Kỹ thuật xDSL

Lượt xem: 18,919Lượt tải: 6Số trang: 34

Mô tả tài liệu

Mạng viễn thông phổ biến trên thế giới hay nước ta là hiện nay là mạng số liên kết (IDN-Integrated Digital Network). Mạng IDN là mạng viễn thông truyền dẫn số, liên kết các tổng đài số và cung cấp cho khách hàng các đường dẫn thuê bao tương tự

Tóm tắt nội dung

các tổng đài số và cung cấp cho khách hàng các đường dẫn thuê bao tương tự. thể nói rằng ISDN là dịch vụ DSL đầu tiên cung cấp cho khu dân cư giao diện tốc độ cơ chung là xDSL, trong đó x biểu thị cho các kỹ thuật khác nhau. thuật này là cung cấp cho khách hàng các loại hình dịch vụ chất lượng cao và băng tần Phân biệt các kỹ thuật này dựa vào tốc độ hoặc chế độ truyền dẫn. ADSL và VDSL và truyền đối xứng có tốc độ truyền 2 hướng như nhau như HDSL và Riêng với kỹ thuật VDSL (Very High-speed DSL) có thể truyền cả đối xứng và 4.5Km cần dùng 3 đôi sợi còn để truyền tốc độ 1.544 Mbit/s cũng với khoảng cách này lẽ đây là kỹ thuật tốt hơn do chỉ dùng 1 đôi sợi như sử dụng cho điện thoại tương tự. thuật SDSL truyền với tốc độ 768 Kbit/s được khoảng cách 4 Km. ADSL truyền tin bất đối xứng rất nhiều các dịch vụ băng rộng khoảng cách đạt được là CDSL gần giống ADSL có tốc độ và khoảng cách truyền vừa phải, công nghệ này có ưu IDSL mang 2B+D kênh thông tin của ISDN BRI chủ yếu chỉ truyền ở tốc độ 144 Kbit/s. VDSL là kỹ thuật mới nhất, có tốc độ cao nhất nhưng khoảng cách truyền ngắn từ 0.3 Km đến 1.5 Km trên 2 đôi dây với tốc độ có thể lên tới 52 Mbit/s. Kỹ thuật xDSL đạt được những tốc độ băng rộng trên môi trường mạng phổ biến nhất Kỹ thuật xDSL đưa ra những cải tiến đột phá về tốc độ (lên tới hơn 7Mbit/s) và nó đã ♦ Cung cấp những dịch vụ mới được cải tiến có giá trị cao đối với người sử dụng mạng. ♦ Cung cấp nhiều dịch vụ với những tốc độ truy nhập và chi phí khác nhau . Một trong số những lợi ích quan trọng nhất của kỹ thuật xDSL là cho phép mạng của nhà vụ được dựa trên xDSL là xây dựng tính mềm dẻo đủ mức cần thiết để hỗ trợ cho các ứng xDSL được chia ra làm nhiều loại kỹ thuật như HDSL, SDSL, ADSL và VDSL với mỗi loại kỹ thuật đó lại có những tốc độ dữ liệu, băng tần hoạt động và những dụng khác Kỹ thuật này cho phép truyền dữ liệu tốc độ T1(1,544 Mbit/s) trên cáp 26AWG tới Khả năng chống tạp âm và cải thiện được băng tần sử dụng là Trong kỹ thuật HDSL, luồng T1 được truyền trên 2 đôi dây cáp đồng. kênh thoại 64 kbit/s cùng các thông tin mào đầu tạo thành tốc độ truyền dẫn là 784 kbit/s. luồng E1 (2.048Mbit/s) trên ba đôi sợi đồng, kỹ thuật này đã được chuẩn hoá và đưa vào Kỹ thuật HDSL sử dụng mã đường truyền 2B1Q và mang tải trọng T1 hay E1 trên hai ♦ Trong một mạch vòng thuê bao, tín hiệu phát tại một đầu gần của một đôi sợi có thể xen vào tín hiệu thu của đôi sợi khác được gọi là xuyên âm đầu gần hay NEXT ( Near là kết hợp của 24 kênh 64 kbit/s và một số các thông tin mào đầu. Khi dữ liệu được gửi tới phần phát của HDSL, các chữ số nhị phân được kết hợp thành Từ đây, các quat được xem là tên ký hiệu, không mang giá trị số. ♦ Phần thứ hai là một vài mạch chung được sử dụng trong