CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM VÀ KINH DOANH DỊCH VỤ

Thể loại: Marketing Bán hàng
Lượt xem: 69,655Lượt tải: 6Số trang: 36

Mô tả tài liệu

Một khi Công ty đã phân khúc thị trường một cách cẩn thận, lựa chọn được những nhóm khách hàng mục tiêu và xác định được cách định vị mong muốn trên thị trường, thì nó sẵn sàng để phát triển và tung ra thị trường những sản phẩm.

Tóm tắt nội dung

Một khi Công ty đã phân khúc thị trường một cách cẩn thận, lựa chọn được những nó sẵn sàng để phát triển và tung ra thị trường những sản phẩm. Trong đời sống của sản phẩm, công ty thường thay đổi chiến lược Marketing của mà còn là vì sản phẩm đó đã trải qua những giai đoạn mới khi biết rằng sản phẩm không sống mãi, công ty vẫn hy vọng tăng tuổi thọ và khả năng Sản phẩm là những hàng hóa và dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với những Phần cốt lõi của sản phẩm phải giải đáp được câu hỏi: “ Người mua thực sự đang sản phẩm và đem lại những lợi ích chứ không phải chỉ những đặc điểm. Người thiết kế sản phẩm phải đưa ra thêm những dịch vụ và lợi ích bổi sung để tạo Tóm lại, khi triển khai sản phẩm, các nhà marketing trước hết phải xác định những những sản phẩm cụ thể và tìm cách gia tăng chúng để tạo ra một phức hợp những lợi ích Người tiêu dùng cảm nhận về tên hiệu hàng hoá như một phần thực chất của sản Việc đặt tên hiệu có thể làm tăng giá trị cho sản phẩm. Việc đặt tên hiệu này nay phát triển mạnh đến nỗi khó mà có sản phẩm nào không Sản phẩm có thể được tung ra với tên hiệu người sản xuất. Chất lượng là một trong những công cụ định vị chủ yếu của nhà làm marketing, Các công ty có thể sử dụng một tên hiệu đã thành công để tung ra những sản phẩm mới hay sản phẩm cải tiến.Ví dụ: Hãng Honda dùng tên của mình để tung ra mặt hàng Đây là quyết định triển khai nhiều nhãn hiệu trong cùng một loại sản phẩm. Dù một tên hiệu được định vị tốt thế nào trong thị trường thì sau đó nhà sản xuất Việc tái định vị có thể đòi hỏi thay đổi cả sản phẩm lẫn hình cho rằng bao bì là một yếu tố trong chiến lược sản phẩm. Là những hoạt động nhằm vẽ kiểu và sản phẩm đồ Bao bì thu hút khách hàng, mô tả được ích dụng của sản phẩm, tạo niềm tin và ấn Việc triển khai một bao bì hữu hiệu cho một sản phẩm mới đòi hỏi nhiều quyết giá trị bổ sung của sản phẩm cho khách hàng thấy và hỗ trợ cho việc định vị sản phẩm và Nhãn hiệu trên bao bì có thể mô tả vài điều về sản phẩm. quảng cáo cho sản phẩm nhờ những hình vẽ hấp dẫn của nó. Dịch vụ cho khách hàng là một yếu tố quan trọng trong chiến lược sản phẩm. Những sản phẩm như xe hơi, tủ lạnh, tivi thường có kèm theo dịch vụ để tăng khả Chúng sẽ là những công cụ cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường. 4. Chu kỳ sống của sản phẩm và các chiến lược marketing Bây giờ ta sẽ đi vào từng giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm và xem xét các Giai đoạn tung ra thị trường bắt đầu khi một sản phẩm mới được đem ra bán trên Cần phải có thời gian để trải sản phẩm ra một số thị trường và đảm bảo vận ra một số nguyên nhân làm cho nhiều sản phẩm thực phẩm chế biến phát triển chậm: Sự Trong trường hợp những sản phẩm mới, đắt tiền, mức tiêu thụ tăng người tiêu dùng tiềm ẩm về sản phẩm mới và chưa biết điến, (2) kích thích dùng thử sản Chỉ có một số ít đối thủ cạnh tranh và