Khí tượng hải dương học - Chương 4

Khí tượng hải dương học - Chương 4

Thể loại: Địa Lý
Lượt xem: 58,081Lượt tải: 6Số trang: 41

Mô tả tài liệu

Lục địa của trái đất không phải là một dải liên tục, bao bọc quanh các khối lục địa và các đảo là bồn nước mặn tương đối liên tục tạo thành Đại dương thế giới. Đại dương thế giới chiếm một diện tích lớn của vỏ trái đất. ...

Tóm tắt nội dung

CÁC TÍNH CHẤT TĨNH HỌC CỦA NƯỚC BIỂN khối lục địa và các đảo là bồn nước mặn tương đối liên tục tạo thành Đại dương Xét về thể tích, toàn bộ khối nước của Đại dương thế giới vào khoảng Người ta gọi các mảng nước lớn của Đại dương thế giới được chia cắt bởi lý và chế độ khí tượng thuỷ văn với tính độc lập, đó là: Bắc Băng Dương, Thái Ở một số nước lại áp dụng cách phân chia thành bảy đại dương: Bắc Băng Vị trí tương đối của các đại dương như sau: Thái Bình Dương là đại Biển là phần của đại dương được giới hạn bởi mép các lục địa, các đảo Biển nội lục địa nằm sâu trong lục địa và được nối với đại dương bởi một Vì vậy, chế độ thuỷ văn các biển nội địa khác nhiều với phần Biển ven là phần nước ven các bờ lục địa được ngăn với các đại dương biển này có chế độ thuỷ văn ít khác biệt so với đại dương kế một vùng nước bao bọc bởi các đảo và quần đảo gần khép kín : biển Java Vịnh là vùng nước đại dương hay biển ăn sâu vào lục địa nhưng không tách Phần đáy biển bị ngập nước ở mép ngoài bờ lục địa được coi như sự kéo dài tự nhiên của địa hình bờ, cho tới khu vực có độ sâu biến đổi lớn được gọi là Độ dốc của thềm lục địa rất nhỏ (khoảng 10’) và giới hạn thường lấy ở bề rộng của thềm lục địa ở các vùng biển rất khác nhau. Có thể nói, vùng thềm lục địa được coi như một lục địa nữa của các quốc gia với “Thềm lục địa là phần đáy biển kéo dài một cách tự nhiên theo độ nghiêng của địa hình nằm trong phạm vi có thể khai thác tài nguyên, nơi nào độ Độ dốc trung bình của sườn lục địa trong khoảng từ 30 đến 60. Phần lớn các trung tâm động đất bao trùm vùng ven bờ các đại dương và biển lên liên quan đến hoạt động kiến tạo, gây đột biến về nhiệt độ nước có lúc lên Phần trũng còn lại với diện tích lớn của đáy đại dương được gọi là lòng Ngoài ba khu vực đã nêu ở trên, các khu vực đáy đại dương có độ sâu Thái Bình Dương có 25 trong tổng số 30 vực sâu của đại dương thế ra chất đáy có thể do các quá trình hoá học xảy ra trong đại dương, Các mực nước và độ sâu tương ứng các lần đo độ cao mực nước ở các trạm đo tại một khu biển và trong một khoảng nước này còn gọi là mực số 0 lục đồ (h0: độ cao đê lịch sử quan trắc (nước ròng thấp nhất) ở vùng biển của mỗi quốc ta sử dụng mực nước này làm mực chuẩn 0 mét độ sâu ghi trên Hải đồ Như vậy, ta có thể coi đây là độ sâu tối thiểu của hải điểm được thể hiện trên Hải đồ và tùy thuộc vào độ chính xác của Hải đồ, độ sâu này được coi Độ sâu này liên tục thay đổi theo thời gian và khu biển tùy c, Độ sâu thực tế - H: từ những quy ước của hai độ sâu trên, ta có độ sâu thực tế của mỗi hải điểm trên biển (từ mặt nước đến đáy biển) chính bằng tổng của hai Tuy nhiên cần hiểu độ sâu thực tế theo nghĩa đen của nó là: tại một thời Các mực nước và độ sâu được mô tả ở hình 4.3. Sơ đồ các mực nước và độ sâu tương ứng Các tính chất vật lý, hóa học của