Dinh dưỡng và thức ăn cho bò - chương 5

Thể loại: Nông nghiệp
Lượt xem: 81,633Lượt tải: 3Số trang: 56

Mô tả tài liệu

Nguồn thức ăn này bao gồm các loại cỏ xanh từ đồng bãi, cỏ trồng, các loại lá cây,... Đặc điểm của các loại thức ăn này là nhiều nước (60-80%), dễ tiêu hóa, có tính ngon miệng cao. Hàm lượng vitamin cao, hàm lượng protein tùy thuộc vào từng loại

Tóm tắt nội dung

Nguồn thức ăn này bao gồm các loại cỏ xanh từ ñồng bãi, cỏ trồng, các ðặc ñiểm của các loại thức ăn này là nhiều nước (60-80%), dễ mùa, song cỏ ở bãi chăn vẫn là một nguồn thức ăn quan trọng cho chăn nuôi gia súc nhai lại ở nhiều khu vực trong nước ta hiện nay và cần ñược quan tâm Khi sử dụng nguồn thức ăn này cần lưu ý tránh cỏ Cỏ tự nhiên có tính ngon miệng cao ñối với gia súc ăn cỏ. Trong ñiều kiện bãi chăn ngày càng bị thu hẹp, năng suất và chất lượng cỏ chủ ñộng có nguồn thức ăn thô xanh chất lượng và ổn ñịnh quanh năm cho gia Hiện nay ở nước ta ñã có nhập và chọn lọc một số giống cỏ cho năng suất khí hậu và trình ñộ quản lý năng suất chất xanh trên một ha có thể biến ñộng Cỏ voi, ñặc biệt cỏ non và lá có tính ngon miệng cao ñối với gia súc. Hàm lượng protein thô và tỷ lê tiêu hoá in vitro (IVDMD) lá cỏ theo Chu kỳ kinh tế của cỏ voi là 3-4 năm, nếu quản lý tốt thì có thể dài hơn. Cỏ có tính ngon miệng và giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất thân và lá có lông mịn, cỏ có thể cao tới 1 m, rễ chùm phát triển mạnh và bám Hàm lượng protein biến ñộng trong khoảng 7-13% và có thể Cỏ Ruzi có thể sử dụng làm thức ăn xanh, cỏ khô hay cỏ ủ chua ñều tốt. chính là cây hoà thảo trồng cung cấp thức ăn xanh cho gia súc vào vụ này rất Lá cỏ Para có tính ngon miệng cao cho gia súc song phần thân và cỏ già làm thức ăn xanh cho ăn tại chuồng hay ủ chua, cắt lứa ñầu 45-60 ngày sau khi là các thân bò có vòng lông màu trắng xanh hay phớt tím, lá cỏ xanh mượt và Cỏ Pangola có thể sử dụng cho ñồng cỏ chăn thả hay cắt làm cỏ khô ñể Cỏ có thể ñược bảo quản bằng cách phơi khô hoặc ủ chua. cỏ ñuôi sói của châu Mỹ và ñược ñánh giá là vua của các loài cỏ. lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngọt, hệ số tiêu hoá cao là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ. Cỏ VA-06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn cá trắm cỏ, mà không cần hoặc cơ bản không cần bổ sung thêm thức ăn tinh nhám của lá thấp, vì vây, gia súc thích ăn loại cỏ này. Cây ngô cũng là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc. lấy cây thức ăn gia súc cần phải gieo dày hơn so với ngô dùng lấy hạt (lượng Cây ngô có tính ngon miệng cao ñối với gia súc cả ở dạng xanh, ủ chua Cho gia súc ăn ngô cả bắp với lượng nhiều có thể gây hội chứng axit dạ Cây ngô có thể thu hoạch 80-90 ngày sau khi trồng ñể cho bò ăn xanh Cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu ñạm ñể bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho bò. Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại ñất, ngay cả Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn cho gia Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo khá cao, ñặc biệt là hàm lượng protein. thức ăn của tằm mà còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc, gia cầm. và cành non cây dâu có hàm lượng dinh dưỡng cao, không có ñộc tố. tính (NDF) và xơ axít (ADF) thấp so với các cây thức ăn giàu ñạm khác. Lá dâu là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị cho gia súc (trâu, bò, hàm lượng hydratcarbon cao và hàm luợng xơ thấp nên có thể ủ chua mà không cần chất phụ gia, tuy nhiên, có thể ủ với rỉ mật 5% hoặc cám gạo 5%. Các kết quả ñánh giá ñược triển khai trên bò, dê và cừu cho thấy, bổ sung lá dâu ñã làm tăng lượng ăn vào và tăng sức sản xuất (tăng trọng, sản lượng Tỷ lệ tiêu hóa của lá dâu khá cao và nên bổ sung vào khẩu Vì vậy, lá dâu ñược thay thế cho thức ăn tinh ở bò Bò ñực ăn khẩu phần cơ sở là cỏ voi bổ sung lá dâu theo tỷ lệ Nuôi dê sữa bằng lá dâu và cỏ voi thì sản lượng sữa tăng từ Lượng lá dâu trong khẩu phần