Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ

Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ

Lượt xem: 127,835Lượt tải: 6Số trang: 30

Mô tả tài liệu

Bối cảnh Nhiều người đã ca ngợi Việt Nam là một thành công. Đại diện trước đây của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cùng với Giáo sư Joseph Stiglitz và nhiều quan chức tại Hà Nội đã nêu nhiều chỉ số phản ánh sự thành công: tốc độ tăng trưởng theo kế hoạch là 7%, tình hình xuất khẩu lành mạnh, có những tiến bộ về giảm nghèo, các chỉ số xã hội được cải thiện và lạm phát thấp. Việt Nam hiện là nước nhận vốn vay lớn thứ hai của Ngân hàng Thế giới – một...

Tóm tắt nội dung

khẩu lành mạnh, có những tiến bộ về giảm nghèo, các chỉ số xã hội được cải thiện và lạm phát Việt Nam hiện là nước nhận vốn vay lớn thứ hai của Ngân hàng Thế giới – một dấu hiệu cho thấy Việt Nam có cơ chế quản lý tốt và các triển vọng khả ngoài gần đạt tới con số 3 triệu và Việt Nam đang có nhiều thuận lợi do có ít rủi ro xảy Việt Nam có thể là một trong số những nền kinh tế “bình Một số người thì lại có thái độ thận trọng và lập luận rằng mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đã Vốn đầu tư cần có để tạo ra 1% tăng trưởng GDP đã tăng đang tăng, từ đó có thể tạo ra tình trạng di dân lớn vào các thành phố vốn không đủ cơ sở hạ Điều này có nghĩa là lương thấp và không có đủ công việc cho cả khu vực có năng suất lao động và mức lương cao hơn, triển vọng tăng trưởng và công nghệ lao động và mức tăng trưởng cao - đó cũng là khu vực sử dụng hiệu quả công nghệ để tạo ra Việt Nam đã có một thập kỷ rất thành công vào những năm 90: tăng trưởng rất nhanh trong tính rằng Việt Nam đạt mức tăng trưởng khoảng 5,5% mỗi năm, tức là bằng Ân Độ, và 6-7% trong năm 2003, tuy nhiên cũng còn những rủi ro của kinh tế thế giới và dịch Đây là mức tăng cao hơn nhiều quốc gia khác và 5. Đầu tư tư nhân: khu vực tư nhân chính thức trong nước là khu vực phát triển năng đi cùng với tỷ lệ nhập học tăng nhanh ở tất cả các cấp và những cải thiện về sức khoẻ Những thành tựu nêu trên là đáng kể và cũng đáng để các nhà lãnh đạo Việt Nam tự hào. dù không được liệt kê ở trên, nhưng cũng cần ghi nhận các thành công khác như việc tăng cơ sở hạ tầng và người Việt Nam bình thường cũng có nhiều của ăn của để có gì đáng ngạc nhiên nếu người Việt Nam là những người tỏ ra lạc quan nhất trong số 44 nước được Trung tâm Nghiên cứu Pew khảo sát về những kỳ vọng của người dân ở các Thành công của Việt Nam trong những năm 1998-2002 có thể so với mức trung bình của các Quốc tế (IMF) ước tính rằng mức tăng trưởng trung bình trong những năm này của các nước Nếu như sử dụng con số của ADB là 5,5% thì Việt Nam đạt mức thấp hơn xuất khẩu tính theo USD của các nước đang phát triển ở châu Á tăng 8%/năm trong khi xuất hơn trong xuất khẩu toàn cầu cho thấy Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên các thị trường Việc Việt Nam đạt được tỷ lệ xuất khẩu tăng như trên trong khi hàng xuất khẩu là 3 Có nhiều cách để đánh giá sự phát triển xã hội nhưng Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của UNDP hiện được Nếu như 1,0 là mức phát triển hoàn thiện thì mức của Việt Nam là 0,68, tức là tăng từ mức Mức này cao hơn của và thấp hơn một chút so với mức 0,72 của Trung khẩu thủy sản (tăng gần gấp đôi và đạt trên 2 tỷ USD) đã bù lại cho sự giảm sút của một số mặt hàng nông nghiệp và mức tăng như vậy của xuất khẩu thủy sản khó có thể lặp lại trong Sự tăng trưởng trong khu vực công nghiệp chế biến chắc chắn là nhanh nhưng chất lượng thì và phân bón vẫn được triển khai theo hướng trên dù rằng các dự án đó có thể sẽ đòi hỏi phải định xem trong