tất cả các hệ thống HDSL: HDSL truyền tải E1 bằng những đường riêng không thông qua chuyển mạch kênh của Chúng có thể hoạt động cùng với các cầu nối rẽ và nếu khoảng cách truyền dẫn lớn thì có và hoạt động tại tốc độ là 2.320Mbit/s giữa các bộ thu phát HDSL. Với hệ thống sử dụng hai đôi sợi thì mỗi đôi hoạt động tại tốc độ đối xứng 1.168Mbit/s giờ cao hơn so với E1 là do có thêm vào các bit mào đầu. do có thêm một vài mào đầu cho nên mỗi đôi hoạt động tại tốc độ đối xứng là 784kbit/s pháp truyền dẫn ba đôi sợi do mỗi đôi hoạt động tại tốc độ bit thấp cho nên khoảng cách năng cung cấp tốc độ E1, kỹ thuật HDSL còn có khả năng cung cấp tốc độ T1 với cấu Kỹ thuật này giải quyết được một số hạn chế của kỹ thuật HDSL thông Ðó là chỉ sử dụng một đôi sợi mà vẫn truyền tải được tốc độ như HDSL thông Trong HDSL có thể dùng mã đường truyền 2B1Q hoặc sử dụng phương pháp CAP cho điều chế tín hiệu đồng thời sử dụng kỹ thuật ghép kênh theo tần số hoặc kỹ Những ứng dụng chính của kỹ thuật HDSL là: ♦ Ngoài ra nó còn được sử dụng cho các hệ thống vô tuyến hoặc tốc độ truy nhập cơ Hiện nay, rất nhiều công ty và các chi nhánh của nó đã sử dụng HDSL cho truy nhập 64 kbit/s trên mỗi đôi dây trong mạng riêng của các khu vực này là rất khó khăn và có chi Việc sử dụng HDSL cho trường hợp mở rộng mạng (thêm các trung tâm PBX mới) là kỹ thuật này còn có thể áp dụng cho việc mở rộng mạng LAN và các kết nối tới vòng tốc độ truyền dẫn nên vị trí của máy truy nhập và máy chủ không cần quan tâm. Kỹ thuật HDSL là một kỹ thuật truyền dẫn đường thuê bao số tốc độ bit cao, nó truyền những dịch vụ với tốc độ cao T1 và E1 giữa những nhà cung cấp dịch vụ và những khách ưu điểm đầu tiên của kỹ thuật này là nó tận dụng những Hầu hết các lợi ích của kỹ thuật này là ở bên phía nhà LTU đối với E1) và card khách hàng (HTU-R đối với T1 hay NTU đối với E1) là có thể Một khía cạnh khác của kỹ thuật này đó là nhiều lợi ích kỹ thuật mà hầu hết các khách Tuy nhiên kỹ thuật đường thuê bao số tốc độ bit cao (HDSL) vẫn còn có nhiều nhược cần thiết phải sử dụng các bộ lặp; thứ hai là: về mã đường sử dụng, trong kỹ thuật này sử dụng mã đường truyền dẫn 2B1Q, đối với loại mã đường này thì nó có hạn chế về băng tuy đã nói ở phần trên nó có ưu điểm là tận dụng những đường thoại đang tồn tại, nhưng Trong kỹ thuật truyền dẫn sử dụng kỹ thuật đường thuê bao số tốc độ bit cao HDSL sợi đồng mà sử dụng những tần số cao để hỗ trợ những dịch vụ tốc độ cao thì sẽ đạt được những khoảng cách truyền dẫn ngắn hơn so với những tín hiệu điện sử dụng những tần số thấp, bởi vậy mà những tín hiệu sử dụng tần số cao được truyền trên những vòng kim loại sự suy hao năng lượng khi truyền dẫn trên những đôi sợi đồng đó là đó là sử dụng những mà có thể truyền tín hiệu với khoảng cách xa hơn mà không phải sử dụng bộ lặp. Nhiều hệ thống thường sử dụng những dải tần số tín hiệu phát và thu khác nhau. hệ thống được tách riêng tần số phát và tần số thu được đề cập đến đó là ghép kênh phân giống như kỹ thuật HDSL nhưng hệ thống SDSL chỉ sử dụng một đôi sợi để truyền những dịch vụ tốc độ cao từ nhà