ăn của trâu bò, dê, cừu nên ở mức 20-40% các loại cây thức ăn khác. khi sử dụng cho gia súc nên dùng làm thức ăn bổ sung và trộn với các loại sống và là nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại có giá trị. Lá và cành non dâm bụt có thể sử dụng ở dạng tươi cho gia súc hoặc ủ carbohydrates hoà tan cao nên không cần chất phụ gia, cũng có thể cho thêm Lá dâm bụt ñược xem là nguồn thức ăn bổ sung protein và Thành phần hoá học của các loại thức ăn (% VCK) Tỷ lệ tiêu hóa in vivo các loại thức ăn (%) trên cừu và dê làm thức ăn cho gia súc là hàm lượng protein cao (>20%) và giàu caroten. Trong lá cây keo dậu có chất ñộc ñối gia súc, gia cầm ñó là mimosine, do vậy dụng lá keo dậu cho trâu bò có thể cho ăn tươi kết hợp với các loại thức ăn xơ thô khác, hoặc là làm bột keo dậu trong thành phần của bánh ña dinh dưỡng. nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc nhai lại ở nước ta. Rơm là nguồn thức ăn tiềm năng cho ngành chăn nuôi trâu bò. So với một số loại thức ăn tươi xanh, rơm là loại thức ăn có giá trị năng Giá trị dinh dưỡng và giá trị làm thức ăn của rơm rạ ðể nâng cao gía trị làm thức ăn, giá trị dinh dưỡng của - Cải thiện môi trường dạ cỏ (thường sử dụng thức ăn bổ sung) ñể tối ña thể nuôi ñược 4 con bò trong 4 tháng (cho mỗi con bò ăn 20-25 kg/ngày). ngọn lá mía làm thức ăn cho trâu bò cũng có nhiều hạn chế: - Thu hoạch mía có tính chất thời vụ nên trâu bò không thể ăn hết trong quá trình lên men của ngọn mía trong dạ cỏ ñã cung cấp ñủ dinh dưỡng cho mía kéo dài và không ñược bổ sung các loại thức ăn khác như rỉ mật, cám, urê.. Khi sử dụng ngọn lá mía cho gia súc cần bổ sung một số loại thức ăn khác (cám, urê..) ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và tăng lượng ăn vào của gia súc và ngọn lá nên ñược cắt ngắn trước khi cho ăn. cây ngô là nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại có ý nghĩa lớn. bắp ngô luộc) có thể dùng làm nguồn thức ăn xanh rất tốt cho trâu bò. phần dinh dưỡng của cây ngô sau thu bắp non rất phù hợp với sinh lý tiêu hoá tương tự như trường hợp cây ngô làm thức ăn gia súc. sau thu bắp non này có thể ủ chua không cần bổ sung chất phụ gia. với rơm ñể làm thức ăn vụ ñông cho trâu bò. ðây là nguồn thức ăn lớn có giá trị cho vật Thân lá lạc có thể bảo quản và dự trữ cho gia súc bằng phương pháp phơi khô, trộn với rơm khô và chất thành cây (cây rơm, lá lạc) cho gia súc ăn vào lúc thiếu thức ăn xanh rất có giá trị. chuối, cỏ cho gia súc ăn thêm hoặc ñể làm bánh ña dinh dưỡng. quản thân lá lạc bằng phương pháp ủ chua làm thức ăn cho trâu bò. Ngọn lá sắn ñược xem là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị cho lá sắn có thể loại bỏ ñộc tố, lại dự trữ ñược lâu dài cho trâu bò ăn. sắn ủ chua trong khẩu phần trâu bò nên ở mức 10 - 20% tính theo chất khô. ăn rất tốt cho trâu bò các loại, ñặc biệt là bò ñang vắt sữa. các loại thức ăn nhiều nước (75-80%), hàm lượng protein trong vật chất khô Do vậy, các nhà chăn nuôi bò rất thích dùng các loại thức ăn này. người ta trộn bã bia, bã rượu với thức ăn tinh và cho bò ăn. Nguồn phụ phẩm này có thể làm thức ăn cho trong bã sắn có HCN là chất ñộc ñối với trâu bò, vì vậy cần phải xử lý (ủ chua ðể tăng hiệu quả khi sử dụng bã sắn khi cho trâu bò ăn nên bổ ngày có thể cho bò ăn khoảng 8-10 kg bã sắn tươi. ñể làm nguyên liệu phối chế thức ăn hỗn hợp, song chi phí cho nhiên liệu làm Bã sắn có thể ủ chua dự trữ ñược khá lâu do một phần tinh bột trong nghiệp ủ chua cho bột sắn và cám gạo trong khẩu phần bò thịt ñến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hoá khẩu phần và mức tăng trọng của bò. cho thấy sử dụng bã sắn ủ chua thay thế cám gạo và bột sắn trong khẩu phần bò thịt (lượng thức ăn bổ sung tính theo chất khô ở các khẩu phần là như nhau) không làm ảnh hưởng ñến tỷ lệ tiêu hóa NDF, vật chất khô khẩu phần và khi khẩu phần chứa bã sắn có bổ sung thêm 10% bột ñậu nành (tính theo vật chất khô bã sắn) cho tăng trọng tương ñương với khẩu phần bổ sung cám gạo và Thành