số các đầu tư gần đây thì đầu tư nào có thể giảm được chi phí và đầu tư nào sẽ có những dấu hiệu là nguồn đầu tư này tăng nhanh nhưng sự tăng vọt thực sự xảy ra kể từ sau Vào năm 2001, tới 24 tỉnh có mức đầu tư tư nhân đạt ít nhất là 10 USD bình quân đầu người Như vậy, dạng đầu tư này đến được nhiều địa phương hơn so với FDI và Ví dụ, ở miền Núi phía Bắc, 7 trong số 16 tỉnh có mức đầu tư Một trong những tỉnh có mức đầu tư tư nhân bình quân đầu người thấp nhất là Sơn La, tỉnh có một con đường tốt nối với Hà Nội. năm 2001, mức đầu tư tư nhân tính theo đầu người của Thanh Hóa chỉ bằng 1/10 của Nghệ khăn nhưng chắc chắn rằng các tỉnh trong cùng một khu vực lẽ ra phải đạt được những kết Các chỉ số về sức khỏe cũng tốt lên với tuổi thọ trung bình đạt trên 68 tuổi và tỷ lệ tử 4 Việt Nam không phải là một nước xuất khẩu dầu lớn, nhưng đối với một số nước dầu lửa là mặt hàng xuất khẩu lên thì luôn phải đa dạng hóa danh mục mặt hàng xuất khẩu của mình và việc này sẽ giúp tránh được những vấn Có những trường hợp ngoại lệ - đó là “bốn con rồng” và Trung Quốc đã bệnh SARS mà cả sự đầu tư không thích đáng cho y tế ở nông thôn đã đưa đến rủi ro là tốc độ trưởng nhanh hơn và bền vững hơn bởi vì nền kinh tế đó có thể ứng phó hiệu quả hơn với các Có sự khác nhau lớn về diễn biến bệnh SARS ở Trung Quốc và Việt Nam. Các bác sĩ ở đó đã biết về sự xuất hiện của một loại bệnh có khả năng truyền nhiễm cao nhưng các quan chức lại không muốn công bố điều này và càng không muốn có những một chương trình thông tin công cộng mạnh mẽ và WHO đã nêu Việt Nam là nước đầu tiên có bệnh SARS và cũng là nước đầu tiên kiểm soát được căn bệnh hậu quả đối với kinh tế Trung Quốc sẽ là hàng chục tỷ đô la và đây cũng là cảnh báo tới năm 1997 và so với các nước khác thì tăng trưởng của Việt Nam cũng ở mức tương đối tốt vững tới mức nào – tức là những nguồn tạo ra tăng trưởng sẽ được tái tạo và tăng lên hay là sẽ không – tức là chiến lược đó nói chung có thỏa mãn được các vùng và nhóm dân cư khác nhau không hay là sẽ tạo ra những áp lực dẫn đến các chính sách kém hiệu quả hơn hoặc gây kinh tế là so sánh Việt Nam với những nơi tốt nhất chứ không phải là những nơi trung bình. Ví dụ, có thể so sánh với Trung Quốc, mặc dù so sánh như vậy thì Việt Nam khó mà hơn Rõ ràng là tốc độ tăng trưởng của Việt Nam bị chậm đi trong khi tốc độ của Trung Quốc lại Bảng về FDI bình quân đầu người cho thấy Việt Nam bắt đầu từ mức gần với mức của Trung mức trước đây của mình trong khi FDI vào Việt Nam vẫn dậm chân ở con số thấp hơn mức nước như trong năm 1997 thì FDI bình quân đầu người của Việt Nam phải tăng gấp đôi. đây chúng ta có thể nhắc lại một lần nữa là Trung Quốc và Việt Nam đều là những nền kinh tế chuyển đổi có thu nhập thấp và chịu tác động của những điều kiện kinh tế quốc tế gần giống So sánh Việt Nam với Trung Quốc có thể là việc làm không công bằng và thậm chí không Dù sao thì Trung Quốc cũng là một thị trường lớn và có những nét đặc thù ít nước Nhưng mặt khác, Việt Nam có lượng viện trợ nước ngoài bình quân đầu người lớn hơn, có lợi thế là nguồn thu đáng kể từ dầu lửa và nhận được từ 1-2 tỷ USD kiều hối hàng Đó là do việc áp dụng công nghệ và đầu tư vào nơi có xuất phát điểm thấp sẽ kỳ vọng rằng so với Trung Quốc thì Việt Nam phải có một số lợi thế thậm chí ngay cả khi xét tới việc Trung Quốc có được những lợi thế khác như quan hệ sắc tộc với Hồng Công, Đài chính Việt Nam. Từ 1995 đến 1997, Việt Nam tăng trưởng 8,8%/năm và đầu tư trung bình là Điều đó có nghĩa là Việt Nam cần 3,2 đơn vị đầu tư để tạo ra 1 đơn vị tăng đầu tư để có 1 đơn vị tăng trưởng; tỷ lệ này sẽ là 5:1 nếu dùng các số liệu của IMF. vào