Kết quả và khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam qua một số nguồn tư liệu

Thể loại: Lịch sử Văn hoá
Lượt xem: 112,646Lượt tải: 5Số trang: 17

Mô tả tài liệu

Kết quả và khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam qua một số nguồn tư liệu trình bày việc phân loại và phân tích theo 5 nội dung: Đối tượng nghiên cứu; Số lượng bài nghiên cứu; Tác giả nghiên cứu; Địa bàn nghiên cứu; Tộc người nghiên cứu,... Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Tóm tắt nội dung

100 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 PHẠM VĂN THÀNH* NGUYỄN VĂN PHẢI** KẾT QUẢ VÀ KHUYNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM QUA MỘT SỐ NGUỒN TƯ LIỆU Tóm tắt: Dựa trên thống kê công trình nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam đăng trên 5 tạp chí: Triết học, Dân tộc học, Nghiên cứu Lịch sử, Cộng sản, Nghiên cứu Tôn giáo từ năm 1975 đến năm 2013, bài viết phân loại và phân tích theo 5 nội dung: đối tượng nghiên cứu, số lượng bài nghiên cứu, tác giả nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu, tộc người nghiên cứu nhằm góp phần tổng kết kết quả và khuynh hướng nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam trong vòng 40 năm gần đây. Từ khóa: Kết quả, khuynh hướng, nghiên cứu, tôn giáo, Việt Nam. 1. Đặt vấn đề Tôn giáo ở Việt Nam từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trải qua thời gian, số lượng bài viết về các khía cạnh khác nhau của các tôn giáo ở Việt Nam đã khá nhiều. Tuy nhiên, cho đến nay, ngoài Tổng Mục lục hằng năm của các tạp chí, có rất ít các bài viết hay công trình nghiên cứu mang tính tổng quan về tình hình nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tình hình nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam, xác định các chủ đề nghiên cứu được quan tâm và hi vọng gợi mở hướng nghiên cứu trong thời gian tới. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung vào việc thu thập, phân tích số liệu các bài viết được đăng trên 5 tạp chí (Tạp chí Triết học, Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo) từ năm 1975 đến hết năm 2013 (chắc chắn là việc thu thập số lượng bài viết của chúng tôi chưa hoàn toàn đầy đủ), và tập trung vào các *Giảng viên bộ môn Nhân học, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. ** Học viên sau đại học khoa Nhân học, Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 101 nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam, không đề cập đến các bài viết về tôn giáo ở nước ngoài. Do tính đa dạng và phức tạp của vấn đề nên những phân loại, số lượng và tỉ lệ của chúng tôi chỉ mang tính tương đối. 2. Nội dung Trên cơ sở việc thu thập, phân tích số liệu các bài được đăng trên 5 tạp chí từ năm 1975 đến hết năm 2013, chúng tôi phân loại theo 5 tiêu chí: năm công bố, tôn giáo cụ thể, tác giả, khu vực nghiên cứu, các loại hình tôn giáo truyền thống. Qua thống kê, chúng tôi thu thập được 1.430 bài viết liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam (trong đó: tạp chí Nghiên cứu tôn giáo có 907 bài, chiếm 63,4%; tạp chí Triết học có 187 bài, chiếm 13,1%; tạp chí Dân tộc học có 186 bài, chiếm 