phần dinh dưỡng (tính theo chất khô) Thức ăn Hạt bông có hàm lượng protein và lipid cao nên có thể ñược coi là một bông làm cho hàm lượng ammonia trong dạ cỏ tăng cao, ñiều này có lợi cho vi của hạt bông thấp nên có lợi khi cho gia súc ăn trong ñiều kiện nhiệt ñộ môi cho ăn quá nhiều có thể ảnh hưởng xấu ñến hoạt lực của vi sinh vật dạ cỏ. Hiện nay, người ta ñề nghị mức bổ sung chỉ dưới 150g/kg thức ăn của khẩu Chế biến, ñặc biệt là xử lý nhiệt, có thể làm tăng tỷ lệ lipit và protein không bị phân giải ở dạ cỏ và giảm gosypol tự do trong hạt bông nên có thể Các loại khô dầu thường dùng làm thức ăn cho Khô dầu là loại sản phẩm sẵn có ở nước ta và ñược xem như là loại thức ăn cung cấp năng lượng và bổ sung ñạm cho bò. dầu có thể cho bò ăn riêng rẽ như một thức ăn bổ sung hoặc trộn với một số coi là loại thức ăn cung cấp năng lượng và ñạm. khẩu phần nhiều xơ sẽ có tác dụng bổ sung dinh dưỡng và kích thích tiêu hoá coi là loại thức ăn cung cấp protein cho bò. Mỗi ngày có thể cho bò ăn 5- - Là loại thức ăn ñể vỗ béo bò trong chăn nuôi thâm canh - Là chất mang urê, khoáng và các chất dinh dưỡng khác ñể cải thiện - Là nguồn chất phụ gia quan trọng cho việc dự trữ thức ăn thô cho trâu Vai trò của rỉ mật trong thức ăn cho gia súc: - Chất mang và tạo tính ngon miệng cho các chất dinh dưỡng khác (như urê, khoáng..) ñể bổ sung vào khẩu phần giàu xơ và cũng là chất keo trong có thể cần phải cho bò ăn thêm thức ăn tinh ñể tối ưu hoá hoạt ñộng của vi sinh vật dạ cỏ và/hay ñể thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng nguyên liệu thức ăn) theo các tỷ lệ nhất ñịnh sao cho hỗn hợp tạo ra có hàm Thực tế trên thị trường có nhiều loại thức ăn tinh hỗn hợp do nhiều hãng Nhìn chung các loại thức ăn này có chất lượng tốt. loại thức ăn này thường ñắt và nếu dùng nhiều sẽ ảnh hưởng ñến hiệu quả kinh tận dụng ñược một cách hiệu quả các loại phụ phẩm hay các nguồn thức ăn Yêu cầu chung của thức ăn tinh hỗn hợp là : - Cần có từ ba loại thức ăn nguyên liệu trở lên, tuy nhiên càng có nhiều loại thức ăn trong thành phần càng tốt. - Sử dụng tối ña các loại thức ăn sẵn có của mỗi gia ñình hay ñịa phương. - Thức ăn tinh hỗn hợp phải rẻ, dễ sử dụng và dễ bảo quản. thấy sử dụng urê làm thức ăn bổ sung ñã mang lại hiệu quả cao khi khẩu phần trong dạ cỏ khi nuôi gia súc bằng thức ăn thô thường thấp, khi bổ sung u rê liên tục ñã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng tỷ lệ tiêu hoá, ổn ñịnh cân bằng súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. chất khô khẩu phần, hoặc 2% trong thức ăn tinh hoặc khoảng 20-25 g urê/100 các loại thức ăn này theo tỷ lệ thích hợp, hoặc có thể trộn vào thức ăn tinh cho Ở nước ta việc giải quyết thức ăn quanh năm cho gia súc nhai lại trở Tính chất mùa vụ trong việc giải quyết thức ăn cho ñàn bò ðể giải quyết thức ăn quanh năm cho gia súc nhai lại một số giải pháp Cỏ khô loại là một trong những nguồn thức ăn tốt cho gia súc nhai lại, Hàm lượng và thành phần các chất dinh dưỡng trong cỏ khô có sự khác nhau rất rõ rệt và tùy thuộc vào thành phần thực vật của cây cỏ, ñiều kiện ñất ñai và khí hậu, loại và liều lượng phân bón sử dụng, lượng cellulose trong cỏ tăng lên, còn hàm lượng protein, vitamin và chất là thu hoạch vào giai ñoạn có nụ hoa vì khi ñó hàm lượng protein trong cỏ cao Trong thành phần cỏ khô có chứa nhiều loại cây bộ ñậu thì lượng caroten lượng vitamin A và D trong ñó giảm rõ rệt, và trong trường hợp này cho dù bò ñược cung cấp số lượng lớn cỏ khô vẫn không thể thoả mãn ñược nhu cầu của ðiều kiện cơ bản ñể thu ñược cỏ khô chất lượng tốt và giảm tổn thất các Cỏ khô là hình thức dự trữ thức ăn thô xanh rẻ tiền, dễ làm và dễ phổ triển và chất lượng cỏ tốt lại hay có mưa. là lúc cỏ mới ra hoa, có sản lượng và thành phần dinh dưỡng cao. cỏ khô) ñể xếp ñược nhiều và khi cần lấy ra cho gia súc nhai lại ăn cũng thuận Ủ chua là kỹ thuật bảo quản và dự trữ thức ăn nhờ quá trình lên men yếm khí, tạo ra trong khối thức ăn một lượng axít hữu cơ cấp thấp (axít