năm 2002, để tạo ra cùng một lượng tăng trưởng, lại cần một lượng đầu tư cao hơn những Có thể một lý do là sự sụt giảm của lượng FDI. hiệu quả thấp và các ngành công nghiệp nặng được lựa chọn chưa đúng thì không có gì là ngạc nhiên nếu cần phải có những “yêu cầu” vốn lớn hơn để tạo ra cùng một lượng tăng Một cách làm nữa để so Việt Nam với chính Việt Nam là trong lĩnh vực FDI. tố thuận lợi lẽ ra phải giúp được Việt Nam thu hút được nhiều FDI hơn - đó là sự ổn định về Mặc dù có những lợi thế như vậy, mức cam kết FDI đã giảm mạnh và hiện chỉ Lượng FDI chảy vào trong những năm 1995-2002 đạt 11 tỷ USD, trong đó có 3 tỷ USD là Có khoảng 400.000 việc làm trong các doanh nghiệp nước ngoài nhưng ra một việc làm mặc dù rằng ở các ngành công nghiệp nhẹ (có khoảng 2 tỷ USD đầu tư) thì liên doanh được hưởng mức bảo hộ cao và như vậy, về nhiều mặt, các liên doanh này cũng Không phải các đầu tư FDI đều có tác dụng tốt như nhau đối với tăng trưởng và việc làm – hộp ở phần sau về ngành đường sẽ cho Những số liệu này là sự kết hợp các số liệu đôi khi không thống nhất của IMF và Bộ Kế hoạch - Đầu nếu việc đầu tư bị trì hoãn quá lâu hoặc điều chỉnh theo hướng tăng lên nếu có các khoản tăng FDI chảy vào được dựa trên các ước tính của IMF gồm cả góp vốn chủ sở hữu của bên nước ngoài và vay FDI thực hiện gồm tất cả các loại vốn, trong đó có vốn đóng góp của đối tác Việt đại” theo cái nghĩa là một khu vực chiếm tỷ phần đầu tư lớn và thậm chí còn tăng lên thì lệ nhỏ về lao động trong giai đoạn này và tạo ra tốc độ tăng trưởng việc làm có 2% kể từ năm Mặc dù chiếm phần đầu tư lớn, nhưng tỷ trọng của các DNNN trong khu vực phi nông nghiệp lại giảm đi so với các thành phần kinh tế khác vốn được đầu tư ít hơn. của khu vực nhà nước trong công nghiệp giảm từ 50% năm 1995 xuống 37% vào tháng 1-3 Ngoài ra, các DNNN thường có mức bảo hộ rất cao và cần phải vay những lượng Trên một nửa vốn đầu tư của các DNNN là từ tín dụng nhà nước, trong Khi một quốc gia đưa phần lớn vốn đầu tư nhưng lại không đưa được lực lượng lao động vào tạo ra việc làm ổn định hơn nhiều và tạo ra một lượng sản phẩm lớn hơn trên mỗi đồng đầu Nếu các khu vực này có được vai trò lớn hơn thì sẽ có nhiều xuất khẩu hơn, nợ ít hơn và Kết quả của Chương trình này là 32 nhà máy đường được xây dựng mới với chi phí đầu tư 750 triệu USD, thêm vào đó còn là 350 triệu USD đầu tư cho cơ sở hạ tầng ở các vùng sản xuất đó đã có 12 nhà máy, vì vậy tổng số các nhà máy đường là 44, trong đó “15 nhà máy là DNNN của trung ương, 23 nhà máy là DNNN của tỉnh, 3 nhà máy là liên doanh với nước ngoài và 3 nhà máy giá này thì không nhà máy nào có thể trang trải được chi phí đầu tư, trong khi tất cả các nhà máy nhỏ Nếu như 1,1 triệu tấn đường được sản xuất, tức là vượt mức cầu trong nước tới 200.000 tấn, thì chi phí tạo trong khi chính phủ hoặc là hàng năm sẽ phải chi những khoản tiền lớn để trợ giá hoặc sẽ phải Trong giai đoạn có 1,75 triệu việc làm được tạo ra trong khu vực kinh tế tư nhân Cũng trong giai đoạn đó, đầu tư của các DNNN từ nguồn vốn của chính họ là 4 tỷ USD và số việc làm của DNNN về cơ bản không thay đổi. Sẽ là đi một lẽ nếu hầu hết đầu tư của nhà nước được sử dụng cho những đầu vào cần thiết, Đầu tư nhà nước cũng có thể được dùng để xây Chênh lệch là 11 USD/tấn và đây cũng là mức chênh lệch trung bình trong 5 năm Như vậy, đối với Việt Nam thì cả khâu lọc dầu dẫn vận chuyển dầu chỉ có giá trị trung bình Điều này có nghĩa là một nhà máy lọc dầu với công suất chế biến 6,5 triệu tấn/năm có giá trị gia tăng là 72 triệu USD/năm theo mức giá thế giới5, không tính đến chi phí dầu thô. Lãi suất cho vay phải cao hơn lãi suất tiền gửi