họ sản xuất những kiểu mẫu cơ bản của sản phẩm đó, vì thị trường vẫn chưa có những đòi hỏi tinh tế đối với sản phẩm. tập trung vào việc bán sản phẩm của mình cho những người mua nào đã sẵn sàng mua cao do năng suất tương đối thấp, (2) những vấn đề công nghệ sản xuất có thể vẫn chưa Khi tung sản phẩm mới ra thị trường, những nhà quản trị Marketing có thể đề ra Chiến lược hớt váng chớp nhoáng là tung sản phẩm mới ra thị trường với giá cao Công ty tính giá cao để đảm bảo lãi gộp trên đơn vị sản phẩm ở thiết như sau: Phần lớn thị trường tiềm ẩn chưa biết đến sản phẩm; những người biết đến đều thiết tha với sản phẩm và có thể trả theo giá chào; công ty đứng trước sự cạnh tranh Chiến lược hớt váng từ từ: là tung sản phẩm mới ra thị trường cao và mức khuyến trường có quy mô hữu hạn; phần lớn thị trường điều biết đến sản phẩm đó; người mua Chiến lược xâm nhập chớp nhoáng là tung sản phẩm ra thị trường với giá thấp và thị trường chưa biết đến sản phẩm; hầu hết người mua đều nhạy cảm với giá, có tiềm ẩn khả năng cạnh tranh quyết liệt; chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm của công ty giảm Chiến lược xâm nhập từ từ là tung sản phẩm mới ra thị trường với giá thấp và mức tung sản phẩm ra thị trường cho nhất quán với ý đồ xác định vị trí sản phẩm của mình. Chiến lược tung sản phẩm ra thị trường phải là bước đầu tiên trong kế hoạch lớn nhằm Những người tiên phong của thị trường có nhiều khả năng nhất để trường, bắt đầu từ khi có đối thủ cạnh tranh mới tạo nền năng lực sản xuất và bắt đầu bán sản phẩm của mình ra thị trường. Sau một thời gian giá trị tương đối, nhận thức được sản phẩm của cạnh tranh mới quyết định không xâm nhập thị trường nữa và những đối thủ cạnh tranh quyết định tăng thị phần của mình khi những công ty khác rút lui. có thể quyết định tăng thị phần của mình khi những công ty khác rút lui. tiên phong thích sản phẩm và những người tiêu dùng đến sớm bắt đầu mua sản phẩm đó. Họ tung ra những tính chất mới của sản phẩm và phát triển thêm công ty vẫn duy trì chi phí khuyến mãi của mình ở mức cũ hay có tăng đôi chút để đối một khối lượng hàng lớn hơn và chi phí sản xuất trên đơn vị sản phẩm giảm nhanh hơn so + Công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm những tính chất mới cho + Công ty bổ sung những mẫu mã mới và nhứng sản phẩm che sườn. chi tiền vào việc cải biến sản phẩm, khuyến mãi và phân phối công ty có thể giành được Tại một điểm nào đó, nhịp độ tăng trưởng mức tiêu thụ sản phẩm sẽ chững lại và Hầu hết các sản phẩm đều ở giai đoạn sung mãn của chu kỳ sống và vì vậy phẩm đó và mức tiêu thụ tương lại chịu sự chi phối của mức tăng dân số và nhu cầu thay hàng chuyển sang những sản phẩm khác và những sản phẩm thay thế. nghiên cứu và phát triển để cải tiến sản phẩm và phát triển những sản phẩm che sườn. trường, chuyên gia sản phẩm và những công ty phục cụ theo ý khách hàng. Trong giai đoạn sung mãn một số công ty loại bỏ những sản phẩm yếu kém của Họ thích tập trung các nguồn tài nguyên của mình vào những sản phẩm có lời nhiều hơn và những sản phẩm mới. người làm Marketing cần xem xét một cách có hệ thống những chiến lược thị trường, sản Công ty có thể cố gắng mở rộng thị trường cho những nhãn hiệu sung mãn của mình Công ty có thể cố gắng tăng số người sử dụng nhãn hiệu theo ba cách: + Thay