13%; tạp chí Nghiên cứu Lịch sử có 91 bài, chiếm 6,4%; tạp chí Cộng sản có 59 bài, chiếm 4,1%). Chúng tôi tạm thời chia ra làm 3 nhóm vấn đề lớn: Nhóm một là các bài viết về tôn giáo nói chung; Nhóm hai là các bài viết về các tôn giáo cụ thể; Nhóm ba là các bài viết về các tôn giáo truyền thống. Kết quả thống kê cho thấy, trong 3 nhóm vấn đề lớn có sự chênh lệch về số lượng các bài viết. Cụ thể: Về tôn giáo nói chung: 523 bài, chiếm 36,6%; Về các tôn giáo cụ thể: 756 bài, chiếm 52,9%; Về các tôn giáo truyền thống: 151 bài, chiếm 10,5 %. (1.430 bài =100%) 36.6% 52.9% 10.5% Tỉ lệ bài nghiên cứu về ba nhóm vấn đề lớn Viết về tôn giáo, tín ngưỡng chung Viết về các tôn giáo cụ thể Viết về các tín ngưỡng cụ thể 2.1. Về năm công bố Trong vòng 39 năm (1975 - 2013), có tổng số 1.430 bài viết có liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam. Trung bình mỗi năm có 36,7 bài. Tuy nhiên, số lượng bài viết của từng năm có sự chênh lệch rất lớn. 102 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 Bảng 1: Thống kê bài viết theo từng năm Stt Năm Số lượng bài 1 1975 5 2 1976 2 3 1977 6 4 1978 5 5 1979 3 6 1980 2 7 1981 1 8 1982 3 9 1983 2 10 1984 1 11 1985 2 12 1986 6 13 1987 3 14 1988 14 15 1989 3 16 1990 8 17 1991 11 18 1992 16 19 1993 16 20 1994 19 21 1995 12 22 1996 18 23 1997 17 24 1998 21 25 1999 34 26 2000 43 Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 103 27 2001 71 28 2002 67 29 2003 69 30 2004 70 31 2005 64 32 2006 65 33 2007 114 34 2008 121 35 2009 96 36 2010 85 37 2011 118 38 2012 114 39 2013 103 Trong 39 năm, thì năm 2008 là năm có số lượng bài cao nhất với 121 bài. Bên cạnh đó, cũng có 4 năm có số lượng trên 100 bài (năm 2007 có 114 bài, năm 2011 có 118 bài, năm 2012 có 114 bài, năm 2013 có 103 bài). Số liệu trên cho thấy, số lượng bài nghiên cứu có diễn biến tăng giảm không đồng đều, nhưng xu hướng chung là tăng dần theo các năm. Bảng 2: Thống kê bài viết theo giai đoạn 10 năm Giai đoạn Số bài Tỉ lệ % 1975 - 1984 30 2,0 1985 - 1994 98 6,9 1995 - 2004 422 29,6 2005 - 2013 880 61,5 Tổng cộng 1.430 100 Số liệu ở Bảng 2 cho thấy giai đoạn sau thường gấp đôi, gấp ba giai đoạn trước (Cụ thể: giai đoạn từ năm 1985 - 1994 gấp 3,2 lần so với giai đoạn 1975 -1984, giai đoạn từ năm 1995 - 2004 gấp 4,3 lần so với giai đoạn 1975 -1984, và từ năm 2005 -2013 gấp 2,1 lần so với giai đoạn 1995 - 2004). Điều này cho thấy vấn đề tôn giáo ở Việt Nam đã được 104 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 quan tâm nghiên cứu nhiều từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX và phát triển mạnh trong giai đoạn hiện nay. Nguyên nhân có thể do: Thứ nhất, nhận thức, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo đã có những bước đột phá; Thứ hai, đã có cơ quan chuyên nghiên cứu về tôn giáo (Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), hoặc cũng còn phụ thuộc vào điều kiện bối cảnh của từng thời kỳ. 2.2. Nghiên cứu các tôn giáo cụ thể Kết quả thu thập và xử lý số liệu cho thấy các tạp chí đã đề cập hầu hết các tôn giáo ở Việt Nam, gồm 15 tôn giáo. Tổng số có 756 bài, chiếm 52,9% trong tổng số 1.430 bài. Chúng tôi tạm thời phân thành 