Luận văn Tìm hiểu hệ thống tổ chức, quản lý, kinh doanh của công ty may TNHH Minh Trí

Lượt xem: 76,908Lượt tải: 10Số trang: 50

Mô tả tài liệu

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung và quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nói riêng đang diễn ra ở Việt Nam, con người ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất, ngày càng thoả mãn các nhu cầu từ tối thiểu cho đến xa xỉ của đời sống xã hội.

Tóm tắt nội dung

Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới nói chung và quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nói riêng đang diễn ra ở Việt Nam, con người ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất, ngày càng thoả mãn các nhu cầu từ tối thiểu cho đến xa xỉ của đời sống xã hội. Điều đó đã thúc đẩy ngành may mặc và thời trang phát triển, không những đáp ứng nhu cầu mặc trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới, không ngừng đổi mẫu mã và kiểu cách để cho ngành mình luôn mới mẻ trong con mắt của mọi người và phù hợp vời thị hiếu của thị trường. Do đó, để ngành may giữ được vị trí và không ngừng phát triển hiện tại cũng như trong tương lai thì yêu cầu cấp bách đặt ra là phải có lực lượng cán bộ kỹ thuật và lực lượng lao động có tay nghề đông đảo, đòi hỏi cán bộ công nhân viên trong ngành không ngừng học hỏi các kinh nghiệm mới và hoàn thiện mình cũng như hoàn thiện thực tiễn yếu kém của ngành để ngành may mặc thực sự xứng đáng với vai trò và vị thế của mình – là một ngành công nghiệp mới mẻ nhưng có nhiều tiềm năng, hằng năm giá trị của ngành đóng góp một phần quan trọng vào tổng thu nhập quốc dân. Qua hơn 6 tuần thực tập tại công ty may TNHH Minh Trí, với sự nỗ lự của bản thân, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên công ty, và đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo Phạm Thanh Thảo, bản thân em đã tiếp nhận thêm được một số kiến thức nhất định về thực tiễn sản xuất bổ ích và có ích cho công việc của mình sau này. Tuy nhiên, bản báo cáo thực tập của em được thực hiện gấp gáp và còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong bộ môn công nghệ May & thời trang để kiến thức của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn công nghệ May & thời trang đã tạo điều kiện giúp chúng em có nơi thực tập tốt nghiệp cuối khoá, cán bộ công nhân viên công ty May TNHH Minh Trí đã giúp đỡ tận tình trong thời gian chúng em thực tập, và cô giáo Phạm Thanh Thảo đã hướng dẫn cụ thể để chúng em hoàn thành đợt thực tập này. Nhằm củng cố những kiến thức lý thuyết, giúp cho sinh viên làm quen với công việc chuyên môn của cán bộ kỹ thuật ở công ty May. 2.Yêu cầu 2. Tìm hiểu mô hình tổ chức quản lý và điều hành sản xuất (tổ chức các phòng ban, quy mô phân cấp, và trách nhiệm cho từng cấp, bộ phận) 3. Đánh giá chung của cá nhân về quá trình tổ chức sản xuất – kinh doanh của công ty. 1. Công tác chuẩn bị nguyên phụ liệu, vật tư cho sản xuất. - Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp đánh số, kiểm tra đồng bộ bán thành phẩm sau khi cắt. 1. Nội dung tài liệu thiết kế - kỹ thuật cho một mã hàng mới nói chung, cho một mã hàng cụ thể nói riêng (yêu cầu, các bước tiến hành, phương pháp và phươngtiện thực hiện) 2. Nội dung tài liệu kỹ thuật - công nghệ cho một mã hàng mới nói chung, cho một mã hàng cụ thể nói riêng (yêu cầu, các bước tiến hành, phương pháp và phươngtiện thực hiện 3. Nội dung tài liệu tổ chức - điều hành sản xuất cho một mã hàng mới nói chung (Yêu cầu, các bước chuẩn bị, cách thức thực hiện, theo dõi tiến độ, quản lý chất lượng, giao nhận vật tư, điều phối) Công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc bằng vải dệt kim - sản phẩm của công ty đã có mặt ở các thị trường lớn trên thê giới như: EU, Canada, Đức, Tiệp, Đài Loan, Nhât Bản… Đặc biệt là thị trường Mỹ. Mặt hàng chính của công ty là các sản phẩm dệt kim: áo T-shirt, Polo-shirt, áo khoác ngoài bằng vải Polar Pleece, vải Sherpa Knit… Đồ thể thao bằng vải French Terry, vải Tricot. Hiện nay, công ty có 3 cơ sở sản xuất với diện tích hơn 36000 m², hệ thống trang thiết bị, máy móc kỹ thuật được trang bị hiện đại, hoàn thiện cơ cấu tổ chức để luôn đạt mức tăng trưởng cao: hơn 1500 máy may và các may chuyên dụng, 4 dàn máy thêu vi tính… Tổng số cán bộ công nhân viên tính đến tháng 8 – 2002 là 750 người, đến nay con số đó đã là hơn 2400 người. Trong quá trình xây dựng và phát triển, công ty luôn luôn đổi mới và đầu tư trang thiết bị may chuyên dụng hiện đại, được nhận bằng khen của Bộ Thương mại và đạt thành tích xuất