đổi thái độ của người không sử dụng: Công ty có thể cố gắng thu hút những hàng không là không ngừng tìm kiếm những người sử dụng mới mà công ty vận tải hàng + Xâm nhập những khúc thị trường mới: Công ty có thể cố gắng xâm nhập những khúc thị trường mới, về địa lý, nhân khẩu học v.v..., có sử dụng sản phẩm đó, chứ không + Giành khách hàng của các đối thủ cạnh tranh: Công ty có thể thu hút khách hàng + Sử dụng thường xuyên hơn: Công ty có thể cố gắng làm cho khách sử dụng sản + Tăng mức sử dụng mỗi lần: Công ty có thể cố gắng làm cho những người sử dụng + Những công dụng mới và phong phú hơn: Công ty có thể cố gắng phát hiện ra những công dụng mới của sản phẩm và thuyết phục mọi người sử dụng sản phẩm đó theo trên bao bì sản phẩm để người tiêu dùng biết cách sử dụng sản phẩm đó đa dạng hơn. Nhà sản xuất có thể thắng các đối thủ cạnh tranh của mình Những người sản xuất thực phẩm đóng hộp gọi đó là cách tạo ưu thế cho sản phẩm tiến các tính chất có thể không được trả tiền, trừ khi nó có được lợi lâu dài do là người Việc định kỳ tung ra thị trường những kiểu xe mới được xem là cạnh tranh kiểu phẩm đóng gói và sản phẩm gia dụng, các công ty thường tung ra các kiểu màu sắc, kết cấu khác nhau hay thay đổi kiểu dáng bao bì và xem đó là việc mở rộng sản phẩm. Những nhà quản trị sản phẩm có thể cố gắng kích thích tiêu thụ bằng cách cải biến một những yếu tố phi sản phẩm trong Marketing mix để tìm cách kích thích tiêu thụ một sản + Giá cả: Cắt giảm có thể thu hút được những người dùng thử và người sử dụng + Phân phối: Công ty có thể tranh thủ được nhiều sự hỗ trợ sản phẩm hơn và trưng Công ty có thể tung sản phẩm ra thị mình vào việc kích thích tiêu thụ để hỗ trợ những sản phẩm sung mãn. người làm Marketing khác vẫn cho rằng nhãn hiệu cần được quản trị như tài sản vốn và mong đợi và tất các công ty đều có thể bị thiệt hại về lợi nhuận khi họ đẩy mạnh tiến Cuối cùng thì mức tiêu thụ của hầu hết các dạng sản phẩm và nhãn hiệu đều suy thoái. Khi mục tiêu và lợi nhuận suy giảm, một số công ty rút lui khỏi thị trường. công ty còn ở lại có thể giảm bớt số sản phẩm chào bán. Đáng tiếc là hầu hết các công ty đều không xây dựng được một chính sách có cân Nhưng việc giết chết những sản phẩm của mình hay để cho chúng chết đều là việc mang theo là sản phẩm đầu tiêu mà công ty đã sản xuất. Sản phẩm yếu kém vẫn có thể được giữ lại vì được cho là nó có đóng góp cho việc tiêu thụ những sản phẩm khác của công ty. thể trang trải được những chi phí đã bỏ ra và công ty không có cách nào sử dụng số tiền Trừ khi có những lý do nghiêm trọng để giữ lại, còn việc kinh doanh sản phẩm yếu những khoản chi phí ngầm: Sản phẩm yếu kém vẫn có thể làm hao tốn một số thời giờ thể sử dụng tốt hơn vào việc làm cho những sản phẩm "khoẻ" sinh lời nhiều hơn; tình trạng rất không phù hợp của nó có thể làm cho khách hàng ngần ngại và làm lu mờ hình những sản phẩm yếu kém tạo ra một danh mục sản phẩm không cân đối, nhiều sản phẩm Marketing trong giai đoạn suy thoái, nghĩa là Công ty phải giải quyết một số nhiệm vụ và Nhiệm vụ đầu tiên là thiết lập một hệ thống để phát hiện những sản phẩm yếu kém. Công ty cử ra một ban rà soát lại sản phẩm gồm đại diện của các phòng Marketing, thể hiện những xu hướng của quy mô thị trường, thị phần, giá, chi phí và lợi nhuận. Thông tin này được