Viễn cảnh Toàn cầu hóa

Viễn cảnh Toàn cầu hóa

Lượt xem: 91,935Lượt tải: 5Số trang: 17

Mô tả tài liệu

Trong một bài báo đăng trên tờ New York Times năm 1998, Fareed Zakaria, sinh viên tốt nghiệp Khoa Chính quyền của ĐH Harvard, đồng thời là biên tập của tạp chí Đối ngoại uy tín, đã viết: Trật tự của thế giới mới phát hiện một giai đoạn thế giới mới. Đã có thời dư luận quốc tế chỉ tập trung vào Đại hội đồng Liên hiệp quốc hoặc các hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Nga, thì trong thập niên vừa qua, quốc tế lại ca tụng Davos, một khu nghỉ mát có trượt tuyết trên núi ở Thụy sĩ....

Tóm tắt nội dung

Quan điểm chung cho rằng toàn cầu hoá kinh tế ở cấp bậc và quy mô chưa từng có là ở trong rằng toàn cầu hoá là kết quả của thành tựu công nghệ và thắng lợi tất yếu của ý thức hệ tư Trường hợp tham khảo này đưa ra những quan điểm của một số nhà tư tưởng, quản lý doanh nghiệp và học giả xuất chúng về các tiến trình và tác động của toàn cầu hoá. Các trường hợp của HBS chỉ được phát triển trên cơ sở thảo luận tại lớp và không nhằm Tập sách này được xuất bản đầu tiên năm 1991 và là một trong Nền kinh tế toàn cầu đi theo logic của riêng nó và phát triển mạng lưới quyền lợi của chính gia như một thực thể kinh tế, đối nghịch với thực thể chính trị, đã mất đi nhiều ý ông đối với tác động kinh tế và xã hội của việc toàn cầu nghỉ việc tạm thời và ký hợp đồng lại với một công ty ở Honduras để thực hiện Theo tiêu chuẩn của lý thuyết thương mại quốc tế thì đây là một câu chuyện về sự thành Thương mại quốc tế cho phép được chuyên môn hóa theo lợi thế tương đối, và kết quả phần lợi nhuận kinh tế lớn hơn từ thương mại, về nguyên tắc, có thể được sử dụng để đền bù hộ trong lớp học hay trong phần lớn các cuộc tranh luận về chính sách khi nhà kinh tế trình tiền trọn gói, và thiếu văn bản hướng dẫn về thuế/trợ cấp, tại sao lại phải có những điều này 2. phân chia: đó là cản trở việc các cổ đông và số công nhân còn lại của công ty XYZ tăng thu phân chia – một từ thương mại và một không từ thương mại – và do đó làm thế nào để quyết 1 Theo các thông số tiêu biểu thì việc giảm giới hạn thương mại sẽ đem lại 5 đô-la hoặc thu nhập cao hơn được hoán chuyển qua lại giữa các nhóm cho mỗi 1 đô-la lãi ròng - nghĩa là, theo tỉ lệ tăng trưởng lớn hơn do có nhiều chính sách thương mại Tuy nhiên, giả định lý thuyết về trường hợp này không đủ mạnh, và người ta có thể để dàng đưa ra các mô hình 2 Người ta nói rằng nhà kinh tế học là một người nhìn thấy một cái gì đó có hiệu quả trong thực tế, và tự hỏi liệu nó có thể Câu nói này được bổ sung vào lợi ích của nhà kinh tế học, là người phù hợp với câu ngạn các khái niệm về công lý của Rwalsia ám chỉ cần ưu tiên cho sự tái phân chia cải thiện phúc trong kinh tế và coi trọng cái mất hơn là cái được, điều sẽ dẫn tới định kiến đối với hiện Trong nền kinh tế thị trường, có lẽ sự trắc nghiệm quan trọng nhất được áp dụng trong việc khẳng định liệu những thay đổi về phân chia có được xã hội chấp nhận không là sự trắc nghiệm sau: có phải sự thay đổi đặt ra là hậu quả của những hành động cá nhân không vi như một anh hùng, ngay cả khi phát minh này thay thế các công nhân đã gắn bó với công Về mặt kinh tế, việc mở cửa đón nhận thương mại quốc tế cũng có tác động tương tự đối với cần được khuyến khích hơn là hạn chế, thì tại sao không chấp nhận điều tương tự đối với 4 Với bối cảnh trong nước, chúng ta nghĩ đến một “chức năng sản xuất” tiêu biểu cho công nghệ mà qua đó, đầu khẩu và từ đó hàng xuất khẩu của chúng ta có thể được xem như đầu vào được chuyển đổi thành hàng nhập Và, tiếp