Triết học Phần 3

Triết học Phần 3

Thể loại: Triết học
Lượt xem: 12,349Lượt tải: 3Số trang: 10

Mô tả tài liệu

Mạnh Tử đã đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở đạo nhân của Khổng Tử, đề ra thuyết "tính thiện", ông cho rằng, "thiên mệnh" quyết định nhân sự, nhưng con người có thể qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức cái gọi "tận tâm, tri tính, tri thiên", "vạn vật đều có đủ trong ta".

Tóm tắt nội dung

Mạnh Tử đã đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở đạo nhân của Khổng Tử, đề ra thuyết "tính thiện", ông cho rằng, "thiên mệnh" quyết định nhân sự, nhưng con người có thể qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức cái gọi "tận tâm, tri tính, tri thiên", "vạn vật đều có đủ trong ta". Ông hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận. Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho gia, nhưng trái với Mạnh Tử, ông cho rằng con người vốn có "tính ác", coi thế giới khách quan có quy luật riêng. Theo ông sức người có thể thắng trời. Tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ. Kinh điển của Nho gia thường kể tới bộ Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư có Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử. Ngũ kinh có: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những người sáng lập Nho gia nói về vũ trụ và tự nhiên không nhiều. Họ thừa nhận có "thiên mệnh", nhưng đối với quỷ thần lại xa lánh, kính trọng. Lập trường của họ về vấn đề này rất mâu thuẫn. Điều đó chứng tỏ tâm lý của họ là muốn gạt bỏ quan niệm thần học thời Ân - Chu nhưng không gạt nổi. Quan niệm "thiên mệnh" của Khổng Tử được Mạnh Tử hệ thống hóa, xây dựng thành nội dung triết học duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia. - Về đạo đức Nho giáo sinh ra từ một xã hội chiếm hữu nô lệ trên đường suy tàn, vì vậy, Khổng Tử đã luyến tiếc và cố sức duy trì chế độ ấy bằng đạo đức. "Đạo" theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hóa của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con người, do con người lập nên. Trong Kinh Dịch, sau hai câu "Lập đạo của trời, nói âm và dương", "Lập đạo của đất, nói nhu và cương" là câu "Lập đạo của người, nói nhân và nghĩa". "Nhân nghĩa" theo cách hiểu thông thường thì "nhân là lòng thương người", "nghĩa" là dạ thủy chung; bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc; mọi đức khác của con người đều từ nhân nghĩa mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương và nhu cương mà ra. Đức "nhân" xét trong mối liên hệ với đức "nghĩa" thì "nhân" là bản chất của “nghĩa”, bản chất ấy là thương người. Đức trong mối liên hệ với "nhân" thì "nghĩa" là hình thức của "nhân". "Nghĩa" là phần ta phải làm. Đó là mệnh lệnh tối cao. Với Nho gia, "nghĩa" và "lợi" là hai từ hoàn toàn đối lập. Nhà Nho phải biết phân biệt "nghĩa" và "lợi" và sự phân biệt này là PDF Merge and Split Version - quan trọng trong giáo dục đạo đức. "Đạo Nhân" có ý nghĩa rất lớn với tính của con người do trời phú. Tính của con người do trời phú mà cứ buông lơi, thả lỏng trong cuộc sống thì tính không thể tránh khỏi tình trạng biến chất theo muôn vàn tập tục, tập quán. Trong hoàn cảnh ấy con người có thể trở thành vô đạo, dẫn đến cả nước vô đạo và thiên hạ vô đạo. Vì vậy, Khổng Tử khuyên nên coi trọng "giáo" hơn "chính", đặt giáo hóa lên trên chính trị. "Đức" gắn chặt với đạo. Từ "đức" trong kinh điển Nho gia thường được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩm chất tốt đẹp của con người trong tâm hồn ý thức cũng như hình thức, dáng điệu, v.v.. Có thể diễn đạt một cách khái quát kinh điển Nho gia về mối quan hệ giữa đạo và đức trong cuộc sống con người: đường đi lối lại đúng đắn phải theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp là đạo; noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm. Trong kinh điển Nho gia, ta thấy năm quan hệ lớn, bao quát gọi là "ngũ luân" đã được khái quát là: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em (hoặc trưởng ấu), bầu bạn. Khi nói đến những đức thường xuyên phải trau dồi, căn cứ hai chữ "ngũ thường" trong Kinh Lễ, nhiều danh nho đã nêu lên năm đức (gọi là ngũ thường): Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tóm lại, nội dung cơ bản đạo đức của Nho gia là luân thường. "Luân" có năm điều chính gọi là "ngũ luân", đều là những quan hệ xã hội, trong đó có ba điều chính là vua tôi, cha con, chồng vợ gọi là tam cương. Trong ba điều lớn này có hai điều mấu chốt là quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con biểu hiện bằng chữ hiếu. Giữa trung và hiếu thì trung là ưu tiên. Chữ trung đứng đầu ngũ luân. "Thường" có năm điều chính gọi là "ngũ thường", đều là những đức tính do trời phú cho mỗi người: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa. Trong nhân nghĩa thì nhân là chủ. Đạo của Khổng Tử trước hết là