cung cấp dịch vụ tới khách hàng, mỗi đôi hoạt động tại tốc độ 784kbit/s, việc sử dụng một đôi sợi này làm giảm thiết bị trong hệ thống và chi phí Kỹ thuật SDSL cho phép ghép kênh thoại và số liệu trên cùng một đường và cho phép người sử dụng truy cập những trang Web, tải những tệp dữ liệu và cung cấp những dịch vụ tốc độ cao dựa trên 3 tham số cơ bản: tốc độ dịch vụ, chi phí và Dưới đây là những tốc độ truyền dẫn của kỹ thuật SDSL tương ứng Bảng 1.3: Tốc độ truyền dẫn của SDSL tương ứng với khoảng cách dây điện thoại thông thường thành một đường truy nhập đa dịch vụ và các đường truyền ADSL cung cấp đường truyền tốc độ 6 Mbit/s- 8 Mbit/s tới thuê bao chiều (phụ thuộc vào cấu trúc của ADSL) và một kênh thoại hoặc một kênh N-ISDN. Modem ADSL được sản xuất có khả năng cung cấp tốc độ dữ liệu theo cả tiêu chuẩn Mỹ và Châu Âu, có thể thay đổi tốc độ và dung lượng đường truyền. ADSL có thể cung cấp là 1,5 hoặc 2 Mbit/s trên một kênh từ tổng đài tới thuê bao và 16 IP bằng việc thay đổi tốc độ truyền và phù hợp với các mào đầu của ATM cũng như IP. So với tất cả các kỹ thuật DSL thì ADSL là một trong những kỹ thuật được chuẩn hoá M¹ ng M¹ ng M¹ ng Như đã nói ở trên, ADSL có khả năng cung cấp truyền kênh thoại tương tự (POTS) và kênh tương tự 4 kHz từ tổng đài tới thuê bao trên băng tần số của đường truyền ADSL. Trên hình vẽ, giao diện B là một đầu vào phụ sử dụng cho các luồng tín hiệu khác Trong sơ đồ này, các giao diện U trên hình 1.10 sẽ không có khi bộ chia được chế tạo Trong sản phẩm ADSL, các mã đường truyền CAP, QAM, DMT là được sử dụng phổ Sử dụng biểu đồ pha cho điều chế cầu phương trong đó thuật toán sử dụng là sự kết hợp Trong khi các kênh bị giới hạn băng tần, truyền dẫn đa mức có thể thực hiện khi áp dụng Bằng cách sử dụng tín hiệu I và Q như miêu tả như ở trên, bộ thu có thể nhận và phân Khi giá trị N tăng lên nghĩa là tốc độ bít tăng lên nhưng vị trí các điểm sát lại với nhau trực giao với nhau rồi được tổ hợp thành tín hiệu cầu phương và truyền trên kênh truyền Ðiều đó có nghĩa là các tín hiệu cầu phương là tổ hợp của hai tín hiệu xuất phát từ Phương pháp điều chế pha và biên độ không sử dụng sóng mang này dựa trên phương lọc phía đầu thu và bộ phận sử lý là một phần của việc cân bằng, điều chỉnh. đến 1,1 MHz được chia thành các kênh 4 kHz và DMT mã hoá và điều chế tạo thành các kênh phụ 4kHz.Các bít trong mỗi kênh phụ được điều chế bằng kỹ thuật QAM và đặt Ðối với bất kỳ loại mã đường truyền nào sử dụng một đôi dây cho việc truyền song từ thuê bao tới tổng đài (đơn giản là kỹ thuật ghép kênh theo tần số - FDM) hoặc phải sử tiếng vọng có thể sử dụng kết hợp đồng thời điều này là do sự không đối xứng của băng là đặc thù riêng của ADSL so với các kỹ thuật DSL khác. Hình 1.9: ADSL sử dụng và không sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng Kỹ thuật xoá tiếng vọng có một yếu điểm là bị ảnh hưởng lớn bởi tác động của xuyên âm đầu gần (NEXT); khi đó đầu thu có thể nhận tín hiệu được truyền sang từ hệ thống thuật xoá tiếng vọng có thể sử dụng đối với tần số thấp nhất nên đạt hiệu suất cao hơn. Trong