nối sự tương tự đó, sự cải thiện thương mại (ví dụ, nhờ tiêu chuẩn lao động thấp ở nước đối tác) đóng vai trò tiến bộ kỹ thuật trong công nghệ này qua việc giảm các hệ số đầu vào-đầu để đảm bảo các hoạt động này thống nhất với những chuẩn mực do xã hội đề ra. Thực nghiệm về đối tượng người và thú vật được quy định chặt chẽ là một ví dụ. Có lẽ điều oái oăm là các nhà theo thuyết tự do là những người bảo vệ tự do vì quyền lợi của một số người Mỹ khác.” Hệ quả tất yếu là việc dỡ bỏ rào cản thương mại sẽ ta tin rằng tự do kinh doanh là tiêu chí cao nhất đối với nền công lý phân chia – do đó mới có Để làm cho ý nghĩa của lý lẽ biện minh được cụ thể hơn, chúng ta hãy trở lại với công ty việc thay các công nhân Mỹ thành niên bằng bọn trẻ 12 tuổi lao động trong điều kiện nguy Thông điệp là: chúng tôi không chấp nhận việc này như là sự trao đổi hợp pháp và của Tổ chức Thương mại Thế giới quy định chỉ chấp nhận một ngoại lệ là lao động trong nhà 5 Trong lĩnh vực kinh tế học, một ví dụ có liên quan khác là lệnh cấm buôn bán trong nội bộ. được áp đặt hơn vì do tính hiệu quả – yếu tố khó có thể tạo ra và có thể gây tác động ngược – hơn là vì tính Hầu hết các nhà kinh tế học cũng sẽ cho rằng việc áp đặt các biện pháp giới hạn thương mại đối với nước khác vì lý do có sự khác biệt trong phương thức sản xuất của quốc gia đó là ông đều có liên quan đến tính thiếu hiệu quả của chính sách thương mại, hoặc có thể là không đáp ứng được kỳ vọng khi đề cập đến phúc lợi của công nhân tại các nước xuất khẩu. Mỹ quan tâm đến những em này, họ có thể chuyển tiền trả cho chúng hơn là sử dụng một tham vọng của những người Mỹ theo chủ nghĩa bảo hộ thương mại để loại bỏ các mặt hàng Nhưng dù động cơ của những người theo chủ nghĩa bảo hộ thương mại là quá rõ tại nhiều ra rằng những động cơ này cũng phản ánh sự bực dọc thực sự của các nước nhập khẩu với Nếu động cơ chủ yếu của các nhà bảo trợ đạo luật này là quyền lợi của các nhà bảo hộ, thì có 7 Ví dụ, khi Mỹ cấm nhập khẩu cá hồi của Mê-hi-cô do nước này đã không tiến hành biện pháp giảm số lượng cá heo vùng Một phần lý lẽ diễn dịch quy chế của GATT là vì Mỹ đã áp dụng biện pháp giói hạn 8 Hiến chương của Tổ chức Thương mại Quốc tế có liên quan đến tiêu chuẩn lao động và thương một điều khoản về tiêu chuẩn lao động bình đẳng (Điều 7), quy định “tất cả các nước có cùng quan tâm về việc đạt được và duy trì các tiêu chuẩn lao động liên quan đến năng suất và nhờ đó cải thiện được tiền lương cũng như điều kiện làm khó khăn đối với thương mại quốc tế, và, do đó, mỗi thành viên phải có bất kỳ động thái nào phù hợp và khả thi để loại bỏ những điều kiện đó trong lãnh thổ của mình.” Vì vậy, những vấn đề này luôn được các nhà thiết kế hệ thống kinh tế quốc tế thuê lao động nước ngoài, công ty lại đóng cửa nhà máy ở và xây dựng một nhà công ty cũng tương tự như giải pháp trước, là thuê lao động bên ngoài thông qua thương mại. Phúc lợi của tất cả các bên – công nhân bị giãn việc, cổ đông công ty và trẻ em Honduras – Sự khác biệt trong thực tế là việc sử dụng phương án này sẽ vi phạm pháp luật. ở các nước công nghiệp tiên tiến chỉ cho phép một số ít ngoại lệ đối với quy chế theo đó lao sử dụng lao động thấp hơn các phương thức đề ra trong các tiêu chuẩn của Mỹ. Điều thú vị là, đại đa số các nhà kinh tế học không gặp khó khăn với ví dụ thuê nhân công động nhập cư đến mức cho phép những điều kiện làm việc trong các nhà máy không phải là đối với hai phương án này – thuê lao động nước ngoài và nhập cư – hơn là tôn chỉ của các với chính bản thân ưu thế tương đối nếu nó được xây dựng trên các quy