nước biển thường của nước khác biệt với một số các vật thể vật lý tăng và đạt cực đại tại 40C, nhiệt độ tiếp tục tăng thì mật độ nước lại khi đó mật độ của đa số các vật thể khác - Băng có nhiệt nóng chảy cực lớn và bằng 79,4 cal/g tức là ở 00C năng - Nhiệt ẩn bốc hơi rất lớn và bằng 539 cal/g ở nhiệt độ 1000C. - Hằng số điện môi ε của nước tại nhiệt độ 200C bằng 81 đơn vị CGSE đến hậu quả trực tiếp là nước có tính chất dễ làm ion hoá (tức làm phân ly các b, Các đồng vị của Oxy và Hydro - nước nặng Như trên đã nói, Oxy và Hydro là hai nguyên tố cơ bản của nước, quyết Sự tồn tại các đồng vị của Hydro và Oxy chứng tỏ rằng, nước là hỗn hợp (T) được gọi là nước cực nặng và trong đại dương chiếm một tỉ lệ nhỏ bé. Nước được coi như là một dung môi, có đặc tính hoà tan các chất khác nhau Nước biển khác với nước ngọt ở lục địa ở chỗ nó giàu thành phần các chất Vì vậy nên tất cả các tính chất của nó đều khác với nước của các chất hoà tan làm biến đổi tính chất của nước biển đến mức có thể nước có ảnh hưởng lớn đến các hiện tượng quang học, âm học và các hiện tượng Nước tinh khiết H12O16 và các thành phần nước nặng có nhiều tính chất và Các tính chất vật lý của nước thường và nước nặng Thành phần hoá học và độ muối của nước biển Như trên đã nêu, về mặt lý thuyết có thể tìm thấy trong nước biển hầu hết các Ngoài các chất khoáng rắn, trong nước biển còn hoà tan một số chất khí Số lượng trung bình các chất rắn hoà tan trong nước đại dương thế giới về Các chất hoà tan có tỷ lệ trong nước biển đáng kể là: Clo - 1,9%, Natri: b, Độ muối của nước biển một ki lô gam nước biển được gọi là độ muối (hay độ mặn) của nước biển. các vùng khác nhau của đại dương thế giới, người ta thấy rằng, hàm lượng Clo Trong nước biển, các muối hoà tan phân ly thành Lượng các ion chính chứa trong nước biển các ion Clo có trong 1 kg nước biển tính theo quan hệ g/kg hay ‰. Tuy vậy, ở các biển kín, thành phần muối có thể khác so với biển khơi nên ở các biển này cần sử dụng các hệ thức phù hợp để lập bảng tính độ muối Khi lập các bảng này, người ta dựa vào hệ thức quy ước giữa độ muối và độ Để tính toán cụ thể độ muối ở các vùng, bằng mối quan hệ giữa độ muối và độ Độ dẫn điện tương đối R15 là tỷ số giữa độ dẫn điện của mẫu nước đang xét với độ dẫn điện của nước biển có S = 35‰ ở cùng nhiệt độ 150C và áp suất Do có các chất khí hoà tan trong nước dẫn đến xuất hiện các axit, trong đó một thể tích nước nhất định, sao cho trong đó không còn tồn tại các ion Cacbonat, Nồng độ của chúng quyết định cái gọi là phản ứng hoạt của nước độ phân ly của axit Cacbonic trong điều kiện cân bằng với các ion đã xác định nồng độ ion Hydrô trong nước bằng một phần mười triệu nồng độ logarit thập phân) của nó nhưng với dấu ngược lại và gọi là độ pH. Người ta xác định rằng, độ pH tăng khi nồng độ của ion Cacbonat tăng và nồng tiêu thụ nhiều Cacbonic của lớp nước mặt độ pH tăng lên, mùa đông khi độ hô độ phân ly axit Cacbonic làm cho nước có tính axit nhiều hơn. Mật độ, trọng lượng riêng và thể tích riêng của nước biển Một trong những đặc trưng quan trọng nhất là mật độ cùng với các khái a, Mật độ nước biển Trong vật lý, mật độ (hay tỷ trọng) của một chất nào đó là khối lượng của Mật độ nước