lactic) cần của các loại vi khuẩn, nhờ ñó mà thức ăn ñược bảo quản lâu dài. liệu (thường là thức ăn thô xanh) có ñủ cơ chất (ñường), ñược nén chặt, có Ngược lại, khi trong khối thức ăn và trong hố ủ Nhờ quá trình bảo quản thức ăn bằng ủ chua, những phần cứng của thân cây bị mềm ra và làm cho nó trở nên dễ ăn và dễ tiêu hoá hơn. bản chất ủ chua không làm tăng thành phần dinh dưỡng của thức ăn mà chỉ là ghề ñể nén thức ăn ñược chặt và dễ dàng. - Thức ăn ñem ủ phải có ñộ ẩm thích hợp. - Thức ăn ñem ủ phải có ñủ lượng ñường ñể lên men. loại cỏ xanh thu hoạch vào giai ñoạn thích hợp thì có ñủ lượng ñường lên men - Thức ăn ñem ủ phải ñược cắt ngắn và nén chặt. hoạch và trong quá trình ủ do thức ăn vẫn tiếp xúc với không khí nên quá trình nguyên liệu và sinh nhiệt làm cho khối thức ăn nóng lên. thời gian từ khi cắt thức ăn về cho ñến khi ñóng hố ủ diễn ra trong cùng một khối lượng thức ăn có sẵn, quy mô ñàn gia súc trên cơ sở tính toán mỗi khối tích khoảng 1,5m³ (1m × 1m × 1,5m) bởi vì lượng thức ăn cần thiết ñể chất m³ có thể tiếp nhận toàn bộ sản lượng của một sào ngô cây làm thức ăn gia súc hoặc cỏ voi cắt ở 35 ngày tuổi và sẽ cho ra khoảng 700-800 kg thức ăn ủ chua thức ăn trong các loại hố ủ khác: hố ñể có thể gấp ñóng kín lại sau khi ñã chất ñầy và nén chặt thức ăn. thức ăn và chi phí cao. thấy trong ñiều kiện nông hộ ủ chua trong túi chất dẻo là tiện lợi, thức ăn ủ có + Dùng thùng phi ñể ủ chua thức ăn (nên dùng loại có dung tích 200 lít). Trường hợp ủ chua trong thùng phi cần lưu ý phơi thức ăn hơi khô hơn một Tuỳ theo loại hố ủ, có thể cần những vật tư và dụng cụ sau ñây : + Máy thái cây thức ăn nhất thiết phải có trong ñiều kiện chăn nuôi trang nên dùng máy thái cây thức ăn, tuy nhiên nếu không có thì dùng dao băm thái thức ăn nguyên liệu có nhiều ñường, làm cho thức ăn bớt chua. Muối ăn còn có tác dụng làm tăng tính ngon miệng của thức ăn thẩm thấu cao kém hơn vi khuẩn lactic) nên làm cho thức ăn có chất lượng tốt + Urê ñể tăng hàm lượng protein trong thức ăn và giữ cho thức ăn ổn Urê ñược chỉ ñịnh trong trường hợp các loại thức ăn trình lên men hoặc dùng ñể xử lý trường hợp thức ăn ñem ủ bị ướt (mưa không Vào ngày sử dụng thức ăn ủ chua ñầu tiên, dỡ lớp mái che, lớp ñất và lớp kiện còn tồn tại một lượng nhỏ không khí giữa lớp thức ăn này và lớp rơm phủ. Lượng thức ăn ủ chua sử dụng cho mỗi con và cho cả ñàn tuỳ thuộc vào lượng thức ăn thô xanh cần thay thế trong khẩu phần. cho ăn lượng nhỏ, sau ñó tăng dần và ñến ngày thứ ba hay thứ tư thì cho ăn cho ăn mỗi ngày chỉ 15 kg thì lượng thức ăn ủ chua chứa trong một hố ủ 1,5 Một khi ñã mở hố ủ và sử dụng thức ăn ủ chua cho bò ăn cần Thức ăn thô chất lượng thấp (như rơm rạ, thân cây ngô già) có hai nhược có hai giải pháp ñể nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn thô chất lượng thấp: Bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu ñể làm tăng sinh và tăng hoạt lực Như ñã trình bày trong chương 2, hiệu quả sử dụng thức ăn giàu xơ chất lượng thấp có thể ñược cải thiện bằng việc bổ sung dinh dưỡng hợp lý. bằng việc tăng tỷ lệ tiêu hoá của khẩu phần cơ sở và tăng tốc ñộ giải phóng của VSV với thành phần xơ, làm tăng tính ngon miệng và nâng cao tỷ lệ tiêu nông nghiệp nhiều xơ làm thức ăn cho gia súc nhai lại. tức là trộn rơm với urê và ủ kín khí, nén chặt trong các hố ủ (hào, túi). - Lượng nước sử dụng cần ñảm bảo cho ñộ ẩm của rơm sau khi trộn nằm Trong số các hoá chất khác có thể dùng ñể kiềm hoá rơm thì vôi Việc dùng vôi xử lý rơm có các ưu ñiểm là vôi rẻ tiền và sẵn có, bổ sung trong khi giảm ñược lượng N và Ca dư so với xử lý bằng urê hay bằng vôi Cây thức ăn thân bụi có tiềm năng lớn về sản xuất một khối lượng lớn protein cho phát triển gia súc trong hệ thống chăn nuôi kết hợp cây thức ăn và nguồn thức ăn sẵn có ở ñịa phương. cellulose và protein có giá trị ñể sử dụng cho vật nuôi và ñộng vật hoang dã. thân bụi có khả năng cung cấp nhiều thức ăn xanh có hàm lượng protein cao cho phát triển cây thức ăn ñã làm tăng