trình được xem là Đó là lý do tại sao, khác với tư duy của các nhà kinh tế học, lại có không quá quan tâm đối với phúc lợi của trẻ em Honduras; lý lẽ chỉ giả định là người Mỹ 9 Krueger cũng áp dụng khung của mình đối với các cuộc bỏ phiếu của quốc hội về Hiệp ước Thương mại Tự trường hay không – cũng không quan trọng đối với chính sánh thương mại ở các nước nhập Dĩ nhiên, một số nếu không muốn nói là tất cả, những người Mỹ cũng có quan tâm đến những động cơ nhân đạo toàn cầu như vậy – đối lại với quan tâm về phân chia trong nước – là động lực, đây có thể là trường hợp cần nghiên cứu vì những động cơ này ít liên quan đến Lý do thật đơn giản: Không rõ liệu các chính sách thương mại, và nhất là quy định hạn chế nhập khẩu, có phải là công cụ tốt để đặt ra nguyên nhân lao động hoặc môi trường giữa các các công cụ tốt hơn nhiều để đạt được những mục tiêu nhân đạo toàn cầu này, từ việc cho nước xuất khẩu mà các chính sách này được đề ra nhằm giúp đở. chính sách dành cho công nhân là trẻ em ở các nước xuất khẩu thường tồi tệ hơn (như nạn Xã hội nào cũng có các giới hạn, cả về luân lý lẫn pháp lý, đối với loại thị trường được phép hoặc trao đổi “cùng đường”, như được minh họa bằng các đạo luật về một ngày làm việc 8 Lịch sử về luật lao động của Mỹ minh họa khá rõ nét việc hình thành và tiến triển của những Trong đầu thế kỷ 20, có nhiều sự chống đối đối với các đạo luật giảm vào quyền cá nhân của cả chủ và người làm công để thực hiện các hợp đồng lao động với các ra một lần nữa sự bất bình đẳng thông qua luật pháp và các giới hạn về quyền lợi cá nhân Theo đó luật pháp Mỹ từ thập niên 1930 đã nhận ra là những giới hạn đối với “hợp đồng tự thương mại và tính cơ động nguồn vốn đã được bàn trong chương trước: chủ có thể ra nước Người ta có thể lý luận là qua việc làm phát sinh sự bất lịch sử luật lao động và từ đó huỷ hoại luôn sự hiểu biết về mặt xã hội mà các bộ luật này đại Xét cho cùng, không có sự khác biệt mấy giữa việc công nhân trong nước, những người có thể cạnh tranh với đồng nghiệp của họ bằng cách chấp thuận làm việc 12 giờ một ngày, cả những điều này đều phạm pháp theo luật pháp Mỹ- và các công nhân nước ngoài cùng làm Quan điểm của tôi đơn giản chỉ là thương mại tác động đến xã hội trong nước theo cách nó có thể mâu thuẩn với các hợp đồng xã hội lâu đời để bảo vệ công dân khỏi bị “ Tái cấu trúc các quốc gia – hoặc ít nhất là một số lĩnh vực nhất định của quốc gia,” Ruggie 10 Lưu ý rằng việc cố đạt được chủ quyền quốc gia và tính không thể chấp nhận được theo luật quốc tế để áp đặt luật trong Chủ quyền quốc gia hàm ý khả năng của mỗi nước trong việc cắt đứt quan hệ với các nước khác nếu thương Đã xưa rồi cái thời khi các cuộc thương lượng về thương mại chủ yếu chỉ là vấn đề thương mại trọng tâm của tương lai là “sự hội nhập toàn diện” liên quan đến các chính Các nhà kinh tế học đã giễu cợt quan điểm “thương mại bình đẳng” và “làm phẳng sân chơi” chỉ các chuẩn mực trong nước và sự xếp đặt về mặt xã hội, và tính hợp pháp của thương mại phụ thuộc một phần vào tính tương thích của nó với các nguyên tắc và sự sắp đặt này, thì các Thương mại tự do giữa các nước có những phương pháp trong nước rất khác nhau Trích bài viết tựa đề: “Nền kinh tế toàn cầu mới và các nước đang phát triển: Tạo điều kiện Nền kinh tế quốc gia của một số nước đã tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 2 thập niên Chỉ 2 trong số các nước này là có suy xuất khẩu tăng là một cột mốc của hầu hết các nước thành gia thường được xem như là biểu tượng của sự lệ thuộc; ngày nay các doanh nghiệp này nghiên cứu có hệ thống