khẩu năm 1999 và 2001. Trong 9 tháng đầu năm 2002, sản lượng xuất khẩu của công ty đạt 769.000 sản phẩm, tăng 380% so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu đạt3.121.000 USD, danh thu đạt 7.580.523.000 VNĐ, mức lương bình quân của cán bộ công nhân viên công ty đạt 1.300.000VNĐ/tháng. Công ty Minh Trí luôn đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng đối với các mặt hàng dệt kim. Tìm hiểu mô hình tổ chức quản lý và điều hành sản xuất của công ty. Mô hình tổ chức quản lý của công ty là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ lệ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, được giao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản lý doanh nghiệp. Mô hình tổ chức quản lý và bộ phận điều hành sản xuất của công ty có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ, tổ chức quản lý là tiền thân của quá trình điều hành sản xuất. Mô hình tổ chức quản lý được hình thành bởi các bộ phận quản lý và các cấp quản lý: bộ phận quản lý là đơn vị riêng biệt có chức năng quản lý nhất định như phòng kế hoạch, phòng kiểm tra chất lượng…; cấp quản lý là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản lý ở trình độ nhất định như cấp công ty, cấp phân xưởng… Bộ phận quản lý phản ánh sự phân chia chức năng quản lý theo chiều ngang – là biểu hiện trình độ chuyên môn hoá trong phân công lao động quản lý, còn các cấp quản lý thể hiện sự phân chia chức năng quản lý theo chiều dọc - tuỳ thuộc vào trình độ tập trung quản lý. Xây dựng, điều hành quản lý kế hoạch sản xuất của công ty; công tác cung ứng vật tư, quản lý vật tư và sản phẩm trong kho; theo dõi, quản lý vật tư để kịp thời phân phối cho các đơn vị sản xuất. Công tác nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ tùng, trang thiết bị, công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Dựa vào kế hoạch sản xuất hằng năm của công ty và các hợp đồng đã định kỳ giao dịch của khách hàng để xây dựng kế hoạch sản xuất cụ thể hàng tháng. Việc phân bổ các kế hoạch, theo dõi tiến độ các kế hoạch đòi hỏi có sự điều hành phối hợp nhất quán giữa các bộ phận và đơn vị trong công ty. Công tác xuất và nhập vật tư sản xuất cho các đơn vi và bộ phận trong và ngoài công ty được thực hiện một cách nghiêm túc dựa theo chế độ cấp phát sổ sách, chứng từ. Đề ra và thực hiện kế hoạch mua sắm nguyên phụ liệu cho sản xuất một cách đầy đủ và kịp thời cho các đơn hàng. Thông báo kế hoạch sản xuất đến các đơn vị liên quan, thường xuyên liên hệ với các phòng chức năng, cácđơn vị trực thuộc để theo dõi tiến độ sản xuất và giao hàng Trên cơ sở yêu cầu nhập nguyên phụ liệu phù hợp cho mỗi đơn hàng, phòng kế hoạch - kinh doanh - xuất nhập khẩu đưa ra báo cáo đề xuất và thực hiện giao dịch nhập khẩu. Thông báo số lượng, mẫu mã, chủng loại… cụ thể cho đơn vị tiếp nhận, để hoàn tất thủ tục nhập kho và kiểm hoá. Công tác báo cáo, thống kê kế hoạch, có sổ sách theo dõi thực hiện các hợp đồng xuất - nhập khẩu, phải được thực hiện theo định kỳ tháng, quý, năm… Tổ chức việc nhập và xuất vật tư, nguyên phụ liệu từ kho đến các đơn vị sản xuất. Phòng tổ chức – hành chính có chức năng tổ chức cán bộ, đào tạo lực lượng lao động và kỹ thuật viên, các chế độ chính sách, quản lý hành chính, bộ phận phục vụ, bảo vệ… Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp lên ban lãnh đạo công ty, để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các đơn vị trong công ty thực hiện sản xuất đúng đủ chỉ tiêu và đảm bảo đúng tiến độ xuất hàng. Tổng hợp, phân tích báo cáo thống kê các hoạt động quản lý nói chung để phục vụ quá trình sản xuất diễn ra liên tục và nhịp độ. - Nghiên cứu, đề xuất các phương án tổ chức bộ máy quản lý cho phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh - Phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổng hợp các văn bản quy định chức năng nhiệm vụ, xây dựng các nội quy, quy chế quản lý của mỗi phòng, bộ phận, đơn vị trực thuộc công ty. - Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội nhũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật về chuyên môn nghiệp vụ, và tay nghề cho công nhân. - Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức triển khai, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị, bộ phận sản xuất, cán bộ, công nhân viên thực hiện đúng theo quy định công tác. - Công tác tiền lương: xây dựng và ban hành các nội dung, quy chế về chế độ tiền lương, thu nhập, chế độ bảo hiểm xã hội, thực hiện chế độ chính sách người lao động theo đúng quy định của Nhà nước. Thực hiện chương