Đạo nhân. Luân và thường gắn bó với nhau, nhưng trên lý thuyết và trong thực tiễn luân đứng trước thường. - Về chính trị Chủ trương làm cho xã hội có trật tự, Khổng Tử cho rằng trước hết là thực hiện "chính danh". Chính danh có nghĩa là một vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với cái danh nó mang. Vậy, trong xã hội, mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn phận mà những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn phận phù hợp với danh ấy. Đó là ý nghĩa thuyết chính danh của Khổng Tử. Về cách trị nước an dân, Nho gia kiên trì vương đạo và chủ trương lễ trị. "Lễ" hiểu theo nghĩa rộng là những nghi thức, quy chế, kỷ cương, trật tự, tôn ti của cuộc sống chung trong cộng đồng xã hội và cả lối cư xử hàng ngày. Với nghĩa này, Lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức bảo đảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn, đồng thời nhằm ngăn ngừa những hành vi và tình cảm cá nhân thái quá. "Lễ" hiểu theo nghĩa một đức trong "ngũ thường" thì là sự thực hành đúng những PDF Merge and Split Version - huấn kỷ cương, nghi thức do Nho gia đề ra cho những quan hệ "tam cương", "ngũ luân", "thất giáo" và cho cả sự thờ cúng thần linh. Đã là người thì phải học lễ, biết lễ và có lễ. Con người học lễ từ tuổi trẻ thơ. Với ý nghĩa này, "Lễ" là nội dung cơ bản của lễ giáo đạo Nho. Lễ với những cách hiểu trên là cơ sở, là công cụ chính trị, là vũ khí của một phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của Nho giáo. Phương pháp ấy gọi là "lễ trị". Lễ, có thể đưa tất cả hoạt động vào nền nếp, có thể ngăn chặn mọi lỗi lầm sắp xảy ra. Vì vậy, những điều quy định về lễ vốn ra đời rất sớm, nhiều và tỷ mỷ hơn những điều về pháp luật. Với đối tượng đông đảo là nông dân lao động, lớp trẻ và phụ nữ, Đạo Nho cho họ là đối tượng dễ “sai khiến” thì những quy định về lễ mà rườm rà, phiền phức, cay nghiệt sẽ làm cho họ mất đi nhiều về phẩm chất con người. Từ kinh nghiệm của mình, Khổng Tử đã tổng kết được nhiều quy luật nhận thức, nhưng chủ yếu là thực tiễn giáo dục và về phương pháp học hỏi. Để đạt tới "đạo nhân", Nho gia rất quan tâm tới giáo dục. Do không coi trọng cơ sở kinh tế - kỹ thuật của xã hội, cho nên giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào rèn luyện đạo đức con người. Nhưng, tư tưởng về giáo dục, về thái độ và phương pháp học tập của Khổng Tử chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng Nho gia. Nho gia được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với các tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống). Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản: Một là hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa những quan điểm triết học Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến. Đổng Trọng Thư (thời Hán) người mở đầu xu hướng này đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh. Hai là hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia thông qua con đường dung hợp nhiều lần giữa Nho, Đạo, Pháp, Âm Dương, Ngũ hành và Phật giáo. Điểm khởi đầu của sự dung hợp ấy là thời Hán và điểm chung kết của sự dung hợp ấy là dưới thời nhà Tống. c) Đạo gia Người sáng lập là Lão Tử, họ là Lý, tên là Nhĩ, người nước Sở, sống vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Lão Tử tiếp nhận tư tưởng của Dương Chu, của Âm Dương Ngũ hành và phép biện chứng của Kinh Dịch để sáng lập nên Đạo gia. Tư liệu tư tưởng là cuốn Đạo Đức Kinh. Trang Tử (khoảng 396 - 286 tr. CN) họ Trang, tên Chu, là một ẩn sĩ. Ông đã phát triển học thuyết Lão Tử xây dựng một hệ thống tư tưởng sâu sắc thể hiện trong cuốn Nam Hoa Kinh. PDF Merge and Split Version - tưởng triết học: Quan điểm về đạo. "Đạo" là sự khái quát cao nhất của triết học Lão - Trang. ý nghĩa của nó có hai mặt: thứ nhất Đạo là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời đất, không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là "đạo". Vì "đạo" quá huyền diệu, khó nói danh trạng nên có thể quan niệm ở hai phương diện "vô" và "hữu". "Vô" là nguyên lý vô hình, là gốc của trời đất. "Hữu" là nguyên lý hữu hình là mẹ của vạn vật. Công dụng của đạo là vô cùng, đạo sáng tạo ra vạn vật. Vạn vật nhờ có đạo mà sinh ra, sự sinh sản ra vạn vật theo trình tự "đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật". Đạo còn là chúa tể vạn vật và đạo là phép tắc của vạn vật. Thứ hai, Đạo còn là quy luật biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức. "Đạo" sinh ra vạn vật [vì nó là nguyên lý huyền diệu], đức bao bọc, nuôi dưỡng tới thành thục vạn vật (là nguyên lý của mỗi vật). Mỗi vật đều có đức mà đức của bất kỳ sự vật nào cũng từ đạo mà ra, là một phần của đạo, đức nuôi lớn mỗi vật tùy theo đạo. Đạo đức của Đạo gia là một phạm trù vũ trụ quan. Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử sáng tạo ra phạm trù Hữu và Vô, trở thành những phạm trù cơ bản của lịch sử triết học Trung Hoa. Quan điểm về đời sống xã hội: Lão Tử cho rằng bản tính nhân loại có hai khuynh hướng "hữu vi" và "vô vi". "Vô vi" là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức hợp thể với đạo. Vì vậy, Lão Tử đưa ra giải pháp cho các bậc trị nước là "lấy vô vi mà xử sự, lấy bất ngôn mà dạy đời. Để lập quân bình trong xã hội, phải trừ khử những "thái quá" nâng đỡ cái "bất cập", lấy "nhu nhược thắng cương thường", "lấy yếu thắng mạnh", "tri túc" không "cạnh tranh bạo động", "công thành thân thoái", "dĩ đức báo oán". Trang Tử thổi phồng một cách phiến diện tính tương đối của sự vật cho rằng trong phạm trù "đạo" "vạn vật đều thống nhất". Ông đề ra tư tưởng triết học nhân sinh "tề vật", tức là đối xử như một (tề nhất) đối với những cái tương phản, xoá bỏ đúng sai. Mục đích của ông là đặt phú quý, vinh nhục ra một bên tiến vào vương quốc "tiêu dao", thanh đạm, đạm bạc, lặng lẽ, vô vi... Về nhận thức: Lão Tử đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể. Ông cho rằng "không cần ra cửa mà biết thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời". Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tương đối của mình mà chỉ ra rằng, nhận thức của con người đối với sự vật thường có tính phiến diện, hạn chế. Nhưng ông đã rơi vào quan điểm bất khả tri, cảm thấy "đời có bờ bến mà sự hiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cái vô bờ bến là không được". Ông lại cho rằng, ngôn ngữ và tư duy lôgíc không khám phá được Đạo trong vũ trụ. Trong ba thời kỳ: Sơ Hán, Ngụy Tấn, Sơ Đường, học thuyết Đạo gia chiếm địa vị thống trị về tư tưởng trong xã hội. Suốt lịch sử hai ngàn năm, tư tưởng Đạo gia tồn tại như những tư tưởng văn hóa truyền thống và là sự bổ sung cho triết học Nho gia. B. Lịch sử triết học Tây Âu trước Mác Lịch sử triết học Tây Âu được phân ra nhiều giai đoạn: Triết học cổ đại trong sự PDF Merge and Split Version - kỳ chỉ giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ; triết học trung cổ chỉ giai đoạn xã hội phong kiến; triết học cận đại chỉ giai đoạn xã hội tư bản đang hình thành và phát triển. Còn triết học cổ điển Đức chỉ giai đoạn triết học ở Đức thế kỷ XVIII - XIX. I- Triết học Hy Lạp Cổ đại 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại Tư tưởng triết học ra đời ở xã hội Hy Lạp cổ đại, xã hội chiếm hữu nô lệ với những mâu thuẫn gay gắt giữa tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Những cuộc xâm lăng từ bên ngoài đã làm suy yếu nền kinh tế thủ công Hy Lạp. Do thuận lợi về đường biển nên kinh tế thương nghiệp khá phát triển. Một số ngành khoa học cụ thể thời kỳ này như toán học, vật lý học, thiên văn, thuỷ văn, v.v. bắt đầu phát triển. Khoa học hình thành và phát triển đòi hỏi sự khái quát của triết học. Nhưng tư duy triết học thời kỳ này chưa phát triển cao; tri thức triết học và tri thức khoa học cụ thể thường hoà vào nhau. Các nhà triết học lại cũng chính là các nhà khoa học cụ thể. Thời kỳ này cũng diễn ra sự giao lưu giữa Hy Lạp và các nước ảrập phương Đông nên triết học Hy Lạp cũng chịu sự ảnh hưởng của triết học phương Đông. Sự ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại có một số đặc điểm như: gắn hữu cơ với khoa học tự nhiên, hầu hết các nhà triết học duy vật đều là các nhà khoa học tự nhiên; sự ra đời rất sớm chủ nghĩa duy vật mộc mạc, thô sơ và phép biện chứng tự phát; cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm biểu hiện qua cuộc đấu tranh giữa đường lối triết học của Đêmôcrít và đường lối triết học của Platôn, đại diện cho hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc; về mặt nhận thức, triết học Hy Lạp cổ đại đã theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy giác. 2. Một số triết gia tiêu biểu a) Hêraclit (520 - 460 tr. CN) là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại. Khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải là nước, apeirôn, không khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật. "Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng". Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng. "Cái chết của lửa - là sự ra đời của không khí, và cái chết của không khí là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí, từ cái chết của không khí - lửa, và ngược lại"1. Bản thân vũ trụ không phải do chúa Trời hay một lực lượng siêu nhiên thần bí nào tạo ra. Nó "mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi". Ví toàn bộ vũ trụ tựa như ngọn lửa bất diệt, Hêraclit đã tiếp cận được với quan niệm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới. 1 Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, Nxb. Tư tưởng, Mátxcơva, 1955, tr. 48 (tiếng Nga). PDF Merge and Split Version - con mắt của Hêraclit, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Luận điểm bất hủ của Hêraclit: "Chúng ta không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông". thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong các mối quan hệ khác nhau. Chẳng hạn, "một con khỉ dù đẹp đến đâu nhưng vẫn là xấu nếu đem so nó với con người"2. Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời. Điều đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng. Vì thế đấu tranh là vương quốc của mọi cái, là quy luật phát triển của vũ trụ. Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập luôn diễn ra trong sự hài hoà nhất định. b) Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 tr. CN) là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại. Nổi bật trong triết học duy vật của Đêmôcrít là thuyết nguyên tử. Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được nữa, hoàn toàn nhỏ bé và không thể cảm nhận được bằng trực quan. Nguyên tử là vĩnh cửu không thay đổi trong lòng nó không có cái gì xảy ra nữa. Nguyên tử có vô vàn hình dạng. Theo quan niệm của Đêmôcrít, các sự vật là do các nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên. Tính đa dạng của nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật. Nguyên tử tự thân, không vận động, nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể thì làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng. Linh hồn, theo Đêmôcrít, cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo từ các nguyên tử đặc biệt có hình cầu, linh động như ngọn lửa, có vận tốc lớn, luôn luôn động và sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vận động. Do đó linh hồn có một chức năng quan trọng là đem lại cho cơ thể sự khởi đầu vận động. Trao đổi chất với môi trường bên ngoài cũng là một chức năng của linh hồn và được thực hiện thông qua hiện tượng thở của con người. Như vậy linh hồn là không bất tử, nó chết cùng với thể xác. phân nhận thức con người thành dạng nhận thức do các cơ quan cảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính. Nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưa đem lại chân lý. Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phép đạt chân lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, tính đa dạng của thế giới là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử. đã có những quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Theo ông, phẩm chất con người không phải ở lời nói mà ở việc làm. Con người cần hành động có đạo đức. Còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ, khả năng tinh thần nói chung, đỉnh cao của hạnh phúc là trở thành nhà thông thái, trở thành công dân của thế giới. 2 Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại, Nxb. Tư tưởng, Mátxcơva, 1955, tr. 49 (tiếng Nga). PDF Merge and Split Version - Platôn (427 - 347 tr. CN) Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết về ý niệm. Trong học thuyết này, Platôn đưa ra quan niệm về hai thế giới: thế giới các sự vật cảm biết và thế giới ý niệm. Theo ông, thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn, vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, luôn luôn thay đổi, vận động, trong chúng không có cái gì ổn định, bền vững, hoàn thiện. Còn thế giới ý niệm là thế giới của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực và các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết. Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước là do ý niệm siêu tự nhiên về cái cây, con ngựa, nước sinh ra. Hoặc khi nhìn các sự vật thấy bằng nhau là vì trong đầu ta đã có sẵn ý niệm về sự bằng nhau. Từ quan niệm trên, Platôn đưa ra khái niệm "tồn tại" và "không tồn tại". "Tồn tại" theo ông là cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệ siêu nhiên, là cái có tính thứ nhất. Còn "không tồn tại" là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Như vậy, học thuyết về ý niệm và tồn tại của Platôn mang tính chất duy tâm khách quan rõ nét. Lý luận nhận thức của Platôn cũng có tính chất duy tâm. Theo ông tri thức, là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Do vậy nhận thức con người không phải là phản ánh các sự vật của thế giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã lãng quên trong quá khứ. Trên cơ sở đó, Platôn phân hai loại tri thức: tri thức hoàn toàn đúng đắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt. Loại thứ nhất là tri thức ý niệm, tri thức của linh hồn trước khi nhập vào thể xác và có được nhờ hồi tưởng. Loại thứ hai lẫn lộn đúng sai, là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảm tính, ở đó không có chân lý. Những quan niệm về xã hội của Platôn thể hiện tập trung trong quan niệm về nhà nước lý tưởng. Ông đã phê phán ba hình thức nhà nước trong lịch sử và xem đó là những hình thức xấu. Một là, nhà nước của bọn vua chúa xây dựng trên sự khát vọng giàu có, ham danh vọng đưa tới sự cướp đoạt. Hai là, nhà nước quân phiệt là nhà nước của số ít kẻ giàu có áp bức số đông, nhà nước đối lập giữa giàu và nghèo đưa tới các tội ác. Ba là, nhà nước dân chủ là nhà nước tồi tệ, quyền lực thuộc về số đông, sự đối lập giàu - nghèo trong nhà nước này hết sức gay gắt. Còn trong nhà nước lý tưởng sự tồn tại và phát triển của nhà nước lý tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoà các ngành nghề và giải quyết mâu thuẫn giữa các nhu cầu xã hội. d) Arixtốt (384 - 322 tr. CN) PDF Merge and Split Version - nhà sáng lập chủ nghĩa Mác coi Arixtốt là bộ óc bách khoa nhất trong số các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp. Triết học của ông cùng với triết học của Đêmôcrít và Platôn làm nên giai đoạn phát triển cao nhất của triết học Hy Lạp. Là bộ óc bách khoa, Arixtốt đã nghiên cứu nhiều ngành khoa học: triết học, lôgíc học, tâm lý học, khoa học tự nhiên, sử học, chính trị học, đạo đức học, mỹ học. Sự phê phán của Arixtốt đối với Platôn là sự đóng góp quan trọng trong lịch sử triết học. Đặc biệt là sự phê phán đối với học thuyết ý niệm của Platôn. Theo Arixtốt, ý niệm của Platôn là không có lợi cho nhận thức của con người, vì nó thuộc về thế giới bên kia - là cái phi thực thể, do đó nó không có lợi cho cắt nghĩa tri thức về các sự vật của thế giới quanh ta, dựa vào nó con người không thể nhận biết được thế giới bên ngoài. Giá trị của triết học Arixtốt còn thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên. Tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi. Thông qua vận động mà giới tự nhiên được biểu hiện ra. Vận động không tách rời vật thể tự nhiên. Vận động của giới tự nhiên có nhiều hình thức: sự tăng và giảm; sự thay đổi về chất hay sự chuyển hóa; sự ra đời và tiêu diệt; sự thay đổi trong không gian, v.v.. Quan niệm về giới tự nhiên của Arixtốt cũng biểu hiện sự dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Giới tự nhiên, theo ông vừa là vật chất đầu tiên, cơ sở của mọi sinh tồn, vừa là hình dáng (cái đưa từ bên ngoài vật chất). Nhận thức của con người là thu nhận hình dáng chứ không phải chính sự vật. Nhận thức luận của Arixtốt có một vai trò quan trọng trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại. Lý luận nhận thức của ông được xây dựng một phần trên cơ sở phê phán học thuyết Platôn về "ý niệm" và "sự hồi tưởng". Trong lý luận nhận thức của mình, Arixtốt thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm và cảm giác. Tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai. Cảm giác có vai trò quan trọng trong nhận thức, nhờ cảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết được về đối tượng. ở đây, Arixtốt đã thừa nhận tính khách quan của thế giới. Về các giai đoạn của nhận thức, Arixtốt thừa nhận giai đoạn cảm tính là giai đoạn thứ nhất; giai đoạn nhận thức trực quan (ví dụ sự quan sát nhật thực, nguyệt thực bằng mắt thường); còn nhận thức lý tính là giai đoạn thứ hai, giai đoạn này đòi hỏi sự khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra tính tất yếu của hiện tượng. Sai lầm có tính chất duy tâm của Arixtốt ở đây là thần thánh hóa nhận thức lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn, của Thượng đế. Tuy nhiên, nhìn chung nhận thức luận của Arixtốt chứa đựng các yếu tố của cảm giác luận và kinh nghiệm luận có khuynh hướng duy vật. Arixtốt cũng có những nghiên cứu sâu sắc về các vấn đề của lôgíc học và phép PDF Merge and Split Version - chứng. Ông hiểu lôgíc học là khoa học về chứng minh, trong đó phân biệt hai loại luận đoán từ cái riêng đến cái chung (quy nạp) và từ cái chung đến cái riêng (diễn dịch). Ông cũng trình bày các quy luật của lôgíc: quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn trong tư duy, quy luật bài trừ cái thứ ba. Arixtốt còn đưa ra phương pháp chứng minh ba đoạn (tam đoạn luận), v.v.. Phép biện chứng của Arixtốt ngoài sự thể hiện ở các quan niệm về các vật thể tự nhiên và sự vận động của chúng, còn thể hiện rõ trong sự giải thích về cái riêng và cái chung. Khi phê phán Platôn tách rời "ý niệm" như là cái chung khỏi các sự vật cảm biết được như là cái riêng, Arixtốt đã cố gắng khảo sát cái chung trong sự thống nhất không tách rời với cái riêng. Theo ông, nhận thức cái chung trong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thức cảm tính. Đạo đức học được Arixtốt xếp vào loại khoa học quan trọng sau triết học. Trong đạo đức học ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phẩm hạnh. Theo ông phẩm hạnh là cái tốt đẹp nhất, là lợi ích tối cao mà mọi công dân cần phải có. Phẩm hạnh của con người thể hiện ở quan niệm về hạnh phúc. Xã hội có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, song, theo Arixtốt, hạnh phúc phải gắn liền với hoạt động nhận thức, với ước vọng là điều thiện. Tóm lại, triết học của Arixtốt tuy còn những hạn chế, dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông vẫn xứng đáng là bộ óc vĩ đại nhất trong các bộ óc vĩ đại