8 nội dung: 1. Quá trình du nhập, phát triển, hoạt động; 2. Tiếp xúc và ảnh hưởng; 3. Nội dung giáo lý, giáo luật; 4. Tổ chức, giáo hội, nghi lễ; 5. Nhà nước - tôn giáo - dân tộc; 6. Nhân vật tôn giáo; 7. Cơ sở (biểu tượng) tôn giáo; 8. Vấn đề khác. Số lượng bài viết và nội dung nghiên cứu cụ thể của từng tôn giáo có sự chênh lệch rất lớn. Phật giáo có số lượng bài viết cao nhất: 364/1.430 bài, chiếm 25,5%. Nội dung nghiên cứu từng lĩnh vực của Phật giáo khá đồng đều, cao nhất là các bài viết về quá trình du nhập, phát triển, hoạt động có 112 bài chiếm 30,8% trên tổng số 364 bài. Công giáo có số lượng bài cao thứ hai sau Phật giáo, có 218/1.430 bài, chiếm 15,2%. Nội dung nghiên cứu từng lĩnh vực của Công giáo không đồng đều, cao nhất là các bài viết về quá trình du nhập, phát triển, hoạt động có 61/218 bài, chiếm 28%, lĩnh vực ít được nghiên cứu nhất là về nội dung giáo lý, giáo luật, chỉ có 7 bài chiếm 3,2% và cơ sở (biểu tượng) tôn giáo có 6 bài chiếm 2,8%. Số lượng bài viết về các tôn giáo khác ít dần và đồng thời các nội dung nghiên cứu cũng giảm theo. Cụ thể, Islam giáo có 13/1.430 bài chiếm Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 105 0,9%, Tin Lành có 25/1.430 bài chiếm 1,8%. Những bài viết về hai tôn giáo này chủ yếu đề cập tới quá trình du nhập, phát triển, hoạt động, giao thoa và ảnh hưởng. Đạo Cao Đài có 20/1.430 bài, chiếm 1,4%. Số lượng bài viết tuy ít nhưng trải khá đều các nội dung nghiên cứu. Khổng giáo có số lượng bài nghiên cứu tương đối nhiều: 90/1.430 bài, chiếm 6,7%. Nội dung nghiên cứu của từng lĩnh vực trong Khổng giáo cũng không đều. Nội dung được nghiên cứu nhiều nhất là quá trình du nhập, phát triển, hoạt động: 22 bài, chiếm 24,4%; nghiên cứu tiếp xúc và ảnh hưởng của Khổng giáo: 15 bài, chiếm 16,7%. Các bài viết về Đạo giáo không nhiều và cũng không đều ở các nội dung nghiên cứu, có 10/1.430 bài chiếm 0,7%. Các tôn giáo khác có số lượng bài viết ít và thậm chí không có bài viết nào. Cụ thể: Phật giáo Hòa Hảo có 2 bài chiếm 0,14%; Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 4 bài chiếm 0,28%; Bửu Sơn Kỳ Hương có 5 bài viết chiếm 0,35%; Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1 bài chiếm 0,07%; Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo có 1 bài chiếm 0,07%; Minh Lý đạo - Tam Tông miếu không có bài nào; Đạo Bahai’i có 1 bài chiếm 0,07%; Bàlamôn giáo có 2 bài chiếm 0,14%. Những bài viết về các tôn giáo này chủ yếu đề cập tới quá trình du nhập, phát triển, hoạt động. Những nội dung khác có ít hoặc không đề cập đến. Những con số nêu trên cho thấy: Tôn giáo được nghiên cứu nhiều nhất ở Việt Nam là Phật giáo, tiếp đến là Công giáo. Các tôn giáo còn lại đều mới chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu và đề cập trong những năm gần đây. 2.3. Về tác giả nghiên cứu Đội ngũ nghiên cứu rất đông đảo. Số lượng các bài viết giữa các tác giả cũng có sự khác nhau. Số liệu thống kê cho thấy có 677 tác giả, trong đó 663 tác giả là người Việt Nam, 14 tác giả là người nước ngoài. Số lượng bài viết trên 5 tạp chí khoa học chuyên ngành cho thấy: số tác giả có từ 1 đến 4 bài có 627 người, chiếm 92,6%. Số