và các khoản vay dài hạn có mức lãi suất nhưng tất nhiên thu nhập của nhà máy lọc dầu sẽ là bằng tiền đồng và phần lớn các nguồn vốn cũng Tác động về việc làm của nhà máy khi đã hoàn thành sẽ chỉ là 1000 công dùng cho khu vực tư nhân vay thì số việc làm tạo ra có thể sẽ là lập luận rằng Việt Nam “cần” một nhà máy lọc dầu để hiện đại hóa và công nghiệp hóa. lọc dầu ở gần TP.HCM, nên họ sẽ không đầu tư vào một nhà máy quá xa các trung tâm tiêu thụ lớn. Một lập luận khác là cần có nhà máy lọc dầu ở vị trí hiện nay để có sự đồng đều giữa các vùng và giúp tương đương như giá vượt trội của Dung Quất thì mỗi năm Việt Nam có thêm 130 triệu USD để chi Những quyết định đầu tư như dự án vừa nêu sẽ khiến Việt Nam mắc nợ nhiều hơn, tăng trưởng chậm đầu thu nhập thành thị đã cao hơn nhiều thu nhập ở nông thôn, mức tăng tuyệt đối trong thu 5 Sẽ có các thời điểm khi giá trị chênh lệch giữa giá dầu thô và dầu lọc cao hơn như trong những tháng đầu năm nhập ở thành thị trong giai đoạn này bằng 13 lần mức tăng ở nông thôn.6 Nếu có thêm vốn bón, thép, đường và xi măng thâm dụng vốn và có chi phí cao, nên tạo điều kiện cho các công ty tư nhân tiếp cận với các nguồn vốn lớn hơn qua những kênh ngân hàng hay công ty cho tăng trưởng thấp hơn có nghĩa là sẽ có ít tiến bộ hơn trong giảm nghèo, có thêm sức ép đối nhân lớn nhất vẫn là do giảm sút tốc độ tăng trưởng GDP và một kiểu hình phát triển dẫn đến thu nhập tập trung ở các thành phố và có ít việc làm mới so với trước đây. quá trình giảm nghèo, đầu tư tốt hơn về y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng phải đi cùng với việc Có lẽ người ta vẫn chưa thấy hết được tầm quan trọng của các chính sách kinh tế khôn ngoan Các tỉnh có các khả năng rất khác nhau trong việc tạo ra tăng trưởng mà không cần vài trường hợp khác thì địa phương có lượng đầu tư lớn là nhờ vào một vài dự án lớn hoặc có 6 Người ta nói rằng những biện pháp xử lý gần đây đối với người bán rong trên các phố ở Hà Nội một phần cũng vốn FDI chảy vào chỉ là 10-15 trong khi tổng lượng đầu tư là 120-150 có thể thấy một cách tương đối rõ ràng là đối với phần lớn các tỉnh, dù có làm tốt thì mỗi năm cũng chỉ thu hút được thêm một vài Đô-la từ các nhà đầu tư nước ngoài.9 Những điều được trình bày trên không có nghĩa là tất cả các tỉnh nên bỏ qua nguồn vốn FDI lớn nguồn vốn đầu tư và tăng trưởng không đến từ nhà đầu tư nước ngoài muốn ở gần một thị trường lớn hoặc muốn những tiện Mặc dù một số nhà đầu tư có thể được thu hút bởi một thắng phương, nhưng hầu hết những người trong số họ đều muốn đến những vùng đã có các nhà đầu Phần lớn các tỉnh không có được nhiều FDI trong Lượng đầu tư này đã tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt Tính trung bình thì đầu tư tư nhân chính thức trong nước là ở mức đến năm 2002, có 54.000 doanh nghiệp tư nhân mới đăng ký với số vốn là 4,7 tỷ USD. điểm khởi đầu của sự phát triển đó là một khu vực tư nhân nhỏ bé. trình phát triển này thì đầu tư tư nhân trong nước sẽ có được tác động mong muốn: nó sẽ trải ra đều khắp ở Việt Nam hơn là FDI và có thể tăng nhanh hơn chi đầu tư của Nhà trình bày dưới đây sẽ liệt kê các tỉnh dẫn đầu về lượng FDI vào năm 2002 và đầu tư tư Rõ ràng rằng, trừ năm tỉnh, đầu tư tư nhân chính thức trong nước bằng hoặc lớn hơn rằng, trong một vài năm tới, một vài tỉnh có thể có lượng FDI lớn hơn. với đại bộ phận các tỉnh, thu hút đầu tư tư nhân của địa phương là việc dễ làm hơn và lượng Điều này có nghĩa là 40% các tỉnh đã có thể thu hút được đầu tư tư nhân đáng kể trong khi đó chỉ có từ 10-15 tỉnh thu hút được nhiều FDI. khi FDI thường đến những nơi có một nét đặc thù nào đó hoặc có vị trí địa lý