máy tính phân tích nhằm phát hiện những sản phẩm đáng ngờ. Có những công ty bỏ rơi những thị trường suy yếu sớm hơn các công ty khác. bông nước đang bị suy thoái và đã tăng được lợi nhuận của mình khi các công ty khác rút Trong một công trình nghiên cứu chiến lược của các công ty trong những ngành + Giảm có chọn lọc mức đầu tư của công ty bằng cách loại bỏ những nhóm khách hàng không có lời, đồng thời củng cố vốn đầu tư của công ty ở những mẫu thị trường + Giải thể nhanh chóng doanh nghiệp đó bằng cách bán tài sản của nó một cách có P & G thích khẳng định rằng không có gì giống như chu kỳ sống của sản phẩm và họ nêu Nếu công ty đang phải lựa chọn giữa thu hoạch và giải thể thì chiến lược của nó sẽ Công ty cũng có thể giảm chất lượng sản cắt giảm những chi phí này mà không để cho khách hàng, đối thủ cạnh tranh và công Khi công ty quyết định loại bỏ một sản phẩm, nó phải thông qua số quyết định tiếp Nếu sản phẩm đó được phân phối rất mình và vẫn còn tín nhiệm thì chắc chắn công 5. Thế nào là một sản phẩm mới. Các công ty ngày càng ý thức được sự cần thiết và tính ưu việt của việc thường xuyên phát triển các sản phẩm mới và dịch vụ mới. Những sản phẩm mới đã ở vào giai đoạn sung mãn và suy thoái cần được thay thế bằng những sản phẩm mới. Tuy nhiên, những sản phẩm mới có thể thất bại. chức tốt hơn để quản trị những ý tưởng sản phẩm mới và triển khai nghiên cứu có cơ sở và thông qua quyết định trong từng giai đoạn của quá trình phát triển sản phẩm mới. Quá trình phát triển sản phẩm mới có tám giai đoạn: Hình thành ý tưởng, sàng lọc ý tình hình kinh doanh, phát triển sản phẩm, thử nghiệm trên thị trường và thương mại hoá. Đối với những sản phẩm mới người tiêu dùng phản ứng đáp lại ở mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào những đặc điểm của người tiêu dùng và là đặc điểm của sản phẩm. Các nhà sản xuất phải cố gắng thu hút sự chú ý của những người tiên phong, nhất là những người có đặc điểm hướng dẫn dư luận, đến sản phẩm mới của mình. Con đường phát triển sản phẩm mới có thể có hai hình thức. những người nghiên cứu độc lập hay các Công ty phát triển sản phẩm mới để phát triển những sản phẩm nhất định cho Công ty. Nhiều Công ty phấn đấu tăng trưởng cả bằng cách thôn tính lẫn phát triển sản phẩm Ban lãnh đạo của họ cảm thấy rằng những cơ hội tốt nhất có lúc là thôn tính và có lúc là phát triển sản phẩm mới và họ muốn thành thạo trong cả hai cách. sản phẩm mới hoàn toàn, sản phẩm cải tiến, sản phẩm cải tiến và nhãn hiệu mới mà Công có tính mới mẻ đối với Công ty và đối với thị trường. + Sản phẩm mới đối với Thế giới: Những sản phẩm mới tạo ra một thị trường hoàn + Chủng loại sản phẩm mới: Những sản phẩm mới cho phép Công ty xâm nhập một + Bổ sung chủng loại sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới bổ sung thêm vào các chủng loại sản phẩm đã có của Công ty (kích cỡ gói, hương vị, v.v..) + Cải tiến sửa đổi những sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới có những tính năng tốt hơn hay giá trị nhận thức được lớn hơn và thay thế những sản phẩm hiện có. + Định vị lại: Những sản phẩm hiện có được nhắm vào những thị trường hay khúc + Giảm chi phí: Những sản phẩm mới có tính năng tương tự với chi phí thấp hơn. Công ty thường theo đuổi cả một danh mục những sản phẩm mới này. quan trọng là chỉ có 10% số sản phẩm mới là thực sự đổi mới đối với Thế giới. sản phẩm nàycó chi phí và rủi ro cực lớn, bởi vì chúng mới cả đối với Công ty lẫn thị Phần lớn hoạt động về sản xuất mới của Công ty được dành cho việc cải tiến những sản phẩm hiện có chứ không phải sáng tạo ra những sản phẩm mới. 80% hoạt động về sản phẩm mới được dành cho việc cải tiến và cải biến những sản phẩm Việc phát triển thành công sản phẩm mới bị cản trở bởi nhiều yếu tố: + Thiếu những ý tưởng quan trọng về sản phẩm mới trong những lĩnh vực nhất đinh: Có thể chỉ còn lại rất ít cách cải tiến những sản phẩm cơ bản như thép, chất tẩy rửa Các công ty phải hướng những sản phẩm mới của mình vào những khúc thị trường nhỏ hơn và điều này có nghĩa là mức tiêu thụ và lợi nhuận sẽ thấp hơn đối với từng sản phẩm. + Những hạn chế của xã hội và Nhà nước: Những sản phẩm mới phải thoả mãn được những tiêu chuẩn công cộng, an toàn cho người tiêu dùng và không phá hoại sinh phẩm ở Mỹ gây rắc rối thêm cho thiết kế sản phẩm và các quyết định quảng cáo trong + Quá trình phát triển sản phẩm mới quá tốn kém: Công ty thường phải đưa ra rất nhiều ý tưởng về sản phẩm mới để cuối cùng còn lại được một vài ý tưởng tốt. công ty phải đương đầu với những chi phí cho nghiên cứu và phát triển sản xuất và + Thiếu vốn: Một số Công ty có những ý tưởng tốt, nhưng không thể tăng kinh phí + Chu kỳ sống của sản phẩm ngắn hơn: Khi một sản phẩm mới thành công, các Sony thường chỉ được hưởng ba năm trọn vẹn cho sản phẩm mới của mình trước khi bị các đối thủ khác sẽ nhái theo sản phẩm mới trong vòng sáu tháng và khó còn đủ thời Dù vậy việc tung ra thị trường sản phẩm mới thành công cũng còn có những yếu tố Việc phát triển thành công một sản phẩm mới đòi hỏi Công ty phải thành lập một tổ chức có hiệu lực để quản trị quá trình phát triển sản phẩm mới. cần vận dụng những công cụ phân tích và quan điểm tốt nhất trong từng giai đoạn của Không thể đơn giản yêu cầu người quản trị sản phẩm mới đưa ra ý tưởng Việc phát triển sản phẩm mới đòi hỏi ban lãnh đạo tối cao xác định những lĩnh vực kinh doanh và các loại sản phẩm mà Công ty muốn coi là trung tâm. phẩm, người quản trị sản phẩm mới đã chỉ hàng ngàn USD để nghiên cứu một ý tưởng về tưởng về sản phẩm mới, nhất là những Công ty lớn có nhiều chi nhánh, trong đó có đủ ty giải quyết vấn đề này bằng cách khuyến khích và tài trợ cho một số đề án tối đa có thể, định xem mình cần bao nhiêu sản phẩm mới thành công rồi ước tính ngược trở lại vốn Quá trình phát triển sản phẩm mới bắt đầu từ việc tìm kiếm những ý tưởng. Ban lãnh đạo tối cao phải xác định những sản phẩm và thị Họ cần xác định mục tiêu của sản phẩm mới, như tạo lưu kim lớn, nỗ lực cho việc phát triển những sản phẩm đột phá, cải biến những sản phẩm hiện có và Những ý tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn: Khách hàng, các nhà hàng là nơi hợp logic để bắt đầu tìm kiếm những ý tưởng sản phẩm công nghiệp mới đều Những công ty kỹ thụât có thể đạt được rất nhiều khi nghiên cứu một nhóm khách hàng nhất định của mình, những người sử dụng chủ chốt, cụ thể là những khách hàng sử dụng sản phẩm của Công ty một cách tân tiến nhất và ý thức được Các công ty có thể phát hiện những nhu quan đến những sản phẩm hiện có. mới mua xem họ thích và không thích những điểm nào ở chiếc xe, có thể cải tiến những