biển trong hải dương học được xác định là Tỷ số giữa trọng lượng một đơn vị thể tích nước biển ở nhiệt độ tại thời điểm quan trắc, với trọng lượng một đơn vị thể tích nước cất ở nhiệt độ 40C, tức nhiệt độ ứng với mật độ Mật độ nước biển 0 bằng mật độ vật lý, vì khối lượng của 1 cm3 nước cất ở nhiệt độ 40C bằng 1. nhiên, theo định nghĩa trên, khái niệm mật độ nước biển không đồng nhất với Mặc dù vậy, trong các tính toán vật lý có sử dụng mật độ nước biển cần Giá trị của mật độ nước biển lớn hơn 1 (giá trị trung bình đối với các đại Giá trị của mật độ nước biển được xác định qua giá trị trọng lượng riêng của nước biển ở nhiệt độ 17,50 so với nước cất ở cùng nhiệt độ 0 trọng lượng riêng của nước biển ở nhiệt độ 00 so với nước cất ở nhiệt độ 40C: người ta dùng khái niệm trọng lượng riêng qui ước ở nhiệt độ 17,50C là: lượng nghịch đảo của mật độ nước biển: Vì mật độ nước biển (với giá trị độ mặn lớn hơn 6‰) ở bất kì nhiệt độ Mật độ nước biển phụ thuộc vào độ mặn và nhiệt độ nước biển. mặn tăng, mật độ tăng vì trong nước có các chất hoà tan với trọng lượng riêng Khi nhiệt độ biến thiên, mật độ nước biển thay đổi theo qui luật phức tạp Đối với nước ngọt, mật độ cực đại ở t0 = 40C, như vậy, khi nhiệt độ giảm Nước biển do có độ mặn nên nhiệt Khi giá trị độ mặn nhỏ hơn 25‰, nhiệt độ tỷ trọng cực đại có trị số lớn ước nước có độ mặn nhỏ hơn 25‰ là nước lợ hay nước pha ngọt, còn cao hơn Áp suất của nước biển, hệ số nén thực Áp suất của nước biển (hay còn gọi là độ nén) là áp lực của cột nước tác Dưới tác dụng của áp suất các lớp nước phía trên nén xuống, nước biển bị mật độ, sự biến đổi đoạn nhiệt của nước biển, độ ổn định, vận tốc âm.... ta tính toán rằng, nếu không tính đến độ nén thì mực nước đại dương sẽ cao hơn Các tính chất nhiệt của nước biển a, Nhiệt dung riêng của nước biển Nhiệt dung riêng của nước biển phụ thuộc vào áp suất - nhiệt dung đẳng áp CP phụ thuộc vào nhiệt độ và độ mặn nước biển theo bảng 4.7 dưới đây. Qua bảng 4.7 ta thấy khi nhiệt độ và độ mặn nước biển tăng, nhiệt dung Nhiệt dung đẳng tích CV của nước biển nhỏ hơn nhiệt dung đẳng áp và có thể tích theo giá trị CP dựa trên các nguyên lý nhiệt động học thứ nhất, thứ hai và =γ dùng để tính vận tốc truyền âm trong nước biển. Đối với nước cất ứng với nhiệt độ 40C (mật độ cực đại) và dưới áp suất Khi nhiệt độ tăng, γ tăng và đạt 1,1022 ở 900C. Đối với nước mặn, theo tính toán của nhà Hải dương học Ekman, với độ hưởng lớn đến tính chất các quá trình nhiệt và động học xảy ra trong khí quyển, nó có ý nghĩa điều hoà nhiệt độ: đại dương dự trữ nhiệt vào mùa nóng và dần b, Độ dẫn nhiệt của nước biển Độ dẫn nhiệt của nước biển là lượng nhiệt truyền trong một đơn vị thời gian qua một đơn vị diện tích đặt vuông góc với hướng của gradien nhiệt độ khi được thực hiện bởi các phân tử nước trong chuyển động hỗn loạn của chúng Trong đại dương, sự biến đổi nhiệt độ hay gradien nhiệt độ theo phương Chẳng hạn đối với nước cất ở nhiệt độ 150C, hệ số đó bằng 10-3 Cal/cm.