Truyện Trương Trọng

Thể loại: Lịch sử Văn hoá
Lượt xem: 64,344Lượt tải: 4Số trang: 5

Mô tả tài liệu

Trương Trọng, người Nhật Nam ( Bình Trị Thiên, Quảng Nam) nhờ hay chữ nên được viên thái thú Nhật Nam lấy vào làm thuộc lại trong quận.

Tóm tắt nội dung

Truyện Trương Trọng Trương Trọng, người Nhật Nam ( Bình Trị Thiên, Quảng Nam) nhờ hay chữ nên được viên thái thú Nhật Nam lấy vào làm thuộc lại trong quận. Cuối năm 78, theo lệ nhà Hán, Trương Trọng được viên thái thú cử sang kinh đô Lạc Dương ( Hà Nam) để tâu bầy công việc trong quận lên vua Hán. Hán Minh Đế thấy Trương Trọng người thấp bé lại là dân “ man di” bèn hỏi xách mé: Viên tiểu lại kia người quận nào? Trương Trọng người khó chịu nhưng vẫn điềm tĩnh đáp. Tôi là người thay mặt thái thú quận Nhật Nam vào chầu vua chứ không phải một viên tiểu lại. Bệ hạ muốn dùng người tài cán hay chỉ muốn đo xương thịt? Bất ngờ bị đối thủ trả lời cứng cỏi lại đứng đắn vua Hán giận lắm nhưng không làm gì được. Mấy ngày sau, nhân tết Nguyên Đán, vua mở tiệc yến. Nhận thấy trong số các quan vào chúc tết có Trương Trọng, vua Hán muốn rửa nhục bữa trước bèn hỏi Trương Trọng. “ Nhật Nam” có nghĩa là “ phương Nam mặt trời” Ta nghe nói tất cả nhà cửa xứ ấy đều quay về phương Bắc để trông thấy mặt trời có phải không? Thấy vua Hán kiêu ngạo tự ví mình là mặt trời, bắt mọi người phải ngưỡng mộ sùng bái. Trương Trọng quyết trả miếng. Bởi thế, trước trăm quan cùng một tâm địa cậy thế nước lớn miệt thị nước nhỏ. Trương Trọng chậm rãi đáp. “ Nhật Nam” không phải là phía nam mặt trời. Một bậc túc nho không ai hiểu như thế. Đất Trương Nguyên ( Trung Quốc) có quận gọi là “ Vân Trung” nhưng quận ấy có ở trong mây đâu? Có quận gọi là “ Kim Thành” nhưng có phải là thành ấy xây bằng vàng đâu? Ấy là đặt tên thế thôi chứ không phải như thế. Lại nữa, ở nơi nào thì mặt trời cũng đều mọc ở đằng Đông, kẻ thất phu cũng hiểu được như thế. Còn ở xứ Nhật Nam không ai xoay nhà về phương Bắc để trông thấy mặt trời. Ngược lại, lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam, là tục lệ của dân Nhật Nam. Chẳng ai thay đổi được tục lệ đó. Vua Hán và quần thần ngây người trước câu đối đáp rắn rỏi, mạnh mẽ của viên sứ thần có tầm vóc nhỏ mà trí tuệ lớn. Về sau Trương Trọng được vua Hán cho làm thái thú quận Kim Thành. Lý Tiến Và Lý Cầm Phá Lệ Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem mình là “ Thiên tử” coi dân Việt là “ man rợ” nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được trọng dụng. Ngoài trường hợp của Trương Trọng nói trên, mãi đến đời vua Linh Đế ( 168 – 189) cuối nhà Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc làm thái thú quận Giao Chỉ được bổ đi làm quan bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên, nhưng vua Hán chỉ cho những người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được làm trong sứ mà thôi. Lúc đó có người Gia Chỉ tên là Lý Cầm làm lính túc vệ trong cung khẩn thiết xin vua Hán bãi lệnh đó. Nói mãi, vua Hán cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài làm quan lệnh ở Hạ Dương, một người đỗ Hiếu Liêm làm quan ở Lục Hợp. Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ khi Sĩ Nhiếp ( 187 – 226) sang làm thái thú, văn hóa mới phát triển, nền giáo dục mới được mở mang là không đúng. Nhà đông Ngô ( 222 – 280) Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc chia làm 3 nước, Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô, đất Giao Chỉ lúc đó lại thuộc về Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Nhiếp Sĩ làm thái thú. Năm Bính Ngọ ( 226), Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú: Ngô chủ Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về Nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Giao Châu và Trần thì sang thay Sĩ Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đài Lương và Trần thì sang đến Hợp Phố thì bị Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt đem binh sang đánh dẹp, mặt khác cho người dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền bị Lữ Đại bắt giết. Tôn Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và phong cho Lữ Đại làm thứ sử