tác giả có từ 5 đến 9 bài có 31 người, chiếm 4,6%; từ 10 đến 15 bài có 13 người, chiếm 1,9%; từ 16 bài trở lên có 6 người, chiếm 0,9%. Số liệu trên cho thấy, số tác giả có từ 1 đến 4 bài chiếm tỉ lệ cao nhất; từ 5 đến 9 bài không nhiều; từ 10 đến 15 bài ít; từ 16 bài trở lên là rất ít. Dưới đây là bảng thống kê các tác giả phân loại theo số lượng bài viết và nội dung nghiên cứu. 106 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 (Mã hóa: L1: Lý luận tôn giáo và lí luận chung; L2: Lý luận tôn giáo gắn với các tộc người; PG: Phật giáo; CG: Công giáo; KG: Khổng giáo; CĐ: Đạo Cao Đài; Is: Islam giáo) Bảng 3: Các tác giả và nội dung nghiên cứu chính (từ 5 - 9 bài) Stt Tên tác giả Số bài Nội dung 1. Minh Anh 8 KG 2. Lê Ngọc Canh 5 PG 3. Lê Anh Dũng 9 CĐ 4. Đặng Thế Đại 6 L1 5. Nguyễn Tất Đạt 6 PG 6. Mộng Đắc 6 PG 7. Nguyễn Đại Đồng 6 PG 8. Vũ Trường Giang 6 L2 9. Hồ Trọng Hoài 5 L1 10. Nguyễn Quang Hưng 5 L1 11. Tạ Quốc Khánh 5 PG 12. Lê Thị Lan 7 PG, KG 13. Võ Phương Lan 7 PG, KG 14. Trần Hồng Liên 6 PG 15. Đoàn Triệu Long 9 CG 16. Tạ Long 5 L1 17. Nguyễn Văn Minh 9 L2 18. Văn Món 6 L2 19. Nguyễn Thị Minh Ngọc 5 PG 20. Nguyễn Xuân Nghĩa 9 L1 21. Bá Trung Phụ 5 PG, Is 22. Vương Duy Quang 7 L2 23. Nguyễn Ngọc Quỳnh 5 PG 24. Lý Hành Sơn 6 L2 Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 107 25. Trần Tiến Thành 6 PG, CĐ 26. Hồ Bá Thâm 5 L1 27. Ngô Đức Thịnh 6 L1 28. Phạm Huy Thông 8 CG 29. Lê Hữu Tuấn 5 PG 30. Trần Nguyên Việt 7 PG, KG 31. Nguyễn Thanh Xuân 6 CĐ Bảng 4: Các tác giả và nội dung nghiên cứu chính (10 - 15 bài) Stt Tên tác giả Số bài Nội dung 1. Lê Cung 11 PG 2. Nguyễn Mạnh Cường 14 PG, CG 3. Ngô Quốc Đông 12 CG 4. Lê Đức Hạnh 11 L1, CG 5. Nguyễn Hùng Hậu 10 PG, KG 6. Đỗ Lan Hiền 14 L1, PG, CG 7. Nguyễn Duy Hinh 11 PG 8. Nguyễn Văn Kiệm 10 CG 9. Nguyễn Phú Lợi 14 L1, CG 10. Nguyễn Đức Lữ 14 L1, PG, CG 11. Nguyễn Đức Sự 11 PG, KG 12. Hoàng Thị Thơ 10 PG 13. Nguyễn Tài Thư 14 PG, KG Bảng 5: Các tác giả và nội dung nghiên cứu chính (>=16 bài) Stt Tên Tác giả Số bài Nội dung 1. Nguyễn Hồng Dương 45 CG 2. Lê Tâm Đắc 20 PG 3. Đỗ Quang Hưng 49 L1, CG 4. Hà Thúc Minh 16 L1, PG, KG 108 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 5. Nguyễn Quốc Tuấn 18 L1, PG 6. Đặng Nghiêm Vạn 16 L1 Trong tổng số 50 tác giả liệt kê trên, có 15 người nghiên cứu các vấn đề lý luận chung và lý luận về quan điểm, chính sách tôn giáo; 26 người nghiên cứu về Phật giáo; 10 người nghiên cứu về Công giáo; 9 người nghiên cứu về Khổng giáo; 5 người nghiên cứu về tôn giáo các dân tộc thiểu số. Những con số trên cũng cho thấy, đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam đã hình thành, nhưng không nhiều và chỉ tập trung vào một số tôn giáo chiếm ưu thế. 2.4. Về khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu cũng là một vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu các tôn giáo ở Việt Nam. Trong tổng số 1.430 bài, có 115 bài viết về vùng/miền, chiếm 8,0%, nhưng cũng có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng miền. Bảng 6: Phân loại các vùng/miền địa lý được nghiên cứu Bảng thống kê trên cho thấy, số lượng bài giữa các miền có sự chênh lệch nhau rõ rệt. Miền Bắc có số lượng bài nghiên cứu nhiều nhất (17 bài), tiếp sau là Miền Nam (15 bài) và thấp nhất là Miền Trung (2 bài). Có thể Miền Bắc là miền có nhiều tộc người sinh sống, mà mỗi tộc người lại có truyền thống tôn giáo riêng, nên các khía cạnh thuộc tôn giáo cũng đa dạng để nghiên cứu. Mặt khác, Miền Bắc là nơi có trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,… của cả nước nên có thể đội ngũ nghiên cứu tôn giáo ở miền này đông đảo hơn. Stt Khu vực địa lý (vùng/miền) Số bài 1 Trung du và miền núi Bắc Bộ 17 2 Miền Trung 2 3 Miền Nam 15 4 Đồng bằng Sông Hồng 7 5 Đồng bằng sông Cửu Long 12 6 Nam Bộ 40 7 Tây Nguyên 20 Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 109 Bên cạnh sự khác nhau giữa các miền, thì giữa các vùng cũng có sự chênh lệch về số bài nghiên cứu. Vùng Nam Bộ là vùng có số lượng các bài nghiên cứu nhiều nhất (40 bài), tiếp sau là vùng Tây Nguyên (20 bài), các vùng còn lại thì số lượng bài nghiên cứu ít hơn. Vùng Nam Bộ và Tây Nguyên có số lượng bài viết nghiên cứu nhiều có thể là do hai vùng này có nhiều loại hình tôn giáo, và hơn nữa ở hai vùng này, độ đậm đặc của Công giáo và Tin Lành cao hơn các vùng khác. Tuy nhiên, chúng tôi muốn chi tiết hơn về số lượng bài đề cập đến các tỉnh/thành phố cụ thể. Số liệu thống kê cho thấy có 177 bài, chiếm 12,4% trong tổng số 1.430 bài nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam đề cập đến đến 41 tỉnh/thành phố, trong đó số lượng các bài nghiên cứu về từng tỉnh/thành cũng có sự chênh lệnh nhau nhiều. Bảng 7: Phân loại các tỉnh /thành phố được nghiên cứu Stt Tỉnh/Thành phố Số bài 1. Bà Rịa - Vũng Tàu 2 2. Bắc Giang 2 3. Bắc Kạn 3 4. Bắc Ninh 3 5. Bến Tre 1 6. Bình Dương 2 7. Cà Mau 1 8. Cao Bằng 3 9. Đà Nẵng 5 10. Đăk Lăk 2 11. Đồng Nai 8 12. Hà Giang 2 13. Hà Nội 24 14. Hà Tây 3 15. Hải Phòng 2 16. Hòa Bình 5 17. Khánh Hòa 2 110 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 18. Kiên Giang 1 19. Kon Tum 10 20. Lai Châu 2 21. Lâm Đồng 4 22. Lạng Sơn 3 23. Lào Cai 9 24. Nam Định 4 25. Nghệ An 9 26. Ninh Thuận, Bình Thuận 13 27. Phú Thọ 3 28. Quảng Nam 5 29. Quảng Ngãi 3 30. Quảng Ninh 2 31. Sóc Trăng 3 32. Sơn La 8 33. Thái Bình 4 34. Thái Nguyên 3 35. Thanh Hóa 7 36. Thừa Thiên - Huế 4 37. Tp. Hồ Chí Minh 4 38. Trà Vinh 2 39. Tuyên Quang 1 40. Vĩnh Long 1 41. Vĩnh Phúc 2 Bảng trên cho thấy, các tỉnh/thành phố được nghiên cứu thuộc khu vực Miền Bắc có 20, với tổng cộng 88 bài, trong đó số lượng bài nghiên cứu về Thành phố Hà Nội là nhiều nhất (24 bài); tiếp sau là tỉnh Lào Cai (9 bài); tỉnh Sơn La (8 bài), còn các tỉnh khác có số lượng bài ít hơn, từ 1 đến 5 bài. Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 111 Khu vực Miền Trung có 10 tỉnh/thành phố được nghiên cứu, với tổng cộng 51 bài, trong đó tỉnh Kon Tum (10 bài), Nghệ An (9 bài) và Thanh Hóa (7 bài) là những tỉnh có số lượng bài viết nhiều nhất, còn các tỉnh khác có số lượng bài ít hơn, với số lượng bài từ 1 đến 5 bài. Khu vực Miền Nam có 11 tỉnh/thành phố được nghiên cứu, với tổng số 38 bài, trong đó các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận (13 bài), Đồng Nai (8 bài) là