độ còn với nước mặn có giá trị nhỏ hơn (khoảng và hệ số dẫn nhiệt này sẽ tăng khi nhiệt độ và áp suất truyền nhiệt phân tử phải qua 1000 năm sau, nhiệt độ nước ở độ sâu 300 Độ dẫn nhiệt phân tử chỉ có ý nghĩa khi biển ở trạng thái ổn định hoặc các để biến 1 gam nước thành hơi nước ở cùng một nhiệt độ (quá trình này ngược Đối với nước cất trong khoảng nhiệt độ từ 00C đến 300C, ẩn nhiệt bốc hơi Công thức này cũng được áp dụng để tính lượng bốc hơi của nước biển. Qua công thức (2.20) ta thấy ẩn nhiệt hoá hơi của nước biển rất lớn, với nhiệt độ nước biển < 1000C, giá trị này cũng lớn hơn 590 vai trò quan trọng trong cân bằng nhiệt của mặt phân cách giữa đại dương thành phần dương và là phần âm của đại ra khi chuyển 1 gam nước thành băng ở cùng nhiệt độ. 1 gam băng biển ở nhiệt độ t và độ muối s Đối với băng biển, khi băng tan, nhiệt độ tăng liên tục nên ta xem xét khái niệm này là số ca lo cần thiết để làm tan hết 1 gam băng biển với nhiệt độ ban đầu là biển và để làm tăng nhiệt độ băng tinh khiết và nước muối tạo thành khi băng nhiệt đó được tính toán trong bảng 4.8 phía trên ứng với độ muối từ 15‰. d, Nhiệt độ nước biển Nhiệt độ nước biển là đại lượng vật lý đặc trưng cho nhiệt độ của một thể Trong Hải dương học, nhiệt độ nước biển tầng mặt được xác định bằng nhiệt kế đo nhiệt độ nước đặt ở độ sâu 1 mét. Sau đó, ở các độ sâu khác nhau, Giá trị của nhiệt độ nước biển phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trước ra nhiệt độ tầng mặt còn liên quan đến bình lưu nhiệt của các khối không khí, các dòng chảy nóng lạnh, ảnh hưởng của trao đổi nhiệt với vùng bờ biển, với trạng thái mưa .v.v. Ở các lớp nước sâu, giá trị nhiệt độ nước biển phụ thuộc nhiều vào các quá trình xáo trộn của nước biển. Sự biến đổi của nhiệt độ nước có ý nghĩa lớn đến sự ổn định của các lớp e, Một số đặc điểm phân bố độ muối, nhiệt độ, mật độ nước đại dương thế giới Độ muối, nhiệt độ và mật độ nước biển là những đặc trưng lý hoá quan trọng Trên tất cả các đại dương (trừ biển), độ muối ở lớp nước mặt phân bố ít Sự phân bố độ muối liên quan nhiều đến các yếu tố, trong đó quan trọng Sự phân bố độ muối theo phương nằm ngang ở các lớp nước sâu khác với lớp nước mặt, nguyên nhân là do tác động của dòng chảy tầng sâu và sự phân bố Sự phân bố của độ muối theo phương thẳng đứng ở các vĩ độ không giống Trong hình 4.6, ta thấy sự phân bố độ muối ở vùng cực và cận cực có độ muối muối mà đặc trưng cơ bản của lớp này là Gradien độ muối theo phương thẳng đứng Tuy nhiên sự biến thiên theo độ sâu của độ muối chỉ khoảng 2 đến Dao động theo thời gian của độ mặn không đáng kể, ở một điểm nhất định * Phân bố nhiệt độ nước Nhiệt độ nước tầng mặt về cơ bản phân bố giảm dần theo vĩ độ, trị số cực đại của nhiệt độ nước tầng mặt nằm ở phía Bắc xích đạo địa lý-ở vùng gọi là Giá trị cực đại của nhiệt độ nước trên đại dương thế giới là +360C, cực tiểu -20C và giá trị trung bình bằng 17,40C, cao hơn nhiệt độ trung bình của không khí là độ nước mặt trung bình ở Thái Bình Dương là 19,10C, ở Đại Tây Phân bố nhiệt độ nước theo độ sâu có xu hướng chung là giảm, điều này lạnh ở dưới và kéo dài xuống tận đáy với nhiệt độ từ 20C đến 40C. này thường ở độ sâu ứng với mặt đẳng nhiệt 80C đến 100C. đến 1000 mét, còn ở vĩ độ cao, nơi mà từ tầng mặt đến đáy có nhiệt độ khá đồng nước theo độ sâu ở một số Phân bố nhiệt độ nước theo độ sâu Dao động năm của nhiệt độ nước đại dương tầng mặt khá lớn. dao động đạt