các công nhân viên khác để khai thác những ý tưởng sản phẩm mới.Những Công ty thành những ý tưởng mới để cải tiến sản xuất, sản phẩm và dịch vụ của Công ty. Các Công ty có thể tìm được những ý tưởng hay qua khảo sát sản phẩm và dịch vụ hiện ra khách hàng thích những gì ở các sản phẩm mới của các đối thủ cạnh tranh. thể mua sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, tháo tung chính ra nghiên cứu và làm ra đã mua giấy phép sản xuất hay sao chép nhiều sản phẩm của phương Tây và tìm được Các đại diện bán hàng và những người trung gian của Công ty là nguồn ý tưởng sản Những ý tưởng sản phẩm mới cũng có thể có những nguồn khác như những nhà Phương pháp này đòi hỏi phải liệt kê những thuộc tính chủ yếu của một sản phẩm hiện có rồi sau đó cải tiến từng thuộc tính để tìm ra một sản phẩm cải tiến. tưởng hữu ích bằng cách đặt những câu hỏi sau đây với một sự vật và các thuộc tính của + Khuyến khích kết hợp và phát triển ý tưởng: Những người tham dự có thể kết Điểm chủ yếu về sự hình thành ý tưởng là mọi Công ty đều có thể làm nảy sinh của các giai đoạn tiếp theo là giảm bớt số ý tưởng xuống còn vài ý tưởng hấp dẫn và có Việc dễ nhất có thể làm được là tìm ra những thiếu Có những Công ty phải giật mình khi xem lại một Nếu một Công ty phạm quá nhiều sai lầm để sót thì có nghĩa là những tiêu chuẩn Ta có thể phân biệt ba kiểu thất bại của sản phẩm. đối của sản phẩm là mất tiền; tiền bán nó không đủ để trang trải chi phí biến đổi. một phần của sản phẩm là mất tiền, nhưng tiền bán nó đủ để trang trải toàn bộ chi phí Thất bại tương đối của sản phẩm có đem lại lợi nhuận nhiều vào việc phát triển sản phẩm đó, nên phải tung nó ra bán để gỡ lại một phần vốn để cho những ý tưởng sản phẩm yếu kém được tiếp tục triển khai. ý tưởng sản phẩm là một sản phẩm có thể có mà Công ty có Quan niệm sản phẩm là một cách giải thích ý tưởng bằng Hình ảnh sản phẩm là bức tranh cụ thể của một sản phẩm thực tế hay tiềm ẩn mà người tiêu dùng có được. Bây giờ người quản trị sản phẩm mới phải hoạch định một chiến lược Marketing để tung và hành vi của thị trường mục tiêu, dự kiến định vị của sản phẩm, mức tiêu thụ và thị Sau khi ban lãnh đạo đã xây dựng được quan niệm sản phẩm và chiến lược chuẩn bị những dự đoán về mức tiêu thụ, chi phí và lợi nhuận để xác định xem chúng có Nhiệm vụ đầu tiên là xác định khối lượng mua lần đầu sản phẩm mới đó trong từng quyết định việc tung ra chỉ một sản phẩm mới. Đối với sản phẩm mới mua thường xuyên người bán phải ước tính mức tiêu thụ lặp xuyên thấp nên chỉ sau khi tung ra thị trường một ít lâu là đã có trường hợp mua lặp lại. Có một số sản phẩm và nhãn hiệu được mua một vài lần rồi Điều quan trọng là phải ước tính xem tỷ lệ mua lặp lại có thể tăng hay giảm, và với Các Công ty sử dụng những số liệu tài chính để đánh giá giá trị của đề án sản phẩm ty phải bán được bao nhiêu đơn vị sản phẩm đó thì mới hoà vốn, với giá và cơ cấu chi phí Phát triển sản phẩm và thử nghiệm trên thị trường. giai đoạn nghiên cứu và phát triển và/hay thiết kế kỹ thuật để phát triển thành sản phẩm đoạn này sẽ trả lời ý tưởng sản phẩm đó, xét về mặt kỹ thuật và thương mại, có thể biến thấy rằng nó có đủ những thuộc tính then chốt được mô tả trong quan niệm sản phẩm, Song việc sản xuất ra thứ cà phê đó quá tốn kém và Công ty đã cắt giảm chi