thuận lợi, đầu tư 9 Định nghĩa của IMF về dòng vốn nước ngoài chảy vào được sử dụng để định nghĩa đầu tư: đó là vốn của chủ tư nhân trong nước xuất hiện ở tất cả các vùng với nhiều hoàn cảnh khác phần lớn các tỉnh không nên dành quá nhiều thời gian cho FDI mặc dù rằng đây là một số tỉnh làm tốt trong việc thu hút đầu tư tư nhân trong nước, trong khi các tỉnh khác thì lại làm Một nguồn đầu tư – nguồn này thường được họ kỳ vọng nhất – là từ Nhà nước. ở hầu hết các nước, nguồn đầu tư này được phân bổ theo cả các tiêu chí kinh tế lẫn các tiêu Tình hình này phản ánh chính sách và ưu tiên của các tỉnh đối với đầu tư tư nhân, đồng thời Mức đầu tư nhà nước năm 2000 là từ 272 Nội, sáu tỉnh đứng đầu về mức đầu tư nhà nước tính bình quân đầu người là TP.HCM, Bà Nhưng ngoài một vài địa phương này, mức đầu tư bình quân đầu người cũng khá cao ở Tỉnh có mức đầu tư nhà nước bình quân đứng thứ 10 là 92 USD, tỉnh đứng thứ 50 10 về FDI bình quân đầu người có mức 22 USD và tỉnh đứng thứ 50 hầu như không có gì. đầu tư tư nhân trong nước, tỉnh đứng thứ 10 có mức 24 USD và tỉnh đứng thứ 50 có 4 USD. Như vậy, đối với nhiều tỉnh nghèo, chi từ khu vực nhà nước là nguồn đầu tư chính thức quan Đầu tư nhà nước cùng một lúc được nhằm vào nhiều mục đích: tạo ra cơ sở hạ tầng hết sức cần thiết ở những nơi tăng trưởng nhanh và rõ ràng là có nhu cầu lớn cho đầu tư này; đầu tư Nhưng có những giới hạn đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng nếu như không có các đầu tư Ngay cả đầu tư của Nhà nước cho doanh nghiệp cũng có nhiều khả năng sẽ thiên các DNNN có hiệu quả hơn với số doanh nghiệp được hưởng ít hơn. đi nữa thì các DNNN cũng chỉ tạo ra được ít việc làm mới trong khi việc làm là cái mà các Vì vậy, việc dựa vào đầu tư nhà nước có nhiều rủi ro. Ngoài ra, còn có những câu hỏi thực sự về mức tăng của nguồn thu ngân sách nhà nước. đầu người có thể sẽ ổn định như mức hiện nay bởi vì các nước tài trợ lớn là Nhật Bản và một hạ tầng không được sử dụng nhiều thì các tỉnh nghèo khó có thể đòi tăng nguồn lực trong khi các vùng có mức tăng trưởng nhanh lại đang rất cần có thêm đầu tư. lại là thu hút thêm các nhà đầu tư trong nước nói chung và trong một số trường hợp có thể là cũng chưa có những gì mà Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đang phát triển: các trường học quốc tế, cộng đồng người nước ngoài đông đảo, các dịch vụ tài chính, tiếp thị và tư vấn cao cấp. Nẵng còn chưa tách khỏi Quảng Nam để có thể tập trung vào các vấn đề phát triển của chính Tình hình này phản ánh thực tế là khu vực công nghiệp của Đà Nẵng tạo ra mức giá trị phải nâng cấp hạ tầng vật chất để có thể hấp dẫn được đầu tư như hai thành phố lớn. lang Đông-Tây và Cảng Tiên Sa. Tất cả những công trình này sẽ phải được hoàn thành trong Đà Nẵng: Các nguồn đầu tư (mức trung bình hàng năm của mỗi giai đoạn) các báo chí thì đầu tư tư nhân trong nước là 44 triệu USD trong năm 2002. FDI có lúc là nguồn vốn lớn, sau đó giảm đi và chỉ phần nào phục hồi vào năm năng mới cho các nhà đầu tư và điều này được phản ánh ở mức tăng gần 9 lần của lượng đầu thấy cả đầu tư tư nhân trong nước và FDI tiếp tục tăng trong năm ta phải thấy được sự tăng trưởng liên tục về giá trị thực của đầu tư. phải cao hơn một cách đáng kể để có thể kết luận rằng việc chi nhiều cho cơ sở hạ tầng là Nếu tính tỉ lệ với TP Hồ Chí Minh và Hà Nội thì thu nhập bình quân đầu người của Đà Sách hướng dẫn cho các nhà đầu tư Châu Âu ở Việt Nam mức trung bình của cả nước nhưng khó có thể cho thấy sự gia tăng nhanh chóng về cơ hội Với một thành phố có nguồn vốn nhân lực và vật chất khá tốt thì tại sao lại không có 12 Nếu so sánh thì chúng ta sẽ thấy