cực đại ở vùng vĩ độ 400N và 300S đến 400S với giá trị khoảng giá trị biên độ nhiệt trong năm theo vĩ độ ở các đại độ dao động năm của các lớp nước sâu cũng khá lớn và có thể lan tới trời theo độ sâu còn liên quan đến sự truyền nhiệt rối và chuyển động thẳng Sự phân bố mật độ nước biển theo phương ngang (vĩ độ) phụ thuộc vào sự phân bố nhiệt độ nước và độ muối. Tuy nhiên, nhiệt độ nước biển là yếu tố chính chi phối đến sự phân bố mật Với giá trị cực đại của mật độ ở nhiệt độ - 1,40C do đó xét theo vĩ độ địa lý, mật độ có giá trị cực đại ở hai cực với trị số bằng quan đến nhau của nước đại dương tầng mặt. Sự phân bố của mật độ nước như trên tạo nên sự chênh lệch mật độ giữa Vì vậy, nước bề mặt ở vĩ độ cao (nước lạnh) chìm xuống và chuyển về vĩ nhiệt độ nước tầng mặt (3) theo vĩ độ Độ dẫn điện và độ phóng xạ của nước biển a, Độ dẫn điện của nước biển Nước biển là dung dịch các muối bị ion hoá hầu như hoàn toàn và do đó Độ dẫn điện của nước biển tăng khi nhiệt độ và độ muối tăng. Từ biểu đồ (hình 4.10), ta thấy khi độ mặn từ 6‰ đến 40‰ và nhiệt độ từ 00C đến 240C, độ dẫn điện của nước biển tăng từ 0,00574 đến 0,0585 Độ dẫn điện của nước biển được tính theo bảng 4.9 Độ dẫn điện của nước biển Độ dẫn điện của nước biển phụ thuộc t0 và S‰ b, Độ phóng xạ của nước biển Độ phóng xạ của nước biển, trầm tích đáy và các động thực vật biển được Các đồng vị phóng xạ có trong nước biển gồm tất cả các chất phóng xạ. Trong đó nồng độ phóng xạ được biểu thị bằng gam/lít và độ phóng xạ riêng của Các giá trị về nồng độ và độ phóng xạ riêng của các chất được cho trong Độ phóng xạ của nước biển tính bằng gam trong một lít nước biển, hiện nay độ phóng xạ tự nhiên của nước biển chủ yếu được xác định bởi đồng vị phóng xạ Kali (K40) và độ phóng xạ các đại dương, độ phóng xạ thực tế tăng gấp hai lần độ phóng xạ tự nhiên, riêng (thử vũ khí hạt nhân), độ phóng xạ của nước biển tăng lên hàng trăm ngàn, thậm - “vòng lửa” với thể tích 5.1012 cm3 thì độ phóng xạ cảm ứng của nước đạt tới giá tự nhiên của nước biển, nhất là chất đáy đất sét đỏ chứa nhiều sắt, số tính chất quang học của nước biển. Khi các tia sáng chiếu xuống mặt biển trong thành phần các tia tán xạ và khí quyển, một phần bị khúc xạ đi vào các lớp nước và bị nước biển hấp thụ. Do nước biển là một môi trường trong suốt nên ánh sáng sẽ bị phản xạ, Nước biển hấp thụ ánh sáng có tính chọn lọc theo bước sóng của các tia b, Độ trong suốt của nước biển Theo định nghĩa về vật lý thì độ trong suốt của nước biển là tỉ số giữa về độ trong suốt tương đối: “Độ trong suốt của nước biển được hiểu là độ sâu, Bản chất vật lý của việc chiếc đĩa trắng bị biến mất ở độ sâu nhất định là Độ sâu trong suốt của nước biển trung bình trên đại dương vào khoảng 30 Độ trong suốt cực đại quan sát được ở vùng biển Xácgatx bằng 66,5 mét là màu nhìn thấy của mặt biển và màu của nước biển. Màu bản thân của nước biển là hậu quả của sự hấp thụ và tán xạ có chọn lọc, tức là phụ thuộc vào những tính chất quang học của nước, độ dày lớp nước Khi đề cập đến màu nước biển, cần phải qui ước là màu nước ở độ sâu Nếu xem xét tới độ suy yếu có chọn lọc của ánh sáng ở biển thì có thể tính được rằng, ngay cả với nước đại dương tinh khiết ở độ sâu 25 mét ánh sáng nước có màu xanh lục (xanh nước biển), đến độ sâu 100 mét chỉ còn phổ màu của nước mà cả vào yếu tố bên ngoài như sự phản xạ và tán xạ ánh sáng, các Màu biển khi không có các hạt lơ lửng được quyết định bởi tỉ lệ và thành rằng ở đó không có tạp chất và nước hoàn toàn trong suốt. Nếu nước biển có các hạt lơ lửng sẽ làm tăng độ tán xạ và sản sinh ra các d, Sự phát sáng trong nước biển và sự biến màu biển Những tính chất âm học của nước biển a, Các yếu tố ảnh hưởng đến sự truyển âm trong nước biển Sự lan truyền các dao động âm trong nước biển là một hiện tượng phức tạp, phụ thuộc vào phân bố nhiệt độ và độ muối, sự thay đổi áp suất, độ sâu của biển và tính chất đáy biển, trạng thái mặt biển, độ vẩn đục của nước do các tạp chất hữu cơ và vô cơ lơ lửng trong nước, sự có mặt của các chất hoà tan. Về phương diện âm học, nước biển là một môi trường không đồng đó trước hết thể hiện ở sự biến đổi mật độ theo độ sâu, làm thay đổi cả vận tốc âm theo độ sâu và sự truyền các dao động âm không theo quĩ đạo thẳng mà truyền trong nước biển có chứa các bọt khí, các hạt lơ lửng và sinh vật phù du Ngoài ra, khi nghiên cứu sự truyền âm trong nước biển cần phải tính đến hiện tượng phản xạ âm do trạng thái mặt biển (sóng biển) và tính chất của đáy chính xác về sự truyền âm trong nước biển hết sức phức tạp vì có nhiều tham số. Sự truyền âm trong nước là do hiện tượng co dãn tuần hoàn của nước theo Công thức lý thuyết của vận tốc âm đối với chất lỏng và chất khí là: Thể tích riêng α và hệ số nén K của nước biển phụ thuộc vào nhiệt độ t, Vì vậy, vận tốc âm trong nước cũng phụ thuộc vào các Khi nhiệt độ nước biển thay đổi, thể tích riêng và hệ số nén cũng thay đổi nhiệt độ nước tăng, vận tốc âm tăng lên đáng kể vì thể tích riêng tăng, hệ số nén Vì thế ảnh hưởng của nhiệt độ lên vận tốc âm sẽ lớn hơn so với các nhân Độ muối của nước biến đổi làm thay đổi cả thể tích riêng lẫn hệ số nén. Tuy nhiên, ảnh hưởng của sự thay đổi độ muối bởi hai yếu tố hệ số nén và thể ứng với nước có độ muối lớn hơn đó: Ct là lượng hiệu chỉnh do sự chênh lệch nhiệt độ t so với 00C ; CS là Với độ muối không vượt quá 40 ‰ và nhiệt độ nước biển không quá Trong nước biển, năng lượng âm bị hấp thụ và suy yếu do độ nhớt và độ nhớt và độ dẫn nhiệt của nước, còn β hf là hệ số hấp thụ trong quá trình hồi phục. Sự tán xạ âm trong biển gây ra bởi các tạp chất tồn tại trong nước (các bọt Kết quả của sự hấp thụ và tán xạ âm làm suy giảm cường độ âm dẫn đến sự tắt dần của âm truyền trong môi trường nước biển: Tính chất của sự khúc xạ âm được xác định bởi dấu và độ lớn của gradien theo độ sâu sang khúc xạ trừ ở lớp dưới, nơi mà vận tốc âm giảm theo độ sâu khúc xạ, cần phải chú ý đến hiện tượng phản xạ các tia âm từ mặt và đáy không đạt đến mặt và đáy IV: Các tia phản xạ nội toàn phần trong nước, không đạt tới mặt và biển, các tia này bị phản xạ từ mặt và một lần nữa bị phản xạ nội toàn phần lại của các tia nhóm này đến cường độ âm không đáng kể. vận tốc âm biến đổi và không biến đổi theo độ sâu, các tia âm có quĩ đạo vòng sau tia phản xạ nội toàn phần ở sát mặt biển được gọi là vùng tối âm vì trước khi đến tính đẳng nhiệt của lớp mặt, trong đó ảnh hưởng của áp suất lên