phí cho hỗn Việc thử nghiệm sản phẩm tại nhà được áp dụng phổ biến đối với những cấp những thông tin có giá trị về người mua, các đại lý, hiệu quả của chương trình Những sản phẩm có Những sản phẩm có rủi ro lớn, tức là những sản phẩm tạo ra những loại sản phẩm mới (bữa ăn sáng liền đầu tiên) hay có những tính chất mới (thuộc gian vì thời vụ đã bắt đầu hay vì các đối thủ cạnh tranh sẽ tung ra những nhãn hiệu của Vì vậy công ty có thể chấp nhận rủi ro sản phẩm bị thất bại hơn là rủi ro mất khả năng phân phối hay xâm nhập thị trường với một sản phẩm chắc chắn thành công. phí thử nghiệm trên thị trường cũng chịu ảnh hưởng của số lượng thử nghiệm và loại sản định xem xét các sản phẩm mới ra không. Trong việc thương mại hoá một sản phẩm mới, thời điểm tung ra thị trường có thể phẩm mới và nghe nó có một đối thủ cạnh tranh sắp kết thúc việc phát triển sản phẩm của được "ưu thế của người chủ động" là nắm chắc được những người phân phối và khách Kinsey cho thấy rằng, người đầu tiên tung sản phẩm mới ra thị trường, cho dù phải chi khác, nếu sản phẩm đó được tung ra thị trường trước khi chi hết ngân sách, thì sản phẩm Công ty cũng tranh thủ thời gian, làm thêm giờ để hoàn thiện sản phẩm của mình. ty có thể muốn cả hai cùng gánh chịu chi phí quảng cáo về việc tung sản phẩm mới. 3. Tung ra thị trường muộn hơn: Công ty có thể hoãn tung sản phẩm của mình ra phẩm của đối thủ cạnh tranh có thể bộc lộ những thiếu sót mà người đi sau có thể tránh. Công ty có thể biết được quy mô của thị trường. mới thay thế một sản phẩm cũ của công ty, thì Công ty có thể hoãn việc tung ra thị Công ty sẽ phải quyết định tung sản phẩm mới ra tại một địa bàn, một khu vực, tin, vốn, và năng lực để tung sản phẩm mới ra thị trường toàn quốc hay toàn cầu. sản phẩm mới của mình trên thị trường cả nước. Bằng cách này Công ty xếp thứ tự được những thị trường hàng đầu khách hàng triển vọng hàng đầu đối với một sản phẩm tiêu dùng mới, trong trường hợp lý tưởng, phải có những đặc điểm sau: Họ phải là những người chấp nhận sản phẩm sớm, sử Nhiều công ty đã ngạc nhiên khi biết được ai thực sự đã mua sản phẩm của mình và Công ty phải xây dựng một kế hoạch hành động để tung sản phẩm mới ra những thị chiến dịch ấn phẩm và truyền hình dồn dập nhằm làm cho 90% công chúng mục tiêu của Cách đây nhiều năm, những người làm Marketing sản phẩm mới đã sử dụng phương thức tiếp cận thị trường đại trà để tung sản phẩm của mình ra. theo đó lúc đầu sản phẩm được hướng vào những người sử dụng nhiều. chỉ có nghĩa khi những người sử dụng nhiều có thể dễ phát hiện được và là những người có mức độ quan tâm đến sản phẩm và nhãn hiệu mới khác nhau. luận và có lợi cho việc quảng cáo sản phẩm mới đối với những người mua tiềm ẩn khác. Sự đổi mới có nghĩa là mọi hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng được một ai đó nhận ý tưởng có thể đã có từ lâu rồi, nhưng nó lại là một sự đổi mới đối với người là quyết định của một cá thể trở thành người sử dụng thường xuyên một sản phẩm. Kết quả quan sát những người chấp nhận sản phẩm mới cho thấy họ đã trải qua năm giai + Đánh giá: Người tiêu dùng xem xét có nên dùng thứ sản phẩm mới đó không. + Dùng thử: người tiêu dùng dùng thử sản phẩm mới để đánh giá giá trị của nó kỹ Quá trình tiến triển này cho thấy rằng người làm Marketing sản phẩm mới cần