sự phụ thuộc của gia súc nhai lại vào nguồn thức ăn có chất lượng thấp, dựa vào phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ và xem là nguồn cung cấp năng lượng và protein ñể tăng sản lượng chăn nuôi gia Tiềm năng cây thức ăn cho gia súc nhai lại ñã ñược thể hiện ở các khía cạnh về giá trị dinh dưỡng, giá trị tiềm năng thức ăn và khả năng ứng Các tiềm năng giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn cho ñộng vật nhai lại ñược cân nhắc ở các khía cạnh như là: chất lượng cao, khả dinh dưỡng ñã tăng cường sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ và nâng cao khả cây thân bụi ñã bổ sung nguồn vitamin và khoáng thiếu hụt trong nguồn thức Sử dụng thức ăn từ cây thân bụi ñã và ñang là khuynh hướng phát triển thân bụi cao hơn nhiều so với các nguồn thức ăn khác ñã ñược ghi nhận. vậy, cho ñến gần ñây nguồn thức ăn này vẫn bị lãng quên ở một số ñịa phương Hàm lượng protein trong cây thân bụi diễn biến từ 14 - 25,8% và năng cao (1,57 - 2,81%) ở các loại cây thức ăn khá phổ biến. lệ protein tiêu hoá cao hơn nhiều so với các nguồn thức ăn khác. cây Anh ñào giả cho một bò sữa/ngày ñã làm tăng sản lượng và tỷ lệ mỡ sữa là cây họ ñậu bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc nhai lại khoảng 30-50% dựa trên chất khô ăn vào hoặc 0,9-1,5% khối lượng cơ thể gia súc. trị của cây thân bụi ñã ñược trình diễn có hiệu quả ở nông hộ với nhiều hệ hợp với rơm khô cho gia súc nhai lại ñã giải quyết ñược sự thiếu hụt thức ăn thức ăn cho gia súc nhai lại trong mùa khô hạn bằng cành lá cây keo (Acacia) tiềm năng lớn làm thức ăn cho gia súc nhai lại cả ở khía cạnh nông học và Khi bổ sung vào khẩu phần cơ sở giàu xơ của gia súc nhai lại ñã Sản xuất thức ăn tinh và bánh ña dinh dưỡng Tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có ở nông hộ ñể sản xuất thức ăn tinh ðể phối chế thức ăn tinh hỗn hợp cũng có thể sử dụng một loại thức ăn tạo ra một loại hỗn hợp vừa rẻ và chất lượng tốt, lại vừa sử dụng ñược các Bánh dinh dưỡng là một dạng thức ăn hỗn hợp bổ sung các chất dinh dụng ñược các nguyên liệu thức ăn rẻ tiền, kém ngon miệng và mất cân ñối về hoàn toàn có thể thay thế một phần thức ăn tinh hỗn hợp (chính vì vậy một số sinh vật dạ cỏ các chất bột ñường và nitơ phi protein, làm cho quá trình tổng - Bảo ñảm có các thành phần cần thiết (như năng lượng dễ tiêu, nitơ, khoáng ña và vi lượng) nhằm bổ sung dinh dưỡng cho khẩu phần cơ sở ñể tối Có nhiều công thức làm bánh dinh dưỡng, tùy thuộc vào ñiều kiện cụ thể của từng gia ñình, ñịa phương mà có thể chọn công thức phù hợp. ñảo nhanh tay và liên tục trong khoảng 15-20 phút ñể các thành phần ñược Cách cho bò ăn là ñể bánh dinh dưỡng nơi sạch sẽ trong chuồng (nên Gia súc có thể bị ngộ ñộc bánh ña dinh dưỡng nếu như chỉ ñược cho ăn bánh dinh dưỡng mà không có các loại thức ăn thô xanh khác, hoặc khi sản Hỗn hợp này ñược sử dụng ñể trộn vào các loại thức ăn tinh quản ñược lâu dài và sản xuất một lần có thể dùng trong 2-3 tháng. Khẩu phần là tổ hợp các loại thức ăn ñể thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng - Khẩu phần phải ñảm bảo cho con vật ăn hết và ñủ no. - Khẩu phần phải cung cấp ñủ dinh dưỡng cho cả VSV dạ cỏ và vật chủ. - Khẩu phần phải bao gồm những loại thức ăn có thể khai thác tiện lợi và Khẩu phần ăn của trâu bò nên chia thành hai phần: khẩu phần cơ sở và sở nên bao gồm tối ña các loại thức ăn xơ thô sẵn có, kể cả các phụ phẩm rẻ Tuy nhiên, khẩu phần cơ sở (thức ăn xơ thô) thường không cân ñối dinh Khi ñó cần phải có thêm các thức ăn bổ sung tối thiểu ñể cân ñối dinh thường thoả mãn ñược các nhu cầu dinh dưỡng cho duy trì và ñáp ứng một lượng các loại thức ăn trong khẩu phần cơ sở. Khẩu phần cơ sở ñã hiệu chỉnh và thức ăn bổ Khi xây dựng khẩu phần ñiều cốt yếu là làm trâu bò ăn ñược càng nhiều cho VSV dạ cỏ và vật chủ, do ñó cần phải bổ sung dinh dưỡng như ñã nói ở Các chất dinh dưỡng trong thức ăn thô chỉ có thể ñược phân giải và chuyển hoá có hiệu quả trong dạ cỏ nếu như các VSV cộng sinh