trình đào tạo bổ túc kỷ luật tay nghề cho công nhân, phối hợp các trường dạy nghề và các đơn vị có liên quan, tổng hợp kiểm tra trình độ để nâng bậc… Có đội bảo vệ luân phiên thay ca là việc, đảm bảo an ninh trật tự trong công ty, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi gây rối, trộm cắp…, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ mọi người ra vào công ty, kiểm tra việc xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, vật tư hàng hoá, nội bộ công ty. Có phòng khám, chữa bệnh, cấp phát thuốc uống, điều trị cho cán bộ công nhân viên công ty theo quy định của Bộ y tế. Phòng có chức năng trong lĩnh vực kế toán – tài chính của công ty, đưa ra phương án sử dụng vốn hợp lý, đúng mục đích. Đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh của công ty được duy trì liên tục và đạt hiệu quá kinh tế cao. Ghi chép, tính toán và phản ánh số liệu hiện có về tính luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư tiền vốn của công ty. Tình hình sử dụng các nguồn vốn phản ánh các chi phí trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kết quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn các loại tài sản, vật tư tiền vốn, các nguồn chi phí. Hạch toán chi phí xuất nhập vật tư cho công ty, chuyển đến các phân xưởng sản xuất, theo dõi việc mua sắm tài sản trong công ty. - Lập định mức nguyên phụ liệu, kế hoạch mua sắm các thiết bị, phụ tùng cần dùng cho đơn hàng sản xuất. - Xây dựng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm theo yêu cầu. Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình công nghệ cho các đơn hàng chuẩn bị sản xuất, xây dựng định mức nguyên phụ liệu cho phù hợp. Chuẩn bị các mẫu sơ đồ của các đơn hàng đưa vào sản xuất, thiết kế các loại mẫu phục vụ cho công đoạn cắt, may. Giám sát theo dõi các phân xưởng sản xuất thực hiện đày đủ chính xác theo thiết kế công nghệ quy định. Theo dõi đôn đốc và kiểm tra để giúp các phân xưởng thực hiện kế lịch xích – tu sửa thiết bị đầy đủ theo nội dung bảo trì định kỳ. Tổng kết đánh giá thực hiện công tác kỹ thuật hằng năm, xây dựng phương hướng chiến lược trong năm tiếp theo và lâu dài của công ty. Kiểm tra, đánh giá các mẫu chào hàng của khách hàng, thông báo kịp thời đầy đủ các thông số kỹ thuật, chất lượng nguyên phụ liệu. Tiến hành khiếu nại đối với các lô hàng nhập về công ty không đạt yêu cầu chất lượng. Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ tay nghề cho công nhân kiểm tra chất lượng sản phẩm. Nhân viên phòng kỹ thuật của công ty tại các cơ sở được thống kê như sau: Đánh giá chung của cá nhân về quá trình tổ chức sản xuất – kinh doanh của công ty. Qua quan sát thực tế và nghên cứu tài liệu của công ty, em thấy công ty may Minh Trí là một trong những công ty tiếp nhân được rất nhiều đơn dặt hàng ở trong cũng như ngoài nước, mà đặc biệt là các đơn hàng về áo T-shirt và áo Polo shirt, xuất khẩu nhiều trên thị trường Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông… Toàn bộ công ty là một quy trình khép kín, đảm bảo quá trình từ tiếp nhận đơn hàng, triển khai sản xuất cho đến sản xuất đều diễn ra một cách nhịp nhàng, liên tục. Để đạt dược điều đó, công ty đã xây dựng và tổ chức thành công hình thức sản xuất, kinh doanh hợp lý và có tính chuyên môn hoá cao. Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO đã được công ty đưa vào áp dụng và tạo điều kiện cho chất lượng sản phẩm của công ty đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, đáp ứng được nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường người tiêu dùng. Mặt khác, khâu vận chuyển nguyên - phụ liệu, hàng hoá vật tư còn chưa được thuận tiện, trường hợp đơn hàng có số lượng lớn sẽ dẫn đến tình trạng quá tải. Kho nguyên - phụ liệu của công ty mặc dù đã được sắp xếp gọn gàng, bảo quản trên giá nhưng vẫn chưa phân rõ ràng các khu vực cụ thể. Tổ thu hoá, nhiều sản phẩm kiểm tra chưa chính xác ở từng công đoạn sản xuất, gây mất thời gian trong việc sửa lỗi, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và thời gian giao hàng. 1. Công tác chuẩn bị nguyên phụ liệu, vật tư cho sản xuất. Kho nguyên - phụ liệu được tổ chức đảm bảo yêu cầu về diện tích mặt bằng, yêu cầu cấp phát vật tư, nguyên - phụ liệu cho sản xuất, đảm bảo yêu cầu quy cách chủng loại, số lượng, chất lượng khi cấp phát. Quy mô kho nguyên - phụ liệu của công ty ở cấp phân xưởng, cung cấp nguyên - phụ liệu, vật tư cho toàn bộ qua trình sản xuất cũng như các quá trình kỹ thuật liên quan như công tác chế thử mẫu. Việc cấp phát hàng hoá, vật