những tỉnh có số lượng bài viết nhiều nhất, còn các tỉnh khác cũng có số lượng bài ít, từ 1 đến 5 bài. So sánh giữa các tỉnh/thành phố được nghiên cứu thì Thành phố Hà Nội có số lượng bài viết nhiều nhất. So sánh các tỉnh thành/ phố thuộc từng miền thì Miền Bắc có số bài và số tỉnh thành được nghiên cứu cũng nhiều nhất. Cả nước có 64 tỉnh/ thành phố, thì các nghiên cứu mới đề cập đến 41 tỉnh/ thành phố, còn 23 tỉnh thành/phố chưa được nghiên cứu. 2.5. Về các tôn giáo truyền thống 2.5.1. Các loại hình tôn giáo truyền thống Bảng 8: Các loại hình tôn giáo truyền thống ở Việt Nam Stt Loại hình Số bài Cụ thể Số bài 1 Thờ cúng tổ tiên 7 Thờ cúng tổ tiên nói chung 6 Nghi lễ dòng họ 1 2 Nghi lễ vòng đời 37 Nghi lễ vòng đời nói chung 4 Sinh đẻ 3 Lễ cưới 11 Tang ma 16 Cấp sắc 3 3 Nghề nghiệp 12 Nông nghiệp 8 Thờ tổ nghề 1 Thờ cá ông 3 4 Thờ thần 29 Thờ thành hoàng làng 4 Mẫu 19 Anh hùng dân tộc 2 Thổ thần, thổ địa 3 Thờ đá 1 5 Lễ hội truyền thống 47 Ma thuật 5 Lễ nghi liên quan đến sắn bắn 2 112 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 6 Các loại hình khác 23 Then 1 Hát Dô 1 Mo 1 Cúng sao giải hạn 1 Ma quỷ 1 Lễ cầu an 1 Lễ nghi liên quan đến nhà cửa 5 Thờ cây 1 Theo kết quả thống kê trên, có tổng cộng 151 bài viết về tôn giáo truyền thống, chiếm 10,5 % trong tổng số 1.430 bài viết về tôn giáo ở Việt Nam. Trong đó, lễ hội truyền thống có 47 bài, chiếm tỉ lệ cao nhất (31,1%); Nghi lễ vòng đời có 37 bài (23,0%), trong đó có có 16 bài về nghi lễ tang ma, chiếm 47,1% ; Thờ cúng tổ tiên có 7 bài, chiếm 5,6% và chiếm tỉ lệ ít nhất so với các nghi lễ khác. 2.5.2. Về các tộc người Có 33 tộc người được nghiên cứu, với tổng số 202 bài, chiếm 14,1% trong tổng số 1.430 bài viết về tôn giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng bài nghiên cứu về các tộc người cũng có sự chênh lệch rất lớn. Bảng 9: Phân loại bài nghiên cứu theo tộc người Stt Tên tộc người Số bài 1. Người Ba na 3 2. Người Bru - Vân kiều 3 3. Người Cao Lan 4 4. Người Chăm (Chàm) 32 5. Người Chơro 1 6. Người Churu 1 7. Người Chứt 1 8. Người Co 1 9. Người Cơtu 1 10. Người Dao 12 11. Người Ê Đê 1 12. Người Giarai 4 Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 113 13. Người Giáy 1 14. Người Hà Nhì 1 15. Người Hmông 14 16. Người Hoa 3 17. Người Khmer 8 18. Người Khơ Mú 2 19. Người La Ha 1 20. Người Lô Lô 2 21. Người Mạ 1 22. Người Mảng 2 23. Người Mnông 1 24. Người Mường 7 25. Người Nùng 10 26. Người Raglai 1 27. Người Sán Dìu 2 28. Người Tày 17 29. Người Thái 13 30. Người Việt (Kinh) 49 31. Người Xinh Mun 2 32. Người Xơđăng 1 33. Người Xtiêng 1 Bảng thống kê cho thấy, có 2 tộc người có số lượng bài nghiên cứu trên 30 bài: Người Việt (Kinh): 49 bài, người Chăm (Chàm): 32 bài. Có 5 tộc người có số lượng bài viết từ 10 đến 20 bài: người Tày: 16 bài; người Hmông: 14 bài; người Thái: 13 bài; người Dao: 12 bài; người Nùng: 10 bài. Có 2 tộc người có số lượng từ 5 - 9 bài: người Mường: 7 bài; người Khmer: 8 bài. Các tộc người có số lượng dưới 5 bài: 25 tộc người. Tìm hiểu chủ đề tôn giáo được nghiên cứu ở các tộc người, chúng tôi nhận thấy: 114 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 - Trong