ở cấp nhà máy từ các nước như Morocco và Venezuela ít xảy ra tác ngược: Các doanh nghiệp đa quốc gia có khuynh hướng trụ lại trong các nền kinh tế có năng Kinh nghiệm đối với DFI, cũng như với hàng xuất khẩu, phải là thế này: Thiếu bằng chứng cơ sở để chứng minh điều ngược lại, 1 đô la của DFI có giá trị không hơn (và không kém) 1 Một ý nghĩa là trợ cấp và tín dụng thuế có lợi cho đầu tư nước ngoài hơn là đầu tư trong nước cần được tính toán lại một cách nghiêm túc. bảo cho nhà đầu tư nước ngoài có một thị trường trong nước được bảo hộ – là sự nhượng bộ mà các nhà đầu tư nước ngoài thường có thể yêu cầu đối với các chính phủ quá tha thiết với hiện diện của các yếu tố tích cực bên ngoài, bắt nguồn từ sự đầu tư đang được đặt ra. kim của chủ nghĩa tư bản, với đặc trưng là nguyên tắc tự do thương mại; hiện tại cũng thế, dù chuyên chế thống trị, và vào cuối Thế chiến thứ II, hầu như không có sự chuyển dịch vốn Hệ thống tiền tệ quốc tế là một bộ quy tắc hoặc công ước quản lý các chính sách kinh tế của bộ quy tắc chung hoặc công ước đòi hỏi phải có sự hài hoà nhất định giữa các chính sách tiền tế, người ta trông đợi chính phủ các nước giải quyết vấn đề tách ra riêng đang tác hại đối với các tổ hợp doanh nghiệp và cũng trong bối cảnh này, giải quyết thêm vấn đề hoạt động tuỳ Do các chính phủ có thể thành công nhưng không điểm này, nghịch lý của các vấn đề tiền tệ quốc tế không phải là sự khó khăn trong việc thiết lập một hệ thống tiền tệ quốc tế ổn định, mà là việc những hệ thống ấy đã thực sự tồn tại Các chuyên gia quan hệ quốc tế đã đưa ra khái niệm là việc một quốc gia thống trị – bá lực kinh tế được xem như là cách quốc tế hoá các yếu tố bên ngoài gắn bó với sự ổn định của Woods trong một phần tư thế kỷ được gán cho quyền lực nổi bật của Mỹ trong thế giới thời cho sự thống trị về phương diện tài chính quốc tế trong nửa sau của thế kỷ 19. tệ trong quá khứ là tương đối ổn định khi một loại tiền tệ nào đó thống trị: như đồng bảng quyền, do sự bất ổn của nước Anh trong vai trò thống trị và sự chối bỏ bá quyền này của Mỹ. Sự hấp dẫn của khái niệm này là ở tác động của nó với sự so sánh giữa lợi ích công và tổ hợp doanh nghiệp về các vấn đề tiến tệ quốc tế có thể gọi là các biến tướng của chiến thuật cây Snidal gọi là quan điểm tích cực) của lý thuyết, tất cả các thành viên tham gia đều được có là quan điểm gượng ép) hoặc do sự ổn định có hệ thống không phải đơn thuần là lợi ích công hoặc do chi phí của nó được chuyển sang các nước nhỏ hơn, lợi ích nhờ sự ổn định tích luỹ Nền kinh tế mở của thế giới –hay bất kỳ tu từ nào của các nhà doanh nghiệp và kinh tế học- là sản phẩm của những chính sách kết hợp của Mỹ từ năm sự đe dọa của Sô-viết, đã làm cho các quốc gia này cảm thấy không cần thiết phải đề ra chính sách quốc gia (có thể sẽ đối chọi) của riêng mình và vì lý do này mà tạo ra cho một thế hệ một môi trường ổn định trong đó nền kinh tế thế giới có thể phát triển Có lẽ quan trọng nhất, như nước Anh trong thế kỷ 19, đã thực hiện thương mại được các thị trường khác đáp lại, và nhờ đó mà thúc đẩy sự phát triển của châu Au, Đông Á còn việc mở cửa xã hội – là sản phẩm của chính sách đối ngoại của Mỹ trong vòng 50 năm. cũng như hạn chế tiền tệ và nói với người dân Mỹ là: “Đây là thời điểm lịch sử của thế giới. Nga trong một thập niên – bao gồm phần đóng góp của chúng ta vào Quỷ Tiền tệ Thế giới và (Và dĩ nhiên vào thời điểm này, với chương trình cải cách của Nga bị phá sản, các nhà Nhiều nhà bình luận chớp lấy cơ hội, hả hê về những đặc trưng của lối sống Mỹ và sự nghèo thể giao vấn đề cho INF giải quyết