trong ñó ñược lên men cuối cùng trong dạ cỏ (protein VSV và AXBBH) chỉ có thể trở thành các chất dinh dưỡng cho vật chủ và làm tăng năng suất của gia súc nếu như chúng cân bằng với các chất dinh dưỡng ñược tiêu hoá và hấp thu ở ruột non. Do vậy, bổ sung dinh dưỡng cho khẩu phần cơ sở là thức ăn thô, ñặc biệt là thức ăn thô chất lượng thấp, phải ñảm bảo ñược những nguyên tắc sau: cỏ bằng cách cung cấp các chất dinh dưỡng bị thiếu trong khẩu phần cơ sở so - Giúp cho tiêu hoá khẩu phần cơ sở ở trong dạ cỏ ñạt tới mức tối ña. - Tăng thu nhận khẩu phần thức ăn cơ sở. Các chất bổ sung trong trường hợp này chủ yếu là N ở dạng dễ phân giải Hình thức bổ sung này có thể ñược coi là bổ sung xúc tác. Việc bổ sung ñể tối ưu hoá hệ sinh thái dạ cỏ cho phép làm tăng tốc ñộ và những thức ăn có khả năng thoát qua sự phân giải ở dạ cỏ, nhằm cân bằng các chất dinh dưỡng hấp thu và ñáp ứng nhu cầu sản xuất của gia súc. chất này thường lấy từ thức ăn protein, lipit và bột ñường. hoạt ñộng phân giải xơ trong dạ cỏ và ñảm bảo cân bằng giữa các sản phẩm sung truyền thống ñối với các khẩu phần cơ sở là thức ăn thô. người ta thường dùng các hỗn hợp thức ăn tinh hoàn chỉnh làm từ các loại hạt cốc và thức ăn protein ñể bổ sung. và nhờ ñó mà lượng thu nhận tự do của gia súc ñối với thức ăn thô có thể tăng Tuy nhiên, khi tăng lượng thức ăn tinh bổ sung vượt quá một mức nhất mất ñi và lượng thu nhận thức ăn thô giảm xuống. sung thức ăn tinh có thể làm cho con vật thoả mãn nhu cầu về năng lượng mà không cần ăn nhiều thức ăn thô cho ñến khi “no”. 3.2.3.1 Bổ sung thức ăn giàu năng lượng ðối với thức ăn thô năng lượng chủ yếu có trong hydratcarbon của vách khi gia súc nhai lại chỉ ñược cho ăn các thức ăn xơ thô chất lượng thấp (như thức ăn chứa các nguồn năng lượng dễ lên men ñể cung cấp các nhu cầu này thì cần thiết phải bổ sung thêm các loại thức ăn giàu năng lượng ñể ñáp ứng Khi bổ sung năng lượng vào khẩu phần cơ sở là thức ăn thô cần chú ý Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các thức ăn bổ sung năng - Càng giàu xơ dễ tiêu càng tốt (như các loại cỏ xanh chất lượng cao, bã - Bổ sung dưới dạng thức ăn dễ thoát qua dạ cỏ ñể ñược tiêu hoá và hấp ăn thực vật, VSV dạ cỏ cần có ñủ N ñể tổng hợp protein cho bản thân chúng. Tuy nhiên rơm rạ cũng như các loại thức ăn thô chất lượng thấp khác chứa rất thức ăn xơ chất lượng thấp này ñược phân giải và lên men tốt thì trước hết cần phụ thuộc vào năng lượng có thể lên men trong dạ cỏ. ñể tiêu hoá tốt và tăng lượng thu nhận rơm ở bò nằm trong khoảng 150-200 khẩu phần cơ sở có tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ dưới 50% (như rơm không xử ñến 1,5-2% (hay 9-12% CP) khi năng lượng tiêu hoá của khẩu phần ñược tăng việc xác ñịnh lượng NPN cần thiết ñể bổ sung cho gia súc nhai lại khi cho ăn Luợng protein thô (CP) của VSV dạ cỏ có thể tổng hợp ñược từ nguồn (Trong ñó: từ 1kg CHCTH có thể cho 145g CP của VSV, tỷ lệ protein Lượng CP con bò ăn ñược từ rơm là Giả sử CP của rơm có tỷ lệ phân giải ở dạ cỏ là 60%, lượng CP của thức ăn mà VSV có thể sử dụng là protein của VSV dạ cỏ theo như năng lượng cho phép thì cần bổ sung thêm Lượng N thiếu trong rơm phải ñược bổ sung ở dạng mà VSV dạ cỏ có thể sử dụng ñược (dễ lên men hay phân giải ở dạ cỏ); ñó có thể là một nguồn N Lượng urê này phải cho ăn làm nhiều lần trong ngày ñể tránh bị ngộ ñộc lợi nhất khả năng tổng hợp protein của VSV dạ cỏ là có giới hạn. protein VSV, ñặc biệt là khi nuôi bằng thức ăn thô, không thể ñủ ñể thoả mãn dễ phân giải ở dạ cỏ việc bổ sung thêm các loại thức ăn protein ở dạng khó phân giải ở dạ cỏ sẽ rất có lợi, bởi vì những thức ăn protein này sẽ ñi thẳng Việc bổ sung một số loại thức ăn protein phân giải chậm ở trong dạ cỏ Ngoài một số thức ăn bổ sung protein như khô dầu hay protein ñộng vật Thức ăn xơ thô thường không chứa ñủ các loại khoáng và vitamin cần cho quá trình sinh tổng hợp và hoạt ñộng của VSV dạ cỏ. Bổ sung vào khẩu phần cơ sở là thức ăn thô chất lượng thấp như rơm (xử lý