số 49 bài nghiên cứu về người Kinh có 16 bài viết về tôn giáo chung chung; 10 bài về Công giáo; 6 bài về Phật giáo; Khổng giáo: 2 bài, Bửu Sơn Kỳ Hương: 1 bài; Thờ Mẫu: 3 bài; Cúng sao giải hạn: 1 bài; Tang ma: 1 bài; Lễ cưới: 3 bài; Lễ hội truyền thống: 3 bài; Hát Dô: 1 bài; Thờ cúng tổ tiên: 2 bài; Ma quỷ: 1 bài; Thờ Đá: 1 bài. - Có 32 bài viết về người Chăm (Chàm), trong đó viết về tôn giáo của người Chăm nói chung: 15 bài; Về loại hình tôn giáo cụ thể có 17 bài, gồm Islam giáo: 8 bài; Bàlamôn giáo 4 bài; Lễ hội truyền thống: 4 bài; Thờ Mẫu: 1 bài. - Nghiên cứu về người Tày có 17 bài, trong đó viết về tôn giáo của người Tày nói chung: 6 bài; Về loại hình tôn giáo cụ thể có 10 bài, gồm: Tang ma: 3 bài; Sinh nở: 1 bài; Lễ cầu an: 1 bài; Then: 3 bài; Lễ nghi liên quan đến nhà cửa: 1 bài; Lễ hội truyền thống: 2 bài. - Người Hmông có 14 bài, trong đó viết về tôn giáo nói chung: 2 bài; Tin Lành: 3 bài; Công giáo: 3 bài; Saman giáo: 1 bài; Lễ nghi liên quan nhà cửa: 1 bài; Lễ cúng chữa bệnh: 3 bài; Lễ cưới: 1 bài. - Người Thái có 13 bài, trong đó tôn giáo nói chung: 6 bài; Công giáo: 1 bài; Nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: 1 bài; Nghi lễ vòng đời: 2 bài; Thờ Thần nước: 1 bài; Lễ cưới: 1 bài; Lễ hội truyền thống: 1 bài. - Người Dao có 12 bài, trong đó tôn giáo nói chung: 5 bài; Lễ hội truyền thống: 1 bài; Lễ cưới: 3 bài; Lễ cấp sắc: 2 bài; Tang ma: 1 bài. - Người Nùng có 10 bài, trong đó tôn giáo nói chung: 4 bài; Then: 2 bài; Lễ nghi liên quan đến nhà cửa: 1 bài; Lễ hội truyền thống: 2 bài; Tang ma: 1 bài. - Người Khmer có 8 bài, trong đó có 3 bài viết về tôn giáo nói chung, 5 bài về Phật giáo. - Người Mường có 7 bài, trong đó có 2 bài về tang ma, 1 bài về thờ cây, 1 bài về lễ nghi liên quan đến sinh nở, 1 bài về nghi lễ cưới, 1 bài về lễ hội truyền thống; Mo: 1 bài. - Người Cao Lan có 4 bài: 2 bài về lễ hội truyền thống, 1 bài về lễ nghi liên quan đến vòng đời, 1 bài về nghi lễ múa hát . - Người Gia rai có 4 bài, trong đó, lễ hội truyền thống: 1 bài; Nghi lễ bỏ mả: 1 bài; Tang ma: 1 bài; Lễ cơm mới: 1 bài. Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Phải. Kết quả và khuynh hướng… 115 - Người Bru - Vân Kiều có 3 bài, trong đó 1 bài: lễ hội truyền thống; 1 bài: nghi lễ liên quan đến săn bắt; 1 bài: nghi lễ liên quan đến nhà cửa. - Người Bana có 3 bài, trong đó viết về tín ngưỡng chung 1 bài, nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: 1 bài; lễ hội truyền thống: 1 bài. - Người Hoa có 3 bài, trong đó viết về tín ngưỡng chung: 1 bài; Thờ Bà Thiên Hậu: 1 bài, thờ Quan Công: 1 bài. - Người Khơ Mú có 2 bài, trong đó liên quan đến nghi lễ nông nghiệp: 1 bài, lễ nghi liên quan đến dòng họ: 1 bài. - Người Xinh Mun có 2 bài: nghi lễ liên quan đến nông nghiệp: 1 bài, tang ma: 1 bài. - Người Mảng có 2 bài: nghi lễ liên quan đến sinh đẻ 1 bài, tang ma 1 bài. - Người Sán Dìu có 2 bài: tín ngưỡng chung 1 bài, lễ cấp sắc 1 bài. - Người Lô Lô có 2 bài: lễ cưới 1 bài, nghi lễ liên quan đến nhà cửa 1 bài. - Người Ê Đê có 1 bài về nghi lễ liên quan đến nông nghiệp. - Người Chu Ru có 1 bài về nghi lễ liên quan đến nông nghiệp. - Người Cơ Tu có 1 