tư, nguyên - phụ liệu ra khỏi kho phải có hoá đơn xuất kho của phòng kinh doanh –XNK, theo để nghị của phòng kỹ thuật. Tiến hành kiểm tra sơ bộ về số lượng, chất lượng và chủng loại xem có đúng yêu cầu hay không, sau đó lưu kho và có biên bản hàng nhập kho. Đối với nguyên liệu vải, khi hàng về kho, thủ kho làm thủ tục nhập kho tạm thời, nhập hàng theo đúng số lượng chủng loại đã ghi trong danh mục yêu cầu. Thủ kho đối chiếu vào phiếu sử dụng nguyên vật liệu cẩn thiết của mỗi đơn hàng để tiếp nhận và làm thủ tục nhập kho. Đối với vải đóng kiện, là vải được gấp lại theo chiều dài nhất định, để dỡ kiện, phải bật đầu kiện, mà ở đó có ghi lý lịch của kiện hàng. Nguyên - phụ liệu sau khi nhập kho theo thủ tục nhập kho tạm thời được các nhân viên trong tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra. Để chính thức nhập kho đối với nguyên - phụ liệu đạt yêu cầu chất lượng, hoặc là xử lý, trả lại cho khách hàng những lô hàng không đạt, hoặc có thể thương lượng với khách hàng để để ra biện pháp giải quyết. Lô hàng sau khi kiểm tra sơ bộ được dán tem có các thông tin sau: - Tên vải: Nguyên liệu được kiểm tra bằng máy kiểm vải và phải kiểm tra 100% số cuộn, kết quả kiểm tra được ghi vào biểu mẫu kiểm tra. Máy có bề mặt rộng để vải trải qua, thông qua đó kiểm tra được các lỗi của cuộn vải. Kết thúc kiểm tra mỗi cuộn vải, nhân viên kiểm tra viết lại vào biên bản kiểm tra chiều rộng khổ vải, chiều dài thực tế so với chiều rộng khổ và chiều dài ghi trên nhãn mác của cuộn vải, đồng thời ghi số lỗi phát hiện được của cuộn vải đó. Khi vận hành máy kiểm tra vải, nhân viên kiểm tra phải chú ý theo dõi liên tục các lỗi trên bề mặt vải. Nhân viên kiểm tra và thủ kho báo cáo tình hình lô hàng nhập kho, sự thừa hay thiếu nguyên liệu, kịp thời đáp ứng đầy đủ trong các trường hợp phát sinh trong quá trình sản xuất. Nếu kiểm tra 10% vải không đạt yêu cầu thì lấy tiếp 10% theo nguên tắc trên, hoặc có thể lấy theo số lượng mà khách hàng yêu cầu.  Các chỉ tiêu kiểm tra: kiểm tra trên bàn rộng 2-3 m², dựa vào phương thức điểm để đánh giá lõi một cuộn vải theo biểu mẫu sau: Trong trường hợp số mẫu không đạt vượt quá 10%, nếu là hàn gia công thì báo lại cho khách hàng chờ ý kiến giải quyết, nếu là hàng FOB, hàng nội địa thì khiếu nại nhà cung cấp. o Kiểm tra vật liệu dựng, mex: dựng, mex được lấy mẫu theo màu sắc và chủng loại của từng đợt nhập về kho, tỷ lệ lấy mẫu là 5%, lấy mẫu ngẫu nhiên, đều theo tưng 10 đơn vị (cuộn hoặc met) Dựng, mex được kiểm tra về số ượng và khổ trên máy đo vải hoặc trực tiếp trên bàn cắt và đo bằng thước đã hiệu chỉnh. - Màu sắc: kiểm tra bằng mắt thường dưới ánh sáng Galuk, là sự so sánh với mẫu ở bảng hướng dẫn NPL của khách hàng trng trường hợp hàng gia công, hoặc là mẫu mà đã được khách hàng hoặc phòng kỹ thuật công ty duyệt trước khi ký hợp đồng trường hợp là hang FOB, hàng nội địa. Cách lấy mẫu: cắt 2 mảnh vải cùng loại đang chạy trên máy ép dài 20cm, rộng 10cm, được ép cùng loại mex trong cùng điều kiện sản xuất. Trường hợp chưa có các thông số ép thì phòng kỹ thuật cũng thử theo phương pháp trên, nhưng thay đổi các thông số ép để tìm ra thông số phù hợp nhất và thông báo cho bộ phận ép thực hiện. Nếu 90% số mẫu đạt yêu cầu thì được đưa vào sản xuất, còn trong trường hợp số mẫu không đạt yêu cầu vượt quá 10%, nếu là hàn gia công thì báo lại cho khách hàng chờ ý kiến giải quyết, nếu là hàng FOB, hàng nội địa thì khiếu nại nhà cung cấp. Công việc lấy mẫu các loại phụ liệu dựa vào màu sắc, chủng loại theo tỷ lệ 5% mỗi loại của từng đợt nhập kho về, hoặc lấy ngẫu nhiên theo từng 10 đơn vị. Chất lượng: thử lực căng của chỉ bằng cách may thử trên máycông nghiệp, không bị đứt, xước thì đạt tiêu chuẩn; màu sắc –so sánh với bảng màu chuẩn, độ bền màu thử bằng cách may vào vải cùng thông số, màu sắc.; chi số chỉ so với mẫu đã được công ty hoặc khách hàng duyệt. Chất lượng: thông số kích thước: kiểm tra bằng cách đo bằng thước đã hiệu chuẩn; độ bền màu: kiểm tra bằng cách dính hoặc may phụ kiện vào vải trắng cùng chủng loại và là qua nhiệt độ, giặt xà phòng trong 45 phút, so sánh các tiêu chí; màu sắc, hình dáng, logo: kiểm tra bằng mắt thường dưới ánh sáng tự nhiên so với mẫu chuẩn. Các nguyên tố vi lượng: nếu các khách hàn yêu cầu kiểm tra các nguyên tố vi lượng: Niken, kim loại nặng…, phòng kế hoạch – XNK cần gửi đi kiểm tra, xác nhận tại các trung tâm nghiên cứu, kiểm nghiệm theo yêu cầu của khách. Công ty xây dựng và áp dụng các thủ tục văn bản quy chuẩn về xếp dỡ, vận chuyển lưu kho, bao gói và giao nhận, nhằm