hay không xử lý) với một lượng nhỏ (10-30% VCK) các loại cỏ có chất lượng tốt sẽ kích thích tiêu hoá và tăng lượng thu nhận khẩu phần cơ sở và do dễ tiêu nên làm tăng sinh khối và hiệu lực phân giải xơ của VSV dạ cỏ. tăng số lượng VSV bám vào thức ăn và việc cung cấp xơ dễ tiêu ñảm bảo cho Có nhiều loại cỏ xanh khác nhau có thể dùng làm thức ăn bổ sung như cỏ Các loại phụ phẩm dễ tiêu hoá và giàu protein hơn rơm cũng có thể dùng làm chất bổ sung rất tốt cho khẩu phần cơ sở là rơm. Thức ăn tinh hỗn hợp hay hạt ngũ cốc có thể dùng ñể bổ sung vào khẩu phần cơ sở là thức ăn thô ñể cân bằng dinh dưỡng cho VSV dạ cỏ và vật chủ trong dạ cỏ, làm giảm pH và ức chế các loại VSV phân giải xơ và thường gây cỏ sẽ làm mất nhiều năng lượng của thức ăn tinh qua sinh nhiệt trong qua trình tiêu hoá, tức là không tính ñến nhu cầu và chuyển hoá protein của vi sinh vật dụng cho kết quả tốt trong chăn nuôi bò sữa ở nước ta và chúng ta cũng ñã xây dựng ñược một cơ sở dữ liệu về thành phần và giá trị của nhiều loại thức ăn - Các loại thức ăn (và số lượng của chúng) có thể sử dụng trong khẩu phần: ðiều này hoàn toàn phụ thuộc vào các nguồn thức ăn của cơ sở chăn Tốt nhất là khai thác ñược các nguồn thức ăn sẵn mà cơ sở chăn nuôi có - Khả năng thu nhận và giới hạn sử dụng các loại thức ăn: Những thông tin này có ñược từ kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn của cán bộ kỹ thuật. - Thành phần dinh dưỡng và ñặc ñiểm tiêu hoá của các loại thức ăn sử dụng: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn phải tra theo các bảng ñã ñược xây Bảng thành phần và giá trị dinh dương của các loại thức ăn cũng có - Giá của các loại thức ăn có thể khai thác: ðây là thông tin cần thiết ñể Khi ñã có ñược các thông tin trên, việc lập khẩu phần cho bò bắt ñầu thể trạng, năng suất và sức khoẻ của con vật, người chăn nuôi cần có sự ñiều chỉnh hợp lý ñể có ñược một khẩu phần thực tế tốt hơn. Có nhiều phương pháp khác nhau ñể phối hợp khẩu phần lý thuyết cho - Chọn một số loại thức ăn sẵn có và lấy thông tin về thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn ñó. Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn dinh dưỡng cụ thể cho các loại thức ăn ñược sử dụng của cơ sở (sẽ chính xác dưỡng trong vật chất khô, sau ñó tính chuyển về khối lượng các loại thức ăn Nhu cầu dinh dưỡng của bò ñược thể hiện theo lượng các chất dinh Ví dụ, theo tính toán thì nhu cầu dinh dưỡng cho một bò nặng 300kg và ñáp ứng ñược nhu cầu dinh dưỡng cho bò này thì mỗi kg VCK của khẩu phần Giả sử các thức ăn có sẵn ñược sử dụng ñể nuôi bò trên có thành phần dinh dưỡng và giá như ở bảng 5.7 (giá ở ñây chỉ có tính chất ví dụ tính toán). cân bằng khẩu phần thì có thể dùng dưới dạng thức ăn bổ sung mà không ảnh Khi kiểm tra thành phần dinh dưỡng của cỏ khô Alfalfa trong bảng 5.7 thấy rằng 7kg VCK của cỏ này chứa ñủ lượng ME và CP ñể thoả mãn nhu cầu cỏ Ghinê và cỏ Napier (bảng 5.7) những thức ăn rẻ hơn cỏ Alfalfa nhiều. vậy cần xem xét việc sử dụng phối hợp các loại thức ăn trên với nhau. Tuy nhiên, việc phối hợp các thức ăn khác (cỏ Ghinê, cỏ khô Thành phần dinh dưỡng (%) và giá của một số loại thức ăn Bảng 5.8: Giá của mỗi ñơn vị ME và CP của một số loại thức ăn Có nhiều cách ñể cân bằng khẩu phần và ñiều chỉnh khẩu phần ñể ñáp Giả sử ñầu tiên lấy ngô hạt và rơm ñể phối hợp thành một hỗn hợp thức Tỷ lệ của mỗi loại thức ăn trong hỗn hợp cơ sở sẽ là: Tỷ lệ của mỗi loại thức ăn trong hỗn hợp cơ sở sẽ là: Tiếp theo có thể tính lại lượng ME và CP có trong 7 kg VCK của khẩu hàm lượng Ca, P và vitamin A trong khẩu phần ñể có bổ sung nếu thấy thiếu. Từ khối lượng VCK của mỗi loại thức ăn ñã tính ñược trong khẩu phần cho bò ta có thể tính ñược giá thành của khẩu phần bằng cách nhân với giá của VCK của mỗi loại thức ăn ñã tính ñược trong khẩu phần cho bò ta có thể tính ñược khối lượng thức ăn nguyên trạng khi cho ăn bằng cách chia cho hàm lượng VCK của loại thức ăn ñó (bảng 5.7). Vi dụ, lượng rơm cần cho bò ăn là Theo quan niệm mới về cấu