dân số của cả Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tăng trên 3% một năm từ 1999 đến Điều này cũng xảy ra ở Bình Dương và thậm chí là Bình Phước, một tỉnh nghèo có ít FDI và đầu tư của phố quyết định cải thiện cơ sở hạ tầng “mềm” với cơ chế “một cửa” đối với các nhà đầu tư và này có hiệu lực thì chúng sẽ đưa đến những kết quả về FDI thực hiện cũng như FDI được cấp Chìa khóa để cải thiện hơn nữa tình hình ở Đà Nẵng là tạo ra những công ty tư nhân trong đầu tư tư nhân trong nước theo bình quân đầu người từ 7 USD vào năm 2000 lên 63 USD gần gấp 3 lần mức trung bình của cả nước và đứng thứ tư ở Việt Nam). kết quả này và biến nó thành một nguồn tạo ra sự tăng trưởng liên tục thì cần phải có thêm tăng lên so với năm 1999, con số này vẫn còn rất nhỏ và thấp hơn nhiều so với mức năm Vào năm 2001, các DNNN đã tăng phần tỷ lệ của mình và chiếm tới 4/5 tổng số vốn Tỷ trọng trong vốn vay Ngân hàng và Sản lượng: Các khu vực Nhà nước và Tư nhân tại Đà Nẵng Như vậy Đà Nẵng có được những thành công ở mức trên trung bình nhưng nhìn chung vẫn và dân số của Đà Nẵng thấp hơn các khu vực đô thị lớn khác. một số cản trở đối với FDI và cũng là những cản trở nằm trong tầm kiểm soát của Thành phố, nghi ngờ các hoạt động của khu vực tư nhân trong nước, Thành phố chưa kịp thời tạo ra hiện với tốc độ cao hơn hẳn phần lớn các tỉnh khác, ít nhất là trong năm 2001. Tuy các công ty tư nhân có thể vẫn ra đời dù không có nhiều hỗ trợ, các công ty này khó có thể lớn mạnh nếu không được tiếp cận các nguồn lực như với đất đai và tín dụng chứ không phải chỉ là việc được phép hoạt động. Quy hoạch tổng thể của Đà Nẵng kêu gọi đầu tư lớn của Nhà nước vào các ngành khoản tín dụng lớn của Nhà nước thì vấn đề có thể trở nên khó khăn và tốn kém hơn. là vì các tỉnh nghèo hơn sẽ có đòi hỏi ngày càng lớn hơn đối với các nguồn lực của Nhà nước. Sau khi đã xây dựng được cơ sở hạ tầng tốt thì các tỉnh giàu có hơn phải tự thu hút được được thành lập không trên cơ sở thẩm định đầu tư một cách khách quan, kết quả là giá thành Khó có thể thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào hợp tác Một cách làm khác là tạo ra môi trường thuận lợi chung cho đầu tư kinh doanh, đối xử bình công của Luật Doanh nghiệp, Đà Nẵng có thể nuôi dưỡng và tăng cường sức mạnh các doanh cứu tiếp thị và công nghệ, điều mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể thực hiện cho Một chiến lược như vậy sẽ tạo ra một khu vực tư nhân lớn hơn nhiều và có thêm nhiều doanh nghiệp có thể làm đối tác với các nhà đầu tư nước cách để thực hiện chiến lược nói trên là bắt đầu xếp hạng các tỉnh theo mức độ thân thiện đạo doanh nghiệp, người ta có thể thu được thông tin về các vấn đề cụ thể như những khó thấy vị trí của mình so với các tỉnh khác và nên tập trung nỗ lực vào những lĩnh vực nào. thu hút người nước ngoài, ví dụ như bệnh viện tốt hơn, trường học quốc tế và nhà ở có chất là kỳ vọng vào các dự án FDI quy mô nhỏ trong những năm tới. các nhà đầu tư Châu Á vốn không quá quan tâm hơn đến các tiện nghi như vậy. đầu cải thiện cơ sở hạ tầng “mềm” [luật lệ và hành chính] dành cho các nhà đầu tư. cần tiếp tục chính sách này, tìm cách để tăng cường những cơ hội công bằng cho các nhà đầu tư tư nhân trong nước để họ có thể được đối xử gần như bình đẳng với khu vực Nhà nước điều này thì nhiều nơi khác ở Việt Nam cũng có thể làm được. Tất nhiên, cũng còn những việc phải làm ở cấp độ trung ương và một số vấn đề sẽ được đề Tuy nhiên, nếu các tỉnh biết rằng không nên “kêu gọi” đầu tư trong đó đề ra cụ thể về sản lượng, quy mô và đối tác cho các nhà đầu tư nước ngoài, thay vào đó nên cố gắng thu hút các nhà đầu tư này