phòng ngừa và hạn chế tối đa các trường hợphư hỏng , mục nát nguyên - phụ liệu khi lưu kho. Lưu kho và bảo quản: chỉ những hàng hoá, vật tư đã qua kiểm tra và xác nhận là đạt yêu cầu mới làm thủ tục nhập kho. Nguyên - phụ liệu là vải, mex phải được xếp cách ly với mặt đất, cách ly với tường, đặt ở nơi khô ráo thoáng mát, tránh ẩm ướt, tránh mối mốc để tiện cho việc cấp phát cho các đơn vị sản xuất. Trong quá trình lưu kho và bảo quản nguyên - phụ liệu nếu phát hiện không đảm bảo chất lượng thì thủ kho báo cáo cho bộ phận kiểm tra chất lượng để có biện pháp xử lý, khắc phục. Xếp dỡ và vận chuyển: dụng cụ và phương tiện xếp dỡ phải phù hợp với mục đích sử dụng, được kiểm tra định kỳ để tránh làm đổ vỡ gây hư hỏng nguyên - phụ liệu. - Nguyên - phụ liệu do khách hàng cung cấp: nhân viên phòng quản lý đơn hàng liên lạc với khách hàng để đưa ra biện pháp giài quyết, ghi nhận theo mẫu. Nếu nhân viên kho nguyên - phụ liệu kiểm tra thấy nguyên - phụ liệu không phù hợp thì báo ngay cho các đơn vị liên quan để nhanh chóng có biện pháp xử lý. Sau ki kiểm tra, xác nhận chính xác (số lượng, chất lượng) lô hàng, nguyên - phụ liệu được phân loại. Đối với nguyên - phụ liệu không đạt yêu cầu, không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định thì thủ kho sẽ lập biên bản cho nơi cung cấp để được giải quyết. Trường hợp xem xét lại: các nguyên - phụ liệu đã qua kiểm tra, thử nghiệm và đo lường nhưng không đáp ứng tiêu chuẩn đạt, cần lấy mẫu lần 2 để quyết định. Nguyên - phụ liệu từ lúc tạm nhận đến lúc kiểm tra và đo đếm xong phải luôn được để trên hàng và lô theo khu vực quy định, phân loại nguyên - phụ liệu theo mẫu. Ngoài ra, nguyên - phụ liệu còn được phân loại theo màu sắc, hoa văn, các loại khác màu tránh để chồng lên nhau, tránh để vải trắng và vải màu trên cùng một giá. Mã hàng nào sản xuất trước thì đặt nguyên - phụ liệu của mã hàng đó gần cửa hơn, chuyển sâu vào trong để kiểm tra, kiểm định. Khi được lệnh sản xuất của phòng kế hoạch, dựa vào bảng hướng dẫn NPL, thủ kho chuẩn bị NPL của đơn hàng đó chuẩn bị giao cho phân xưởng may theo đúng số lượng, chủng loại đảm bảo cho quá trình sản xuât. Thủ kho thống kê lại tình hình thừa thiếu nguyên - phụ liệu của các mã hàng để kịp thời điều độ, giúp quá trình sản xuất không bị gián đoạn. Khi cấp hết nguyên - phụ liệu theo lệnh sản xuất, thư ký kho viết phiếu kho đối với mỗi mã hàng nhất định thành 3 bản: 1 bản cho phòng kế toán, 1 bản cho đơn vị nhận, 1 bản lưu kho. Cụ thể, được thực hiện bằng các xe đẩy thô xơ, quá trình vận chuyển nguyên - phụ liệu nhập kho từ tầng 1 của nhà xưởng lên tầng 3 có hệ thống thang máy. Công đoạn trải vải: là công đoạn tạo ra bàn vải đảm bảo được yêu cầu kỹ thuật đúng chiều dài và chiều rộng, khớp với sơ đồ giác, và đảm bảo số lớp vải đủ theo kế hoạch sản xuất. Thường quá trình trải vải diễn ra khi tổ trải vải nhận được kế hoạch sản xuất, khi đó, nhân viên tổ trải trải vải dựa vào bảng hướng dẫn sử dụng nguyên - phụ liệu, các tiêu chuẩn và quy trinh trải - cắt của mã hàng đó. Đối với các mã hàng truyền thống của công ty, là các mặt hàng từ vải dệt kim, có độ co giãn lớn cho nên phải tháo dỡ vải ra khỏi cuộn để tở vải thời gian là 24 giờ (để hồi canh). Vải trải xong, đặt sơ đồ cắt lên trên mặt, chú ý kiểm tra lại kích thước của bàn vải sao cho độ dư đầu bàn và độ dư đầu sơ đồ không quá lớn. Sau khi trải xong một lớp, người ta dùng những đoạn dây ở phía trên để gióng kẻ hay là có đèn dọi kẻ để đảm bảo thẳng kẻ, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật nói trên, phải đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật về thao tác trên bàn trải, trải vải thành nhiều lớp, sau mỗi lớp cần đặt mẫu sơ đồ lên trên để điều chỉnh cho khớp. Kết thúc quá trình trải vải, nhân viên phải đo lại đầu tấm để thanh toán với kho nguyên liệu, đồng thời kiểm tra lại chất lượng bàn vải. Công đoạn cắt:quá trình cắt dùng 2 loại máy cắt là: máy cắt phá (di động) - để cắt các chi tiết lớn và máy cắt gọt (cố định) - để cắt chính xác các chi tiết nhỏ. Xác định được số lớp vải trên một bàn cắt (thường có một người chuyên theo dõi kiểm tra). Căn cứ vào số lượng mã hàng, kế hoạch sản xuất, tính chất của vải mà ta xác định được số lớp trên một bàn. Ngưởi trải vải vừa trải vải vừa quan sát để loại bỏ những đoạn vải không đảm bảo chất lượng và đánh dấu số thứ tự các lớp vải đã trải ở một đầu bàn, đồng thời đánh sô thứ tự vào các đầu tấm để tiện cho việc theo dõi, cắt đổi những chi tiết nằm ở vị trí vải có lỗi. Dùng máy cắt phá để cắt các chi tiết theo