trường hợp dùng một đường truyền đồng thời cho cả hai hướng trên cùng một thành hai băng tần cho đường từ tổng đài tới thuê bao và ngược lại. truyền từ thuê bao đến tổng đài và khoảng 900 kHz băng tần dùng cho hướng từ tổng đài Chú ý rằng thiết bị ADSL dùng CAP sẽ sử dụng FDM nhưng không có kỹ thuật xoá tiếng vọng, ngược lại thiết bị ADSL dùng DMT lại sử dụng kỹ thuật xoá tiếng vọng (đây là Kỹ thuật xoá tiếng vọng này được gọi là kết hợp echo-FDM cho thiết bị Mặc dù đến nay chưa thống nhất được việc sử dụng loại mã đường truyền nào (CAP hay DMT) là tốt hơn cho ADSL, nhưng phải thừa nhận rằng mỗi loại trên đều có những điểm sợi), xử lý nhiễu (xuyên nhiễu số) và các thuê bao (cho kênh thoại hoặc các mục đích Thiết bị ADSL (ATU-C và ATU-R) được thiết kế sử dụng mã đường truyền cho cả khác là cùng sử dụng các khung để truyền tải thông tin. tin từ tổng đài tới thuê bao hoàn toàn độc lập cho các kênh đơn hướng. này chỉ có nhiệm vụ mang chuỗi bit tới khách hàng và được ký hiệu từ AS0 đến AS3. Chú ý rằng, các kênh tải tin này là các kênh logic và chuỗi bit từ tất cả các kênh cùng được truyền đồng thời trên đường truyền ADSL mà không phải sử dụng băng Bất kỳ kênh tải nào cũng cũng có thể được lập chương trình để mang tốc độ là một bội số Tuy nhiên đối với những tốc độ không phải là bội số của 32 kbit/s thì phải sử dụng đến các bit phụ trong phần mào đầu của khung ADSL (70 kbit/s, 6 Hiện nay các kênh tải tin hoạt động hầu như với toàn bộ bội số của 32 kbit/s, đây có thể ADSL cho bốn lớp truyền tải đối với kênh đơn hướng từ tổng đài tới thuê bao. này thiết lập trên cơ sở bội số đơn của một kênh tốc độ 1,536 Mbit/s (tốc độ truyền tải Do đó những lớp truyền tải trên sẽ có tốc độ 1,536 Mbit/s, 3072 Mbit/s, 4608 Ðối với các kênh tải song hướng có thể mang một kênh điều không bị giới hạn với bất cứ lớp truyền tải nào và ngay cả của bản thân nó. trong tương lai có thể xây dựng cho truyền tải 1,544 Mbit/s (tốc độ đầy đủ của T1) hoặc Sự đa dạng trong tốc độ tải tin ngày nay chính là do các sản phẩm ADSL tạo ra. tốc độ kênh con được hình thành theo tốc độ kênh tải giả định cho các loại thiết bị ADSL Tốc độ cực đại trong lớp truyền tải 6,144 Mbit/s không cho phép xảy ra đồng Bảng 1.4: Các giới hạn trên của tốc độ tải tin Số kênh con lớn nhất có thể hoạt động tại bất cứ thời điểm nào và số lượng tối đa kênh tải tin có thể truyền đồng thời trong hệ thống ADSL tuỳ thuộc vào lớp truyền tải. lớp truyền tải và được đánh số từ 1 đến 4. Năng lực lớp truyền tải phụ thuộc vào tốc độ đường truyền đạt được của mạch vòng ADSL và cấu hình của các kênh con mà chúng tạo nên số kênh con hoặc tốc độ Cho tới nay chưa có bất kỳ sự thay đổi nào về cấu trúc và tốc độ dùng là 6,144 Mbit/s và nó được tạo ra từ sự kết hợp bất kỳ của 1 tới 4 kênh tải tin đang hoạt Các cấu hình tuỳ chọn mà tốc độ của chúng là 6,144 Mbit/s Lớp thứ 2 là tuỳ chọn và tải một luồng 4,608 Mbit/s tới phía khách hàng. hệ thống có thể cung cấp bất kỳ hoặc tất cả các tốc độ kênh tải tin. Lớp thứ 3 cũng là tuỳ chọn và tải một luồng 3,072 Mbit/s tới phía khách hàng. có thể tạo nên