vận tốc âm Kênh âm ngầm có thể được định nghĩa như là lớp nước mà các tia âm Từ việc phân tích phân bố của nhiệt độ nước đại dương theo phương thẳng đứng, ta thấy rằng, nhiệt độ nước trong lớp mặt thường giảm đến một độ ta có thể kết luận rằng, sự biến đổi vận tốc âm theo độ sâu trong lớp nước mặt hưởng của nhiệt độ nước đóng vai trò quan trọng nhất. Vì vậy, trong các đại dương, vận tốc âm lúc đầu giảm theo độ sâu theo độ suy giảm của nhiệt độ nước và đạt cực tiểu ở độ sâu, nơi mà tại đó gradien nhiệt các đại dương khác nhau, độ sâu trục kênh âm sẽ khác nhau. Ở Thái Bình Dương, ở vùng cực của cả hai bán cầu, độ sâu trục kênh nằm ở Sự xáo trộn và độ ổn định của nước biển Sự phân bố các đặc trưng vật lý của nước biển điển hình là nhiệt độ, độ muối và mật độ theo phương nằm ngang và thẳng đứng khác nhau tạo nên các Cường độ rối trong lớp đáy phụ thuộc vào độ gồ ghề của đáy biển. của các lớp nước. Mật độ có thể tăng lên do độ muối của tầng mặt tăng khi tạo quả xáo trộn các khối nước có nhiệt độ và độ muối khác nhau. Để làm xuất hiện xáo trộn đối lưu giữa hai lớp nước, đòi hỏi nhiệt độ và Sau khi xáo trộn, nhiệt độ và độ muối sẽ bằng giá trị trung bình có tính đến độ dày của các lớp đó. nước ngọt âm và biến trình năm của nhiệt độ và độ muối nhỏ. nước tại các vùng nước ven bờ ở vùng nhiệt đới Thái Bình Dương dưới tác dụng Độ ổn định của các lớp nước biển theo phương thẳng đứng Độ ổn định của các lớp nước biển là gradien mật độ nước theo phương Độ ổn định là đặc trưng định lượng của điều kiện cân bằng các lớp nước quá trình xáo trộn các phần tử nước được chuyển dịch từ lớp này đến Khi các phần tử nước đi từ độ sâu nhỏ đến độ sâu lớn (chìm xuống) mật tăng vì bị nén, hay còn gọi là sự tăng đoạn nhiệt của nhiệt độ. Nếu mật độ của phần tử nước đi tới ở một độ sâu nào đó lớn hơn mật độ ở Nếu mật độ của phần tử và môi trường xung quanh bằng nhau và không gian có ý nghĩa lớn trong khi nghiên cứu các khối nước của đại dương. ổn định có thể biết được vị trí và biên giới của các lớp nước có gradien mật độ Giới hạn của các khối nước có nguồn gốc khác nhau, các đới hội tụ và phân kì dòng, độ sâu xuất hiện đối lưu và các quá trình khác. Đáy lỏng là tên gọi của lớp nhảy vọt mật độ (lớp có độ ổn định lớn nhất) ở đó gradien mật độ theo phương thẳng đứng đủ lớn để tàu ngầm có thể nằm bất Trong đó: ρ - Mật độ nước biển có kể đến độ nén; Nếu ta bỏ qua độ nén của nước và độ giãn nở nhiệt của tàu, cho mật độ nước bằng đơn vị, độ biến đổi áp suất trên một mét độ sâu bằng 0,1 kg/cm2, việc Trong đó: ∆ρ - Độ biến đổi mật độ nước; ∆D - Độ biến đổi trọng lượng (trọng lượng choán nước)của tàu trên một mét độ sâu tính cho một tấn trọng lượng nước choán: 1. Nêu cơ sở để phân chia các đại dương và các thông số về giới hạn địa lý, diện tích, độ sâu các đại dương? 4. Nêu khái niệm và ý nghĩa các mực nước và độ sâu thường dùng trong hàng Vẽ sơ đồ các mực nước và độ sâu tương ứng? 5. Khái niệm về độ mặn (độ muối) của nước biển? 6. Khái niệm về mật độ và mật độ quy ước và thể tích riêng của nước sự ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn tới mật độ nước biển, vận dụng giải thích sự phân bố mật độ nước biển theo vĩ độ? lượng hệ số nén thực của nước biển?