sơ đồ cắt gắn ở trên, vì bàn vải lơn nên người ta thường cắt ở dìa, biên vải trước, sau đó cắt các chi tiết lớn trước, dùng máy cắt di động đẩy tay cắt phá các chi tiết nhỏ ( chưa cần độ chính xác). Tiếp theo công nhân cắt gọt sẽ nhận các tập chi tiết bán thành phẩm sau quá trình cắt phá để cắt gọt. Đối với hàng kẻ, người ta không dùng phương pháp cắt gọt, mà sau khi cắt phá xong theo từng mảng tiếp theo họ dùng kéo để sửa từng lá một để đảm bảo các chi tiết cùng đúng và chính xác đường kẻ. Sau khi bán thành phẩm đã được cắt gọt chính xác sẽ được chuyển sang bàn đánh số đồng thời kèm theo việc kiểm tra lỗi trên bán thành phẩm. Sau khi kiểm tra xong, công nhân đánh số cần tiến hành đánh số các tập chi tiết bán thành phẩm theo thứ tự đã quy định đối với mỗi mã hàng nhất định. Công việc đánh số cần đảm bảo chính xác sao cho khi may lắp ráp các chi tiết của một sản phẩm phải cùng nằm trên cùng một lá vải, không bị sai màu. Quy định vể đánh số: chiều cao chữ số đã được quy định trong tiêu chuẩn, số thứ tự bắt đầu là ký hiệu bàn cắt và được đánh vào mặt phải của lá vải. Chính vì thế, chất lượng bán thành phẩm cắt phải luôn được theo dõi một cách chặt chẽ, và nhân viên KCS của công ty sẽ đảm trách nhiệm vụ này, với sự kiểm tra trong suốt quá trình trải vải và cắt vải. Nhân viên KCS sẽ kiểm tra 100% các tập chi tiết bán thành phẩm, trong mỗi tập sẽ kiểm tra 5% số lượng lá vải. Quá trình kiểm tra phải có lá đầu và lá cuối, đối với mã hàng có thêu, in, ép mex thì nhân viên KCS phải lấy mẫu vải và kiểm tra theo tiêu chuẩn kỹ thuật. Đồng bộ bán thành phẩm sau khi cắt có mục đích: tập hợp các chi tiết của mỗi mã hàng để chuẩn bị cho công đoạn may. Sau khi được đánh số xong, các tập chi tiết bán thành phẩm phải được bó, buộc gọn, các tập chi tiết đó được để vào nơi quy định theo vị trí của từng lô hàng. Sau khi kết thúc quá trình cắt vải, nhân viên tổ cắt thực hiện hạch toán bàn cắt để kiểm tra số lượng vải đã cắt, và số lượng vải thừa ra để báo cáo lên kho của công ty. Quy trình công nghệ sản xuất được diễn ra theo trình tự sau: chuẩn bị kỹ thuật → chuẩn bị bán thành phẩm → tổ chức sản xuất trên dây chuyền. Trong đó, quá trình chuẩn bị kỹ thuật là quá trình nhận kế hoạch sản xuất mà bắt đầu là việc nghiên cứu tài liệu liên quan đến mã hàng, sau đó là công việc kiểm tra và đối chứng các thông số kỹ thuật của mã hàng, để từ đó có căn cứ để triển khai cho các hoạt động sản xuất sau này. Để tiến hành may mẫu thử của mã hàng đó, nếu các chỉ tiêu kỹ thuật của mẫu thử phù hợp với các yêu cầu của khách hàng thì bắt đầu triển khai sản xuất đại trà, bắt đầu là giác sơ đồ,trải cắt vải và chuẩn bị bán thành phẩm để chuẩn bị đưa vào sản xuất trên dây chuyền may. Sau khi nhận đủ nguyên - phụ liệu dùng cho cả mã hàng, dựa vào bảng định mức thời gian, tình hình nhân lực, thiết bị máy móc thực tế, tổ trưởng sẽ tự rải chuyền, phân công lao động hợp lý,sắp xếp vị trí máy móc, thiết bị, sắp xếp chỗ làm việc cho công nhân, một cách hợp lý theo quy trình công nghệ may, công việc rải chuyền có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động. Hơn thế nữa, phải phổ biến các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như hướng dẫn các phương pháp công nghệ cụ thể cho từng người công nhân. Kết hợp với việc giám sát, kiểm tra chất lượng từng khâu, từng công đoạn trên dây chuyền để đảm bảo chất lượng, yêu cầu kỹ thuật của mã hàng quy định và kịp thời phát hiện ra những lỗi mắc phải và đề ra biện pháp khắc phục một cách nhanh nhất. Nhân viên kỹ thuật và nhân viên kiểm tra chất lượng KCS phải luôn bám sát chuyền, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn thao tác của công nhân cho phù hợp, đồng thời giải đáp, hướng dẫn cách thức thực hiện đối với mỗi bước công nghệ. Trong suốt quá trình sản xuất, tổ trưởng bao quát toàn bộ dây chuyền, cập nhật năng suất của từng cá nhân, của chuyền, để phân công và điều động một cách hợp lý, tránh hiện tượng ùn tắc hoặc chờ hàng trên chuyền. Quá trình vận chuyển bán thành phẩm trong chuyền may được thực hiện thủ công, là sự vận chuyển bằng tay, và tổ trưởng hoặc một người nào đó được sự phân công của tổ trưởng là người đảm nhận công việc phân phát bán thành phẩm đến các vị trí làm việc. Bộ phận thu hoá tiếp nhận sản phẩm và dựa vào các bảng quy cách và tiêu chuẩn chất lượng để tiến hành kiểm tra sản phẩm. Cán bộ thu hoá là người có trình độ, nắm trắc kỹ thuật, làm việc nghiêm túc và có trách nhiệm, kiểm tra đúng theo quy định. Sau khi khắc phục xong các lỗi, cần đặt sản phẩm đúng nơi quy định