một hoặc hai kênh tải tin hoạt động ở tốc độ là bội của 1,536 Mbit/s. lớp này giống lớp 2 (là tuỳ chọn) nên hệ thống có thể cung cấp bất kỳ hoặc tất cả các tốc Trên đây đã đề cập đến các cấu hình phân lớp của ADSL có tốc độ tối đa là 6,144 Mbit/s kênh tải AS0, AS1, AS2 (bảng 1.5) là được hỗ trợ cho sử dụng luồng 2Mbit/s. Với cấu trúc 2Mbit/s, lớp truyền tải được đánh số từ 2M-1 đến 2M-3. Lớp 2M-1 được tạo từ sự kết hợp bất kỳ của 1 tới 3 kênh tải tin hoạt động ở tốc độ bội của 1 hoặc 2 kênh tải tin hoạt động ở tốc độ bội của 2,048 Mbit/s. Lớp 3 cũng là tuỳ chọn và sử dụng cho trên mạch vòng dài nhất nhưng lại có tốc độ nhỏ Tốc độ của lớp này là 2,048 trên kênh AS0. Việc nghiên cứu các kênh tải truyền theo hướng ngược lại vẫn đang được tiến hành, tuy vậy có tới ba kênh tải song hướng có thể truyền đồng thời trên giao diện ADSL. dụng - mạng cho các kênh tải đơn hướng tới khách hàng được tải ở đây. kênh C luôn được mang trong phần mào đầu đặc biệt của khung ADSL. truyền tải khác sử dụng kênh C tốc độ 64kbit/s và các bản tin được truyền trên kênh song Bên cạnh kênh C, hệ thống ADSL có thể mang 2 kênh tải song hướng tuỳ chọn: LS1 hoạt chính xác của kênh tải song hướng thay đổi theo các lớp truyền tải giống như định nghĩa Chú ý: - Khi kênh tải song hướng 160 kbit/s được chọn cho truyền ISDN BRA, tất cả các báo hiệu kết hợp với ISDN BRA được tải trong kênh D của tín hiệu 2B+D nhúng trong phải ISDN có thể được đặt trong kênh C, mà dùng chung báo hiệu cho các kênh tải tin Việc đặt ra tiêu chuẩn cấu trúc và tốc độ tối thiểu của các kênh tải để tránh việc tự do quy định cho các thiết bị ADSL của các nhà thiết kế và cung cấp thiết bị là khác nhau. nhiên sự có mặt các quy định của các lớp truyền tải cho hoạt động của các kênh đơn hướng và lựa chọn các kênh song hướng cũng không hoàn toàn đạt được mục đích nói Bảng 1.7: Cấu trúc của các kênh đơn hướng và song hướng Kỹ thuật ADSL cũng sử dụng phần mào đầu trong cấu trúc kênh giống như các Một trong số các chức năng chính của phần mào đầu là đồng bộ các kênh tải để thiết bị ADSL ở hai đầu đường truyền có thể nhận biết cấu trúc các kênh (AS và LS), tốc độ của các kênh, vị trí của các bít trong khung. CRC), một số bit sử dụng cho khai thác, quản lý và bảo dưỡng (OMC), số khác dùng sửa mào đầu truyền với tốc độ 32 kbit/s (nhưng cũng có ngoại lệ). hướng từ tổng đài tới thuê bao có tốc độ lớn nhất là 128 kbit/s và nhỏ nhất là 64 kbit/s Bit mào đầu có thể nằm trong tốc độ bit của khung ADSL và không chiếm băng tần phụ hoặc được thêm vào tốc độ bit của khung cho hướng này hoặc hướng kia. trên kênh song công thì tốc độ lớp thứ nhất tăng từ 6,144 Mbit/s tới 6,976 Mbit/s (lớn nhất) hoặc 6,336 Mbit/s (nhỏ nhất) với 6,912 Mbit/s sử dụng cho hầu hết các tốc độ sử Thiết bị ADSL gồm ATU-C và ATU-R truyền dữ liệu bằng cách sử dụng các mã ở mức thấp nhất của giao thức là các bit, biểu thị bởi mã đường truyền DMT và Các bit được tổ chức thành khung và tập hợp các khung thành siêu khung theo một Nếu so sánh với các cấu trúc khung khác, siêu khung ADSL có nhiều điểm chung Trong thực tế, các khung