bằng cách giảm chi phí, các tỉnh sẽ thu được thành công cao Nếu như các tỉnh thấy được rằng, trong nhiều trường hợp và ít nhất là nhìn một cách tổng quát, các nhà đầu tư trong nước còn quan trọng hơn các nhà đầu tư nước ngoài thì Lập luận của những trang ở phần trên là có sự khác biệt rất lớn giữa các tỉnh, thậm chí là cả việc vươn ra với các nhà đầu tư sẽ dần tạo ra tác động quan trọng đối với mức độ và loại hình Đó là những thông tin về bình quân đầu người ở các vùng tính theo đầu tư Nhà nước trong năm 2000, đầu tư tư nhân trong nước năm 2001 và FDI Trung bình đầu tư bình quân đầu người của cả nước là hơn một số các tỉnh khác là “vì không ít người còn coi khu vực tư nhân là tội phạm.” Mặc dù dùng cách nói Có thể hiểu được một lý do của tình hình này, đó là đầu tư cho việc nâng cấp đường xá và các cơ sở hạ tầng vào đầu tư của Nhà nước của nhiều tỉnh sẽ khiến họ càng khó duy trì tăng trưởng vì Xu hướng đầu tư của Nhà nước, nước ngoài, tư nhân trong nước của các vùng Ghi chú: Đầu tư Nhà nước là con số của năm 2000; đầu tư nước ngoài là các khoản đầu tư thực Số trong ngoặc là tỉ trọng vốn Nhà nước trong tổng đầu tư. Tình trạng quá phụ thuộc vào đầu tư Nhà nước của các tỉnh nghèo, thậm chí cả ở Đồng bằng Thứ nhất, hiệu quả của đầu tư Nhà nước là rất quan trọng đối các vùng này, có lẽ nhất là đối với đầu tư tư nhân trong vào vốn Nhà nước khi các nguồn đầu tư khác còn ít và nguồn vốn Nhà nước sẵn có; nhưng với tư duy này thì các quan chức ở các tỉnh dường như không tập trung vào thu hút đầu tư tư nhân như mức họ tập trung vào vận động thêm các khoản đầu tư hào phóng của Nhà Xu hướng đó có thể được coi là một điểm yếu vào thời điểm hiện nay và dần sẽ trở thành một nguy cơ vì nó sẽ góp phần vào chiều hướng các vùng khác nhau có các nền kinh tế Việt Nam có thể đưa ra chính sách tốt hơn để hỗ trợ cho việc sử dụng công nghệ thông Việt Nam có thể có các trường phổ thông và đại học giảng dạy ở trình độ cao hơn. Nói như vậy đúng với tất cả các nước, nhưng đặc biệt đúng với Việt Nam. Để tập trung nỗ lực vào lĩnh vực cần thiết, phải có được các số liệu rõ ràng, cập nhật, có nghĩa và so sánh được. cao so với các nơi khác và nhiều người hiểu được tình trạng này thì người ta dễ đặt ra câu hỏi hơn về nguyên do và bắt tay vào xử lý vấn đề.14 Để có thể thành công trong lĩnh vực IT, Việt Nam cần đặt chuẩn, hoặc là so mình với các quốc gia dẫn đầu trong khu vực. Một số việc như vậy đã được thực hiện đối với số lượng điện thoại và giá cước điện thoại Vấn đề chính là phải giảm chi phí để các doanh nghiệp có thể sử dụng điện thoại hoặc Internet như là một công cụ và trở nên có khả năng cạnh đánh giá của một số nhóm quốc tế về mức độ “sẵn sàng về điện tử”, thì Việt Nam còn 14 nước châu Á được xem xét và vẫn đứng thứ 56 trong số 60 nước được xem xét, tức là ở phí sử dụng và mức thuê cố định cao có thể tới 8000 USD/tháng so với mức giá ở Trung các nước khác tăng lên thì điểm của Việt Nam lại giảm đi so với năm công nghệ ADSL với kết nối “liên tục” chỉ có mức phí 24 USD/tháng và tốc độ là 1,5- bình thường của các bài báo).17 Điều này có nghĩa là sinh viên ngại không muốn thử. là Việt Nam ở vào một cái bẫy của trình độ thấp, đó là tình trạng người sử dụng tự hạn chế và tới năm 2006 thì con số này có thể tăng lên gấp 10 lần. học của Việt Nam tăng rất cao, trong khi không đủ cơ sở hạ tầng về nhân lực cũng như về vật Cũng có thể đó là những ấn tượng chưa đúng và các kết quả hiện nay là khá tốt; trong trường hợp đó thì việc tiếp tục chi cho các cơ sở hiện nay là Cũng có thể rằng những lo ngại nêu trên là đúng; trong trường hợp đó thì việc cấp Đường SDSL sẽ có mức phí mấy trăm USD/tháng ở