để tránh kiểm tra lặp lại. Chuyền phải hoạt động sao cho 3 sản phẩm đầu tiên ra chuyền càng sớm càng tốt để kiểm tra mức độ hợp lý của chuyền và kỹ thuật của công nhân. Khi các sản phẩm tiếp theo ra khỏi chuyền, bộ phận thu hoá đầu chuyền làm nhiệm vụ kiểm tra và cắt đầu chỉ, làm sạch sơ bộ sản phẩm. Những phần nào của sản phẩm chưa đạt yêu cầu thì gửi trả lại cho công nhân thực hiện công đoạn đó để sửa lại nhưng phải có sự hướng dẫn của tổ trưởng hoặc kỹ thuật chuyền. Công tác quản lý chất lượng được đảm bảo xuyên suốt và liên tục trong trình sản xuất. Ngoài sự giảm sát của tổ trưởng, kỹ thuật chuyền, thu hoá đầu chuyền sản phẩm còn được kiểm tra chất lượng của nhân viên KCS trước khi đóng gói Nhân viên KCS nhận sản phẩm từ các thu hoá đầu chuyền để kiểm tra chất lượng cũng như những yêu cầu kỹ thuật nếu sản phẩm của chuyền nào không đảm bảo thì trả lại cho chuyền đó để sửa hoặc tìm phương án khác phục. Quá trình hoàn tất sản phẩm may là công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, là công đoạn khôi phục lại chất lượng sản phẩm sau khi thoát chuyền: phục hồi lại chất lượng mặt vải, đường may… đồng thời là quá trình hoàn thiện sản phẩm: là gấp, đòng gói sản phẩm… Quá trình tẩy là việc dùng hoá chất để làm sạch các vết bẩn xuất hiện trên bề mặt sản phẩm trong quá trình sản xuất. Căn cứ vào các vết bẩn và tính chất cơ lý của nguyên liệu tạo nên sản phẩm mà sử dụng các loại hoá chất cho phù hợp. Các dạng vết bẩn thường gặp: dầu máy – do trong quá trình sản xuất, công nhân không cẩn thận để giây dầu vào sản phẩm, dùng chất tẩy là xà phòng thông thường để tẩy; rỉ máy – máy trước khi sử dụng không lau chùi đã giây vào sản phẩm, dùng chổi quét nhẹ hoặc chất tẩy javel đối với các vết bẩn nặng. Sau khi sản phẩm thoát chuyền, công nhân thu hoá tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn và quy định của phong kỹ thuật cung cấp. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện lỗi trên sản phẩm cần đánh dấu và trả lại cho bộ phận may gây lỗi kịp thời chỉnh sửa hợp lý. Nhân viên thu hoá khi thu mã hàng nào phải kiểm tra theo phiếu công nghệ của mã hàng đó, tránh nhầm lẫn giữa các mã hàng với nhau. Khi kiểm tra, cần kiểm tra cả về kích thước của sản phẩm, kiểm tra màu sắc nguyên - phụ liệu, số lượng các chi tiết, đặc biệt là các lỗi trên mặt vải… Bộ phận thu hoá có trách nhiệm nhặt hết chỉ xờm, xơ. Tổ trưởng cần xem xét kỹ lưỡng và hướng dẫn cụ thể cho công nhân các tiêu chuẩn và quy cách là gấp do phòng kỹ thuật gửi xuống. Các thùng sau khi đóng phải đảm bảo đúng, đủ về số lượng và chất lượng sản phẩm đóng gói bên trong, đủ trọng lượng. Khi có một mã hàng mới, toàn bộ tài liệu của đơn hàng sẽ được phòng quản lý đơn hàng tiếp nhận, nghiên cứu và xử lý trước khi chuyển sang phòng kỹ thuật. Để sau đó, cùng phối hợp với nhân viên phòng kỹ thuật phân tích các thông tin và các yêu cầu kỹ thuật của mã hàng. - Đơn đặt hàng kèm theo sản phẩm mẫu, bảng tiêu chuẩn kỹ thuật, tất cả các bộ mẫu cắt của các cỡ vóc trong lô hàng Với mỗi mã hàng, trưởng phòng kỹ thuật phân loại, giao nhiệm vụ cho nhân viên của mình thực hiện: nghiên cứu vật liệu sử dụng đối với mã hàng đó, nghiên cứu yêu cầu của khách hàng, thiết kế mẫu,may mẫu đối, giác sơ đồ… Quá trình thiết kế mẫu có thể qua các bước sau: sáng tác mẫu chào hàng → thiết kế mẫu mỏng chế thử → thết kế mẫu chuẩn (mẫu cứng) → thiết kế mẫu sơ đồ cắt → xây dựng định mức nguyên - phụ liệu → xây dựng phương pháp công nghệ gia công → xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật. Trường hợp đơn hàng có bảng thông số tiêu chuẩt kỹ thuật, sản phẩm mẫu và bộ mẫu cắt, thì phòng kỹ thuật tiến hành cắt và may mẫu đối. Sau những phản hồi của khách hàng, cho đến khi mẫu đối được chấp nhận thì mới tiến hành các bước công việc tiếp theo. Mẫu sáng tác nếu được chấp nhận dưới hình thức ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với số lượng cụ thể, thời gian giao hàng thì được tiến hành triển khai sản xuất. Trong nhiều đơn hàng, trong đơn hàng khách hàng đã gửi bẳng tiêu chuẩn kỹ thuật, mẫu mỏng, khi đó ta không cần phải thiết kế mẫu mỏng thay vào đó là kiểm tra kích thước xem đã phù hợp chưa? Còn đối với những mã hàng chỉ có đơn đặt hàng, ta có các bước quy trình thiết kế mẫu mỏng như sau: - Thí nghiệm xác định độ co của vải do tác động của các yếu tố: độ ẩm, nhiệt độ, các tính chất cơ lý trong điều kiện sản xuất Nhân mẫu: là quá trình thiết kế mẫu chuẩn của các cỡ số còn lại. Cơ sở nhân mẫu: căn cứ vào bộ mẫu đã qua chế thử và khách hàng đã đồng ý; dựa