bài về tôn giáo nói chung. - Người Hà Nhì có 1 bài về lễ hội truyền thống. - Người Xtiêng có 1 bài về tôn giáo nói chung. - Người Xơ Đăng có 1 bài về nghi lễ làm chuồng trâu. - Người Giáy có 1 bài về lễ đặt tên con. - Người Mnông có 1 bài về lễ nghi vòng đời. - Người Co có 1 bài về tôn giáo nói chung. - Người Mạ có 1 bài về tang ma. - Người Chơ Ro có 1 bài về tang ma. - Người La Ha có 1 bài về lễ cưới. - Người Chứt có 1 bài về nghi lễ liên quan đến vòng đời. - Người Raglai có 1 bài về nghi lễ bỏ mả. 3. Một vài nhận xét Tổng quan trong 3 nhóm vấn đề nghiên cứu lớn có sự chênh lệch về số lượng và tỉ lệ các bài viết. Trong đó, các bài viết về các tôn giáo chiếm ưu thế ở Việt Nam và tôn giáo truyền thống nói chung có số lượng và tỉ lệ cao hơn cả. Các bài viết về các khía cạnh của tôn giáo truyền thống chiếm tỉ lệ nhỏ trong khi số lượng bài về các khía cạnh của tôn giáo chiếm ưu thế chỉ tập trung vào Phật giáo và Công giáo (phải chăng đây là hai tôn giáo có nhiều chủ đề thu hút các nhà nghiên cứu). 116 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2015 Số lượng bài công bố qua các năm tuy có sự chênh lệch về số lượng, nhưng đã tăng lên rõ rệt và nhiều khía cạnh của tôn giáo đã được nghiên cứu. Điều đó chứng tỏ vấn đề tôn giáo đã được coi trọng trong đời sống xã hội. Dẫu có thể chất lượng bài viết chưa đồng đều nhưng đây là dấu hiệu tích cực cần tiếp tục phát huy. Số lượng tác giả nghiên cứu tôn giáo ngày càng đông đảo và đa dạng, thu hút không chỉ tác giả trong và ngoài nước, mà còn có những tác giả theo một tôn giáo nào đó. Tuy nhiên, số lượng tác giả có nhiều bài viết cũng như các tác giả chuyên nghiên cứu về một khía cạnh của tôn giáo thì chưa nhiều. Các bài nghiên cứu tôn giáo truyền thống đã đa dạng hơn và mở rộng ra nhiều tộc người, nhưng cũng chỉ chú trọng đến lễ hội truyền thống và các nghi lễ vòng đời, và cũng chỉ đề cập tới 34/54 tộc người ở Việt Nam. Như vậy, ở lĩnh vực tôn giáo truyền thống còn có nhiều “khoảng trống” cần quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh đó, cũng còn có sự chênh lệch về vùng/miền nghiên cứu. Có thể thấy, khu vực Miền Bắc, Miền Nam được chú ý nghiên cứu, còn khu vực Miền Trung và Tây Nguyên khá mờ nhạt. Nhìn chung, số lượng bài nghiên cứu về tôn giáo được đăng tải trên 5 tạp chí ở Việt Nam từ năm 1975 đến hết năm 2013 cho thấy kết quả nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam đã có những bước tiến và đạt nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng còn có sự không đồng đều về đối tượng, lĩnh vực, khu vực và lực lượng nghiên cứu./. Abstract ACHIEVEMENT AND TREND IN RELIGIOUS STUDY IN VIETNAM THROUGH SOME DOCUMENTARY RESOURCES Basing on the statistics of religious study works in Vietnam through five reviews such as Philosophy, Anthropology, Historical Studies, Communist and Religious Studies from 1975 to 2013. This article collects and analyses five contents: object of study, number of articles, locality of study, researchers, ethnic groups in order to summarize the achievement and trend in religious study in Vietnam during 40 years. Keywords: Achievement, trend, religion, study, Vietnam.