và không cần phải có một động thái chính trị nào cả. Sự mất uy thế của chủ nghĩa cọng sản sẽ làm các nước dể dàng chấp “Chúng ta không thể cải cách ở bất cứ nước nào tốt hơn chính chính phủ và nhân dân nước rõ ràng quan điểm của Mỹ và thường dân Mỹ, như một khán giả có liên quan. đến hôm qua, Mỹ lại muốn có các hình thức cải cách nhất định hơn chính chính phủ và nhân áp lực đối với các nền kinh tế mới trỗi lên ở Đông Á để làm tiền tệ của họ hoàn toàn có thể các ý tưởng về sự chuyển tiếp theo giai đoạn, trong đó các nước từ từ tiếp cận với sự khốc liệt của thị trường tư bản toàn cầu, mặc dù đó chính là cách chuyển đổi mà đã từng được thực hiện ở Tây Âu (nơi đã có các thể chế tài chính ổn định và có nhiều thế kỹ kinh nghiệm với Sự “cải cách” này là yếu tố then chốt đối với sự bùng nổ và tan rã của trưởng thương mại phụ trách thương mại quốc tế trong thời kỳ đầu của Chính phủ TT đội trời chung trong các thị trường mới trỗi dậy: chủ nghĩa tư bản tự do thương mại và dân tiến bộ đã đạt được trong việc điều tiết thị trường và đặt ra luật lệ rất cần thiết cho bất kỳ một Ngoài ra, trong kỷ nguyên đầu của cuộc khủng hoảng, các công ty và chính phủ của thế giới công nghiệp đã loại bỏ những thị trường mới nổi và để các thị trường này tự lo liệu ngày nay, những nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng và chính phủ nước ngoài sẽ không Các nước trong thế giới công nghiệp muốn việc làm ở nước mình đáp ứng được lượng hàng Có nhiều cách lý giải về những áp lực đang tăng lên ở các thị trường mới nổi. 5%; tương tự, họ cũng có thể sẵn sàng hóa giá các công ty quốc doanh có thực lực nhất – như Loạt cải cách đầu tiên này có thể được thực hiện ngay: các nhà đầu tư trong và ngoài nước từng nghe nói về sự kỳ diệu của thương trường, tự hỏi tại sao họ lại không thể có nước nóng Nhưng cho đến nay, lý do lớn nhất của mối lo ngại về cải cách kinh tế là động lực chính trị nhắc một số yếu tố như: quy mô chính trị của sự thay đổi, khó khăn trong việc thực hiện sự và kinh tế mở, các thị trường mới nổi đang đứng trên một vùng đất chưa được thăm dò và Khi việc tự do hoá kinh tế tại các thị trường mới nổi thay thế sự kiểm soát cứng nhắc thì quy chế kinh tế-thương mại mới, tự do hơn và tương đối cầu kỳ hơn cần phải được áp dụng. lợi thế trong chế độ mới và chỉ cần phát triển ưu thế và ưu quyền của họ. Về mặt chính trị, các nền dân chủ được định nghĩa không chỉ bằng cách qua phương thức bầu nghiệp làm nền tảng vững chắc, thiếu một hệ thống tư pháp mạnh và độc lập, thiếu các chính sách điều tiết bao quát, thì lãnh đạo các nền dân chủ mới có thể sẽ tốn tất cả thời gian của họ không thể giải quyết những nhu cầu của người dân, vốn rất hệ trọng đối với tính hợp pháp khả năng theo đuổi chủ trương cải cách của chính phủ mà một thời đã là một yếu tố cấu hướng này là sự tồn tại tiếp tục và hoạt động của các doanh nghiệp do chính quyền tỉnh quản Tư nhân hoá (cổ phần hóa) – hoặc trong một vài trường hợp là thanh lý – các doanh phương ý thích của quần chúng và các vấn đề hiệu quả kinh tế toàn diện liên quán đến việc 2) Phương pháp thực hiện tốt nhất của tỉnh trong công tác đẩy mạnh sự tham gia vào hoạt hoạt động này sẽ được mở rộng sang một số tỉnh khác để kiểm điểm và kiến nghị về công tác 3) Phương pháp thực hiện hiệu quả nhất về tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME): và chuyển hướng như Việt Nam có thể hoàn chỉnh cơ hội tiếp cận tài chính của khối pháp thực hiện hiệu quả nhất về tài chính của SME đang ngày càng đề cao công tác các SME, đồng thời nghiên cứu một số phương pháp và công cụ mới được chấp nhân để