trên mẫu cứng của cỡ số trung bình; dựa vào độ chênh lệch của các số đo của chi tiết khi chuyển từ cỡ này sang cỡ khác. Quy trình nhân mẫu: xác định trục làm chuẩn hoặc điểm lam chuẩn, xác định các điểm trên chi tiết dịch chuyển như thế nào theo hai hướng của trục tọa độ vuông góc Oxy. Độ dịch chuyển của các điểm đó được tính toán trong thiết kế định hình các chi tiết sản phẩm. Nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin, công việc thiết kế mẫu mỏng và nhảy mẫu được thực hiện một cách dễ dàng và nhanh chóng, nhờ hệ thống thiết kế và giác sơ đồ GGT – Gerber Garment Technology. Lúc này, công việc nhân mẫu chỉ đơn thuần là nhập số liệu nhảy tại các điểm trên chi tiết, từ mẫu thiết kế ban đầu, máy tính sẽ làm nốt công việc còn lại là đưa ra các mẫu nhảy của các cỡ số còn lại. Thiết kế sơ đồ cắt: nhằm mục đích cung cấp mẫu cắt cho tổ cắt, để dựa vào đó đề ra phương hướng trải vải cho phù hợp và cắt vải tiết kiệm. Sơ đồ cắt hay còn gọi là mẫu giác sơ đồ, là sự sắp xếp các chi tiết của một sản phẩm hoặc một vài sản phẩm cùng mẫu mã lên trên một khổ giấy tượng trưng cho khổ vải sao cho đảm bảo tính chất, độ lệch canh sợi cho phép.  Hình thức giác đối đầu: các mẫu cứng của các chi tiết trong quá trình sắp xếp chỉ cần đúng canh sợi, trong phạm vi độ lệch canh sợi cho phép, không cần chú ý đến hướng đặt.  Hình thức giác đuổi: các mẫu cứng của các chi tiết khi sắp xếp ngoài việc căn đúng đường canh sợi, còn phải xác định đúng hướng đặt của các chi tiết, sao cho đúng chiều của hình trang trí trên mặt vải, xuôi theo chiều tuyết…  Hình thức giác sơ đồ vừa đối xứng vừa đuổi: các chi tiết là các bộ phận đối xứng trên cơ thể, các mẫu cứng của các chi tiết khi sắp xếp phải đảm bảo kết cấu của hình trang trí cũng có tính đối xứng. Phương pháp này áp dụng đối với những loại vải có hình trang trí có hướng và lặp lại theo chu kỳ nhất định, các loại vải kẻ… Các loại sơ đồ cắt: để hạ mức tiêu hao nguyên liệu xuống mức thấp nhất, để triệt tiêu các hao phí phát sinh trong quá trình trải, cắt công việc thiết kế sơ đồ cắt có vai trò hết sức quan trọng, cho nên để đảm bảo nămg suất thì phải giảm số lượng sơ đồ xuống mức thấp nhất.  Sơ đồ đơn: là sơ đồ chỉ sử dụng để giác các chi tiết của một loại sản phẩm, để cắt những tấm vải ngắn hai đầu tấm.  Sơ đồ ghép: là sơ đồ ghép phối hợp các chi tiết của từ 2 sản phẩm trở lên, có thể là sản phẩm cùng cỡ hoặc khác cỡ nhưng phải cùng mã hàng, có cùng tính chất vải.  Sơ đồ phối hợp cả sơ đồ đơn và sơ đồ ghép: để trong quá trình trải vải, ta có thể sử dụng được những tấm vải có độ dài khác nhau, trên cùng một bàn cắt và đảm bảo kế hoạch sản xuất.  Mô tả mẫu: được mô tả một cách đơn giản bằng hình vẽ và thuyết minh, giúp nhận biết sản phẩm một cách dễ dàng và phân biệt với các sản phẩm cùng sản xuất. Mũi may vắt sổ được hình thành do các chỉ của kim cùng với các chỉ của móc tạo thành những móc xích khóa nhau ở mặt dưới, mặt trên và các cạnh mép nguyên liệu đồng thời bọc lấy mép nguyên liệu, làm cho mép vải được xén không bị sổ ra. Dòng máy vắt sổ MO-6700 được đánh giá khác biệt so với các máy vắt sổ thông thường thể hiện ở đặc điểm: nó có tốc độ cao, cơ cấu trục kim và móc trên đã được thiết kế lại không cần bôi trơn. Công nghệ đầu khô tiên tiến như bề mặt của các bộ phận chính được xử lý đặc biệt và phương thức bôi mỡ góp phần làm tăng độ bền cho máy. Phân loại dòng máy MO-6700: theo loại chính là MO-6700D và MO-6700S, máy vắt sổ MO-6700S được trang bị thêm cơ chế giật chỉ kim và giật chỉ móc nên máy đáp ứng tốt cho các loại vải từ mỏng đến dày với sức căng chỉ thấp. Công nghệ khô là công nghệ tiên tiến, chẳng hạn như ứng dụng trong việc xử lý bề mặt cho các ổ trục chính, so sánh với phương pháp tra dầu cổ điển thì công nghệ khô được công nhận là bền hơn. Máy vắt sổ MO-6714D-30P và MO-6716D-30P, có thể vắt sổ được lớp vật liệu dày, gồm nhiều lớp: máy được cung cấp đầy đủ thiết bị để có thể chỉnh lại các trục căng chỉ, và những phụ tùng cung cấp để đạt được hiệu quả là chống nhăn mép vật liệu khi vắt sổ những vật liệu khó may hoặc những vật liệu tổng hợp mới. Với hệ thống máy này đảm bảo tạo ra được các đường vắt sổ chất lượng và đẹp mà không cần phải điều chỉnh nhiều và phức tạp. Trên đây, em chỉ trinh bày một phần nhỏ trong tổng thể các trang thiết bị, máy móc kỹ thuật của công ty, để coa một cái nhìn sâu sắc hơn về máy vắt sổ tiến hành đối với vải dệt kim. Máy được trang bị cơ chế giật chỉ kim và giật chỉ móc, nên máy thích ứng tốt cho các loại vải từ mỏng đến dày với sức căng chỉ thấp.