hầu hết các nước và có tốc độ bách là đưa ra chuẩn để so sánh được sinh viên và việc cải cách các trường phổ thông và đại Nếu Việt Nam không cung cấp được giáo dục có chất lượng và chỉ một thiểu số có thể ra học ở nước ngoài thì sẽ xuất hiện chia rẽ và bất bình sâu sắc, khó xử lý trong Tình hình như vậy cũng có nghĩa là nhiều người có tài sẽ không phát huy được tiềm Nghiên cứu nhỏ này cho thấy trong khi có nhiều điều đang làm đúng, vẫn còn một số vấn đề trưởng vẫn là vấn đề và lượng đầu tư cần cho mức tăng trưởng như vậy lại bị tăng tất cả những điều trên, có lẽ nguy cơ lớn nhất đối với thành công của Việt Nam là quan Đầu đề của tài liệu này là “Nền kinh tế Việt Nam: thành công hay vẫn ở tình trạng lưỡng thể bất thường?” Dấu hỏi được đặt ở đây vì nền kinh tế Việt Nam có nhiều yếu tố của thành công, song cũng có nhiều điểm yếu quan trọng thể hiện ở việc tăng cường sử dụng đầu tư Nhà nước ở cả cấp tỉnh và cấp quốc gia, đưa đến nhiều hơn FDI và đầu tư tư nhân trong nước, phát huy chuẩn toàn diện để so sánh và học hỏi từ những đối thủ cạnh tranh giỏi nhất, Việt Nam có thể nhanh cho tốc độ tăng trưởng cao nhất, mặc dù tỷ trọng của các doanh nghiệp này trong tổng tạp hơn trừ phi là có được mức tăng trưởng và tạo việc làm vực và tác động đối với Việt Nam. Qua việc nhìn lại quá khứ, tài liệu chỉ ra rằng các thời kỳ tăng trưởng chậm của kinh tế toàn cầu thường có tác động tiêu cực với các nền kinh tế sản Việt Nam hiện đã là một nền kinh tế mở nên càng cần phải cải thiện các kỹ năng cần cho việc Các dự án như vậy sẽ tạo ra một nền kinh tế có chi phí cao, có hại cho các nhà xuất khẩu hoạt động có hiệu quả và người tiêu Quốc và xe Honda là một ví dụ: giá xe Honda trong nước phải giảm tới 50% mà vẫn cạnh tranh mạnh, Việt Nam vẫn có một số lợi thế: khu vực nhà nước nhỏ, vì vậy chi phí cho Trung Quốc là một thị trường tốt cho các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Sự hưởng ứng đối với Luật Doanh nghiệp cho thấy ở Việt Nam có nguồn vốn và năng lực để thúc đẩy sự Việt Nam cần tận dụng những lợi thế đó vì Việt Nam cần đạt được sự tăng trưởng nhanh và thâm dụng lao động như trong thập kỷ trước để có thể đối phó với tình hình số lượng việc làm một ma trận có cả các chính sách trong nước “kém” lẫn “tốt” đi cùng với các điều kiện kinh tế chậm và nền kinh tế thế giới bị yếu kém thì mức tăng trưởng chỉ là 4-5%; trong tình huống tốt nhất thì mức tăng trưởng là 10%; nếu chính sách trong nước tốt mà nền kinh tế thế giới suy yếu thì mức tăng trưởng là 8%; nếu nền kinh tế thế giới ở vào tình trạng lành mạnh mà chính Tình hình này xảy ra là do cả các nhân tố bên trong lẫn các nhân tố bên ngoài; và tác vẫn xếp Việt Nam ở thứ hạng thấp (không phải đánh giá uy tín trả nợ mà là về sức hút đầu tư) kinh tế hữu ích, tốc độ cải cách tài chính chậm và những quyết định đầu tư thiếu hiệu quả đã Trong quá khứ, có lẽ viện trợ đã được dùng để tài trợ cho không ít các quyết định đầu tư và thậm chí cả những chính sách chưa biết có hiệu quả hay nếu không phải là ảnh hưởng trực tiếp, thì cũng là gián tiếp thông qua việc tài trợ cho các dự án đầu tư cần thiết để rồi các khoản vốn khác lẽ ra dùng cho các dự án đó lại được dùng Phụ lục II: Mức đầu tư của các tỉnh phân theo đầu tư nhà nước, FDI và đầu tư tư nhân trong nước Đầu tư nhà nước là của năm 2000, đầu tư tư nhân trong nước là của năm 2001, FDI thực hiện là của năm 2002 * Khoản FDI lớn này rất có thể là đầu tư vào cơ sở hạ tầng của khu công nghiệp Dung Quất. này có thể được hạch toán chính xác hơn như một khoản đầu tư của nhà nước. (Số liệu năm 2000 về đầu tư Nhà nước, năm 2001 về đầu tư tư nhân trong nước, năm 2002 về FDI thực hiện)