trúc khẩu phần và bổ sung dinh dưỡng thì phương pháp phối hợp khẩu phần lý thuyết cho bò có thể gồm các bước như 2. Lập khẩu phần cơ sở từ những loại thức ăn thô sẵn có trên cơ sở khai thác tối ña và ña dạng các loại thức ăn thô nằm trong giới hạn thu nhận vật chất khô cho phép và theo nguyên tắc ưu tiên gia súc cao sản, gia súc non, bò mới ñẻ...cần ưu tiên thức ăn thô xanh chất lượng cao. 3. Tính giá trị năng lượng và protein của khẩu phần cơ sở cung cấp. 4. Tính phần năng lượng và protein còn lại của khẩu phần cơ sở sau khi 5. Bổ sung tối thiểu cho khẩu phần cơ sở bằng một (hoặc vài) loại thức ăn phần thức ăn cơ sở ñã ñiều chỉnh cho phép bằng cách dùng thức ăn tinh hỗn 7. Cân ñối lượng khoáng và vitamin có trong khẩu phần trên, nếu thiếu so Lập khẩu phần ăn cho 1 con bò sữa có khối lượng 500 kg, cho sữa chu các loại thức ăn và giá trị dinh dưỡng của chúng như sau: Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong khẩu phần - Lượng thức ăn thô bò có thể ăn ñược là 2% khối lượng (vì các loại thức ăn thô mà nông hộ có chất lượng trung bình) bằng 2 % x 500 - Giả sử ta cho bò ăn các loại thức ăn thô theo tỷ lệ: 30% cỏ voi, theo chất khô) thì lượng dinh dưỡng mà con bò thu nhận ñược từ thức - Lượng sữa mà con bò có khả năng sản xuất từ thức ăn xơ thô là: - Lượng thức ăn tinh cần cung cấp cho bò sữa: (10 – 3,7)/2 = 3,2 kg (ước tính cứ sản xuất 2 kg sữa cần có 1 kg thức ăn tinh). - Cân ñối hàm lượng protein tiêu hóa trong thức ăn tinh: (810 – - Phối hợp các loại thức ăn tinh ñể có ñược giá trị protein tiêu hóa - Bước tiếp theo là cân ñối khoáng và vitamin, có thể sử dụng - Cho gia súc ăn khẩu phần ñã thiết lập và kiểm tra: Trạng thái Lập khẩu phần cho bò sữa có khối lượng 400 kg, ñang trong chu kỳ sữa Tính toán thức ăn bổ sung cho con bò - Nhu cầu duy trì của bò này (400kg) theo tính toán là 3,88 UFL và 291g - Căn cứ vào bảng giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn hiện có, loại cỏ Như vậy, khẩu phần thức ăn thô cơ sở gồm có 45 kg cỏ voi sẽ có 6,75 kg - Với khẩu phần ăn trên số dinh dưỡng còn lại cho sản xuất sữa là: Như vậy, năng lượng của khẩu phần cơ sở còn cho phép con bò này sản - ðể cân bằng khẩu phần ăn cơ sở cho sản xuất 7 kg sữa tiêu chuẩn/ngày (ngoài duy trì), cần phải cho bò ăn thêm một loại thức ăn bổ sung năng lượng Theo bảng giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn, bột Khẩu phần ăn cơ sở ñã ñiều chỉnh bao gồm 45 kg cỏ voi và 2 kg kg bột ðiều này có thể không có lợi cho quá trình tiêu hoá xơ của phối hợp với) một loại thức ăn bổ sung khác có PDIE thấp hơn PDIN (nếu sẵn có và rẻ hơn) ñể trong khẩu phần cơ sở ñã hiệu chỉnh có thể ñạt ñược PDIN ≅≅≅≅ Thành phần thức ăn tinh bổ sung 0,925 100 105 Lượng thức ăn tinh cần bổ sung 4,0 4,0 ăn tinh bổ sung cho bò sữa này ñể sản xuất số sữa vượt trên 7,75 lít/ngày. Tổng nhu cầu của bò này tính ñược là 11,0 UFL và 1066 g PDI. lượng thức ăn tinh bổ sung thêm phải ñáp ứng ñược 11,00 - 7,30 = 3,70 UFL Giả sử có một loại thức ăn hỗn hợp có 0,925 UFL/kg và có PDIN=PDIE (hay giá trị thấp nhất trong 2 giá trị này) = 100g/kg tổng PDIN hoặc PDIE của khẩu phần chính là số lượng protein tiêu hoá ở (cân ñối N và năng lượng cho VSV dạ cỏ tăng sinh và hoạt ñộng tối ña) người ta phải phối hợp các loại thức ăn sao cho PDIN = PDIE (tính cho toàn khẩu phần) bằng cách phối hợp những thức ăn có các giá trị PDIN và PDIE khác - Thành phần và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn có thể sử dụng. - Giới hạn sử dụng (mức tối ña và tối thiểu) ñối với mỗi loại thức ăn. Mức này ñược ñưa ra dựa vào ñặc ñiểm dinh dưỡng của từng loại thức ăn (chú - Giá của mỗi loại thức ăn tại thời ñiểm sử dụng ñể xây dựng khẩu phần Việc quyết ñịnh sử dụng thức ăn nào trong khẩu phần cũng như việc xác ñịnh giới hạn cho từng loại thức ăn nhằm ñảm bảo hiệu quả sử dụng khẩu phần cao nhất và năng suất của gia súc ñạt ñược mức tối ưu ñòi hỏi người lập khẩu phần phải có kiến thức về dinh dưỡng gia súc nhai lại cũng như kinh Thức ăn và nuôi