của triết học cổ đại Hy Lạp. II- Triết học Tây Âu thời Trung cổ 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm triết học Tây Âu thời trung cổ Xã hội Tây Âu vào thế kỷ II - V là xã hội đánh dấu sự tan rã của chế độ nô lệ và sự ra đời chế độ phong kiến. Nền kinh tế của thời kỳ này nằm trong tay những người tiểu nông, những người khốn cùng, phụ thuộc, nhục nhã về mặt cá nhân và tối tăm về trí tuệ. Thời kỳ đầu trung cổ là thời kỳ của sự suy đồi toàn bộ đời sống xã hội. ở những thế kỷ tiếp theo, chế độ phong kiến cũng tạo ra được một sự phát triển xã hội cao hơn xã hội cổ đại: kỹ thuật và nghề thủ công dần dần được phát triển; dân cư tăng nhanh, các thành thị ra đời, tạo ra những tiền đề cho sự phục hưng mới của khoa học và văn hóa. Nhà thờ thời trung cổ là một tổ chức tập quyền hùng mạnh, tôn giáo bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho triết học, luật học, chính trị học biến thành các bộ môn của thần học. Đặc điểm của triết học thời kỳ này là khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa kinh viện. Chủ nghĩa kinh viện Thiên chúa giáo thể hiện tập trung ở học thuyết của Tômát Đacanh. Trong lĩnh vực triết học, Tômát Đacanh có mưu đồ làm cho học thuyết của Arixtốt thích hợp với giáo lý đạo Thiên Chúa, biến triết học của mình thành cơ sở giáo PDF Merge and Split Version - của nhà thờ. 2. Phái duy danh và phái duy thực Vấn đề quan hệ giữa niềm tin tôn giáo và trí tuệ lý trí, giữa cái chung và riêng (giữa khái niệm và các sự vật đơn lẻ) là những vấn đề trung tâm của triết học. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩa duy danh xung quanh việc giải quyết các vấn đề trung tâm của triết học là biểu hiện đặc thù của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật ở thời kỳ này. Phái duy danh cho rằng, các sự vật riêng lẻ, cá biệt là những cái có thực; còn những cái phổ biến chỉ là những tên gọi do con người đặt ra rồi gán cho chúng. Chẳng hạn, "con người" là tên gọi dùng để chỉ tất cả những con người riêng lẻ chứ không có con người nói chung; cái nhà chỉ là tên gọi của những cái nhà riêng lẻ, không có cái nhà nói chung. Phái duy thực lại cho rằng, cái chung mới là cái có thực vì nó tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào cái riêng và sinh ra cái riêng. Cái chung là thực thể tinh thần như thượng đế, tinh thần thế giới, là "ý niệm". Cái chung là cái có trước và tồn tại khách quan trong các sự vật riêng lẻ. Đó chính là quan điểm duy tâm, có nguồn gốc từ thuyết ý niệm của Platôn. Thiên chúa giáo chính thống nghiêng về phái duy thực. Phái duy danh có xu hướng duy vật và chống lại sự thống trị của giáo hội. Song, nó không thấy được sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng. III- Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại 1. Triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng thế kỷ XV - XVI Thế kỷ XV - XVI ở Tây Âu được gọi là thời kỳ Phục hưng với ý nghĩa là thời kỳ có sự khôi phục lại nền văn hóa cổ đại. Về mặt hình thái kinh tế - xã hội đó là thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. Thời kỳ này, sự phát triển của khoa học đã dần dần đoạn tuyệt với thần học và tôn giáo thời kỳ trung cổ, bước lên con đường phát triển độc lập. Giai cấp tư sản mới hình thành và là giai cấp tiến bộ, có nhu cầu phát triển khoa học tự nhiên để tạo cơ sở cho sự phát triển kỹ thuật và sản xuất. Sự phát triển của khoa học, về khách quan đã trở thành vũ khí mạnh mẽ chống thế giới quan duy tâm tôn giáo. Sự phát triển khoa học tự nhiên đã đòi hỏi có sự khái quát triết học, rút ra những kết luận có tính chất duy vật từ các tri thức khoa học cụ thể. Thời kỳ này đã có những nhà khoa học và triết học tiêu biểu như: Nicôlai Brunô, Galilê, Nicôlai Kuzan, Tômát Morơ, v.v.. Trong các nhà tư tưởng đó thì Côpécních (1475 - 1543), người Ba Lan, có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của triết học và khoa học thời kỳ phục hưng sau này. Thuyết mặt trời là trung tâm do ông xây dựng đã giáng một đòn rất nặng vào tôn giáo và PDF Merge and Split Version - I Khái lược về triết học và lịch sử triết I Khái lược về Triết học I- Triết học là gì ? 1. Triết học và đối tượng của triết học a\) Khái ni?m "Tri?t h?c" b\) Ð?i tu?ng c?a tri?t h?c 2. Vấn đề cơ bản của triết học II- Chức năng thế giới quan của triết học 1. Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan 2. Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể a\) Ch? nghia duy v?t và ch? nghia duy b\) Thuy?t không th? Siêu hình và biện chứng 1. Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện a\) Phuong pháp siêu hình b\) Phuong pháp bi?n Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng 3. Chức năng phương pháp luận của triết II Khái lược về lịch sử triết họctrước mác A. triết học phương đông I- triết học ấn Độ cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời triết học và đặc điểm của triết học ấn Đ 2. Tư tưởng triết học của Phật giáo Triết học trung hoa cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, 2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ, t B. Lịch sử triết học Tây Âu trước Mác I- Triết học Hy Lạp Cổ đại 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại 2. Một số triết gia tiêu Triết học Tây Âu thời Trung cổ 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm triết học Tây Âu thời trung 2. Phái duy danh và phái duy Triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại 1. Triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng thế kỷ XV - XVI 2. Triết học Tây Âu cận đại thế kỷ XVII - XVIII 3. Chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII 4. Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX C. Lịch sử tư tưởng triết học Việt Những nội dung thể hiện lập trường duy vật và duy tâm II- Những nội dung của tư tưởng yêu nước Việt Nam 1. Những nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập 2. Những quan niệm về nhà nước của một quốc gia độc lập và n 3. Những nhận thức về nguồn gốc về sự động lực của cuộc III Sự ra đời và phát triển của triết học Mác - Lênin I- Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác 1. Điều kiện kinh tế - xã hội a\) S? c?ng c? và phát tri?n c?a S? xu?t hi?n c?a giai c?p vô s?n tr c\) Th?c ti?n cách m?ng c?a giai c?p vô 2. Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự Ngu?n g?c lý lu?n b\) Ti?n d? khoa h?c t? Quá trình hình thành và phát triển triết học Mác 1. C.Mác, và quá trình chuyển biến tư tưởng của c 2. Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện 3. Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển lý luận tr 4. Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Má 5. Giai đoạn Lênin trong sự phát triển triết học IV Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại 1. Chủ nghĩa thực chứng 2. Chủ nghĩa hiện sinh 3. Chủ nghĩa Chủ nghĩa Tôma mới 5. Chủ nghĩa thực II Những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - V Vật chất và ý thức I- vật chất và các phương thức tồn tại của vật chất 1. Tính thống nhất vật chất của thế giới 2. Vật chất a\) Lu?c kh?o các quan di?m tru?c Mác v b\) Nguyên nhân d?n d?n s? b? t?c c?a n c) Quan di?m c?a ch? nghia duy v?t bi?n ch?ng v? v?t ch?t 3. Những phương thức tồn tại của vật chất a) V?n d?ng b\) Không gian, th?i Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức 1. Nguồn gốc của ý thức a\) Ngu?n g?c t? Ngu?n g?c xã h?i 2. Bản chất của ý thức 3. Kết cấu của ý thức a\) Theo các y?u t? h?p Theo chi?u sâu c?a n?i Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất Chương VI Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật I- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 1. Khái niệm mối liên hệ 2. Các tính chất của mối liên hệ 3. Ý nghĩa phương pháp Nguyên lý về sự phát triển 1. Khái niệm phát triển 2. Tính chất của sự phát triển 3. Ý nghĩa phương pháp cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật I- Một số vấn đề chung về phạm trù 1. Định nghĩa phạm trù và phạm trù triết học 2. Bản chất của phạm trù II- Cái riêng và cái chung 1. Khái niệm cái riêng và cái chung 2. Quan hệ biện chứng giữa "cái riêng" và "cái Một số kết luận về mặt phương pháp Nguyên nhân và kết quả 1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả 2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả a\) Nguyên nhân sinh ra k?t qu?, xu?t h b\) Nguyên nhân và k?t qu? có th? thay 3. Một số kết luận về mặt phương pháp Tất nhiên và ngẫu nhiên 1. Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên 2. Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu T?t nhiên và ng?u nhiên d?u t?n t?� b\) T?t nhiên và ng?u nhiên d?u t?n t?� c\) T?t nhiên và ng?u nhiên có th? chu 3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận V- Nội dung và hình thức 1. Khái niệm nội dung và hình thức 2. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức a\) S? th?ng nh?t gi?a n?i dung và hình b\) N?i dung gi? vai trò quy?t d?nh d?i c\) S? tác d?ng tr? l?i c?a hình th?c d 3. Một số kết luận về mặt phương pháp Bản chất và hiện tượng 1. Khái niệm bản chất và hiện tượng 2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện S? th?ng nh?t gi?a b?n ch?t và hi?n b\) Tính ch?t mâu thu?n c?a s? th?ng nh 3. Một số kết luận về mặt phương pháp Khả năng và hiện thực 1. Khái niệm khả năng và hiện thực 2. Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực 3. Một số kết luận về mặt phương pháp quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật I- Một số vấn đề lý luận chung về quy luật 1. Khái niệm "quy luật" 2. Phân loại quy Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành 1. Khái niệm chất và khái niệm Khái ni?m ch?t b\) Khái ni?m Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về c a) Nh?ng thay d?i v? lu?ng d?n d?n nh?ng thay d?i v? ch?t b) Nh?ng thay d?i v? ch?t d?n d?n nh?ng thay d?i v? Các hình th?c co b?n c?a bu?c nghĩa phương pháp Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 1. Khái niệm các mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấ 2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển 3. Phân loại mâu thuẫn 4. ý nghĩa phương pháp Quy luật phủ định của phủ định 1. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng 2. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định 3. ý nghĩa phương pháp IX Lý luận nhận thức I- Bản chất của nhận thức và vai trò của thực tiễn đối với n 1. Bản chất của nhận thức a\) Quan ni?m v? nh?n th?c c?a m?t s? tr� b) Quan ni?m v? b?n ch?t nh?n th?c c?a ch? nghia duy v?t bi?n Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức a\) Ph?m trù "th?c Vai trò c?a th?c ti?n d?i v?i nh?n III- quá trình nhận thức và các cấp độ của nhận thức 1. Biện chứng của quá trình nhận thức a) Tr?c quan sinh d?ng b) Tu duy tr?u M?i quan h? gi?a nh?n th?c c?m tính 2. Cấp độ của quá trình nhận thức a\) Nh?n th?c kinh nghi?m và nh?n th?c b\) Nh?n th?c thông thu?ng và nh?n Vấn đề chân lý 1. Khái niệm chân lý 2. Các tính chất của chân X Hình thái kinh tế - xã hội I- Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên 1. Sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên 2. Đặc điểm của quy luật xã hội 3. Sản xuất vật chất - cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã II- Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 1. Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan a) Phuong th?c s?n xu?t b) L?c lu?ng s?n xu?t c) Quan h? s?n xu?t 2. Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng a) Co s? h? t?ng b\) Ki?n trúc thu?ng t?ng 2. Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc Vai trò quy?t d?nh c?a co s? h? t?n b\) Tác d?ng tr? l?i c?a ki?n trúc Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội và ý nghĩa phương ph 1. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội 2. ý nghĩa phương pháp luận của phạm trù hình thái kinh tế - a\) S? phát tri?n c?a các hình thái ki b\) Giá tr? khoa h?c c?a h?c thuy?t hìn 3. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự XI Giai cấp và dân tộc I- Những hình thức cộng đồng người trong lịch sử 1. Những hình thức cộng đồng người trước dân tộc a) Th? t?c b) B? l?c c) B? t?c 2. Dân tộc II- Giai cấp và đấu tranh giai cấp 1. Giai cấp a\) Khái ni?m giai c?p b\) Ngu?n g?c hình thành giai c?p c\) K?t c?u xã h?i - giai c?p 2. Đấu tranh giai cấp a\) Khái ni?m d?u tranh giai c?p b\) Ð?u tranh giai c?p là m?t trong Quan hệ giai cấp - dân tộc 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin 2. Sự vận động sáng tạo quan hệ giai cấp - dân tộc trong tư XII Nhà nước và cách mạng xã hội I- Nhà nước 1. Nguồn gốc và bản chất của nhà nước a\) Ngu?n g?c c?a nhà nu?c b\) B?n ch?t c?a nhà nu?c 2. Đặc trưng cơ bản của nhà nước a\) Nhà nu?c qu?n lý dân cu trên m?t v b\) Nhà nu?c có m?t b? máy quy?n l?c c� c\) Nhà nu?c hình thành h? th?ng thu? � 3. Chức năng cơ bản của nhà nước a\) Ch?c nang th?ng tr? chính tr? c?a g b\) Ch?c nang d?i n?i và ch?c nang d?i 4. Các kiểu và hình thức nhà Cách mạng xã hội 1. Bản chất và vai trò của cách mạng xã hội a\) Khái ni?m cách m?ng xã h?i b\) Nguyên nhân c?a cách m?ng xã h?i c\) Vai trò c?a cách m?ng xã h?i d\) Tính ch?t, l?c lu?ng và d?ng l?c c? 2. Quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan tro 3. Hình thức và phương pháp cách XIII Ý thức xã hội I- Tồn tại xã hội và ý thức xã hội 1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội a\) Khái ni?m t?n t?i xã h?i b\) Khái ni?m và k?t c?u c?a ý th?c xã c\) Tính giai c?p c?a ý th?c xã h?i. 2. Biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội a\) Vai trò quy?t d?nh c?a t?n t?i xã h b\) Tính d?c l?p tuong d?i c?a ý th?c x c\) ý nghia phuong pháp Các hình thái ý thức xã hội 1. ý thức chính trị 2. ý thức pháp quyền 3. ý thức đạo đức 4. ý thức khoa học 5. ý thức thẩm mỹ 6. ý thức tôn XIV Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người I- Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử và 1. Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử a\) Quan ni?m v? con ngu?i trong tri?t h� b\) Quan ni?m v? con ngu?i trong tri?t h� 2. Những quan niệm cơ bản của triết học Mác-Lênin về con ngư a\) Con ngu?i là m?t th?c th? th?ng nh? b\) Trong tính hi?n th?c c?a nó, b?n ch c\) Con ngu?i là ch? th? và là s?n Quan hệ giữa cá nhân và xã hội 1. Khái niệm cá nhân và nhân cách 2. Biện chứng giữa cá nhân và xã Vai trò quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử 1. Khái niệm quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử a\) Khái ni?m qu?n chúng nhân dân b\) Khái ni?m cá nhân trong l?ch s? 2. Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ a\) Vai trò c?a qu?n chúng nhân dân b\) Vai trò c?a lãnh t?