không tác động nghiêm trọng đến hệ thống kinh tế vì nó không phải là một trò chơi có tổng bằng không về tính hữu dụng, giảm tác động khi có suy giảm kinh tế xảy ra, giúp tăng tính thanh khoản của các công cụ cơ sở; cho phép sử dụng đòn bẩy nâng cao lợi tắc giá trị thời gian của tiền: để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích va chi phí của dự án về một thời điểm , thường là thời điểm hiện tại Chi phí sử dụng vốn thường được sử dụng để thay thế với tỷ suất sinh lời đòi hỏi của doanh nghiệp, tỷ suất rào cản cho các nhà đầu tư mới và cơ hội phí của sử dụng vốn. ð  Chi phí sử dụng vốn là 1 khái niệm vô cùng quan trọng khi đề cập đến chiến lược tài trợ của doanh nghiệp, là cầu nối quan trọng giữa các quyết định đầu tư dài hạn của 1 doanh nghiệp với việc gia tăng giá trị tài sản của các chủ sở hữu theo yêu cầu của các nhà đầu tư trên thị trường, là cơ sở để lựa chọn dự án đầu tư nào sẽ làm tăng giá trị của doanh Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án  đầu tư là mức lãi suất chiết khấu được dùng khi rủi ro của dự án cá thể nàu khác biệt với rủi ro của doanh cáo tài chính phản ánh các chỉ tiêu kinh tế – Tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, nó phản ánh các thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ, tình hình lưu chuyển tiền tệ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định. - Bảng cân đối kế toán mô tả tình trạng tài chính của 1 doanh nghiệp tại 1 thời điểm nhất định, có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh vào đó, nhà phtich có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của DN, hơn nữa giúp các nhà ptich đánh giá đc khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp. - BC KQKD: cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình SXKD của DN và cho phép dự tính khả năng hoạt động của DN trong tương lai, giúp nhà pt so sánh doanh thu cới số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh vs số tiền thực xuất quỹ để vận hành DN => cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình và kết quae sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý SXKD của DN. Công việc của các nhân viên phân tích tài chính là vô cùng quan trọng vì các đề xuất của họ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đưa ra quyết định tài đó đòi hỏi nhân viên phân tích phải đọc nhiều để nắm bắt được các thông tin liên quan, các vấn đề về pháp luật, biến động thị trường, các tình hình hoạt động được đăng tải trên tạp chí tài chính, sách báo…Vì vậy với tình hình hiện nay, các doanh nghiệp nên chú trọng những vấn đề như: Chọn lọc những nhân viên cho bộ phận tài chính phải có trình độ cơ bản về tài chính và có kinh nghiệm và thâm niên trong công tác tài chính của công ty; Không ngừng đào tạo các bộ chuyên trách thông qua các khoá tập huấn của Bộ Tài chính, trung tâm giáo dục của các trường đại học chuyên ngành; Kịp thời tiếp nhận những thay đổi chính sách kế toán và những chuẩn mực kế toán mới; Bổ sung những kiến thức về pháp luật và các chính sách tài chính thông qua các thông tin trên các báo, công báo, các trang Web liên quan; Khuyến khích tìm hiểu thông tin kinh tế trong và ngoài nước từ mọi nguồn đăng tải; Có thể cử hoặc tạo điều kiện nhân viên tham gia các khoán học ngắn, dài hạn tại các nước trên thế giới về kiến thức quản lý và tài chính doanh nghiệp hiện đại; Tin học hoá đội ngũ nhân viên tài chính; Thường xuyên cử họ đi dự các hội thảo chuyên khác, để doanh nghiệp hoà nhập với quá trình phát triển của nền kinh tế, bắt nhịp với sự thay đổi của đất nước, công tác kế toán phải tuân thủ theo chế độ kế toán mới và những chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam. Bên cạnh đó cần chú trọng thực hiện các vấn đề sau. Như phân tích Báo cáo thu nhập (Income rất quan trọng và được sử dụng trong hầu hết phân tích tài chính dùng cho những quyết định về cơ cấu vốn, sử dụng vốn, các quyết định về đầu tư và sử dụng những đòn bẩy… mà hầu như các doanh nghiệp hiện nay không sử dụng, sự hiểu biết của họ về báo cáo thu nhập và các chỉ tiêu trong báo cáo là chưa rõ ràng. Do vậy, trình độ, năng lực và đạo đức của họ là quyết định sự hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động tài chính và công tác phân tích tài chính doanh sao các nhà quản trị không loại bỏ rủi ro này bằng cách chỉ tài trợ cho hoạt động kinh doanh bằng vốn cổ phần, tránh sử dụng Nợ vay? Đòn bẩy tài chính là sự sử dụng tiềm năng của chi phí tài chính cố định để làm gia tăng tác động của những thay đổi trong lợi nhuận trước thuế lên lợi nhuận cơ bản trên mỗi cổ phiếu của doanh Xét tác động của đòn bẩy tài chính với 2 DN A và B, trong đó A sử dụng 100% VCSH (0% nợ vay, không có CP ưu tiên, DFL=1), B sử dụng 50% VCSH (50% nợ vay, không có CP ưu tiên, DFL #1), xét 2 trường hợp khi doanh thu tăng và doanh thu Các nhà quản trị không loại bỏ rủi ro này bằng cách chỉ tài trợ cho hoạt động kinh doanh bằng vốn cổ phần, tránh sử dụng nợ vay vì: Câu này t không biết chính xác, nghĩ là: đòn bẩy kinh doanh có thể xác lập dựa vào chí phí hoạt động cố định, ngay khi mới thành lập có thể sử dụng, còn đòn bẩy tài chính, để huy động được nợ vay và cp ưu tiên cần có thời gian lấy được lòng tin, thêm nữa, đòn bẩy tài chính có rủi ro, doanh nghiệp sau khi hoạt động 1 thời gian mới dám đối mặt với rủi ro này. 1/ Chế độ trách nhiệm của Công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao; 2/ Khả năng hoạt động của Công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành tế hiện nay thì ưu điểm này không phải là tuyệt đối vì các loại hình công ty đều có quyền kinh doanh ngành nghề, lĩnh vực gần như nhau, thậm chí công ty TNHH còn có nhiều lợi thế hơn trong việc kinh doanh các ngành nghề có tính chất đối nhân - không đối vốn như dịch vụ kế toán, tư vấn Luật ...). 5/ nhượng vốn trong Công ty cổ phần tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của Công ty cổ phần (đối với công ty Đại chúng, công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán thì chỉ có công ty cổ phần mới có quyền này).