Ethernet có thể tạo nên nội dung của siêu khung ADSL. lỗi (kiểm tra phần dư chu kỳ - CRC) và các bít chỉ thị sử dụng cho quản lý đường truyền. Ngoài ra, các bít chỉ thị khác được tải ở khung 34 và 35. điểm-điểm nên không có địa chỉ khung và nhận dạng kết nối của ADSL. Một khung của ADSL có chu kỳ là 250 μs được gọi là byte nhanh được đặt trước phần này và mang chức năng CRC cộng với một của khung phải được trộn ngẫu nhiên trước khi truyền để tối thiểu hoá các lỗi đồng bộ Chú ý rằng sẽ không có một kích cỡ khung tuyệt đối cho các siêu khung ADSL bởi vì tốc độ đường truyền ADSL thay đổi và không đối xứng, hơn nữa bản thân kích cỡ khung nghĩa là mỗi khung có chu kỳ 250 μs (phần dữ liệu nhanh và chèn là 125 μs), và một siêu Ðương nhiên tốc độ truyền ADSL lớn nhất sẽ có kích thước Kích cỡ phần đệm được xác định theo cấu trúc và tốc độ kênh tải khi Như đã đề cập ở trên khung 0, 1, 34 và 34 có chức năng đặc biệt trong cấu trúc siêu này được tải trong byte dữ liệu nhanh của từng khung ADSL trong siêu khung . Các bit mào đầu dữ liệu nhanh có cấu trúc khác nhau phụ thuộc vào tính chẵn lẻ của Các bít sử dụng để xác định lỗi và các bit chỉ thị cho chức năng OAM ở khung 0, Các khung khác tải bít cấu hình (EOC) và bít điều khiển đồng bộ (SC) cho Bit chỉ thị los (ib12) chỉ ra sự mất tín hiệu và được ADSL ATU sử dụng để xác định tín Bít rdi chỉ ra sai hỏng đầu xa và được ADSL ATU sử dụng gọi là febe-i, thay thế cho lỗi khối đầu xa của dữ liệu chèn trong siêu khung ADSL. này dùng để chỉ kết quả kiểm tra CRC dữ liệu chèn ở siêu khung nhận được có khớp với được gọi là fecc-i, dùng cho mã sửa lỗi trước (FEC) dữ liệu chèn trong siêu khung dữ liệu (nhanh hoặc chèn), khung được tạo một cách đơn giản từ một số byte cho kênh tải byte mào đầu được thêm và sử dụng chung cho các kênh. Thực tế, ADSL có nhiều tốc độ truyền dẫn khác nhau ở mỗi hướng nên cấu trúc sẽ phức Chỉ có ở các lớp truyền tải mới có thể thêm bất cứ phần cấu tạo chung nào cho cơ Chú ý rằng các bit AS và LS có thể truyền trong phần đệm dữ cách khác, nếu khung ADSL có chứa các bit cho AS0 trong vùng đệm dữ liệu nhanh của khung thì nhất thiết phải có một số lượng bít tương tự cho AS 0 trong vùng đệm dữ liệu Cấu trúc cho số byte mặc định trong khung ADSL được trình bày trong bảng 1.9. chú ý rằng trong lớp truyền tải thứ nhất, cấu trúc mặc định chỉ định 96 byte cho AS0 và Vì có 8 bit trong 1 byte và 4000 khung ADSL được gửi mỗi giây nên tốc độ bít trên AS0 và AS1 là 3,072 Mbit/s không kể đến kích thước khung Như vậy hai kênh tải tin từ tổng đài tới thuê bao hoạt động ở 3,072 Mbit/s là sự các kênh LS0 cũng có tốc độ 64 kbit/s cho hai hướng. Cấu trúc khung ADSL trong lớp truyền tải thứ nhất được gửi đi từ ATU-C. Cũng tương tự như trên, các dịch vụ tốc độ dựa trên chuẩn 2,048 Mbit/s cũng có sự qui Các kênh AS0, AS1 và AS2 gửi toàn bộ 64 byte trong mỗi khung trên lớp truyền tải 2M- 1. Như vậy sẽ có ba kênh tải tin từ tổng đài xuống thuê bao hoạt động ở tốc độ 2,048 Trong cấu hình này kênh LS0 hoạt động ở tốc độ 64 kbit/s Kỹ thuật ADSL không sử dụng bộ chia là một ứng dụng đặc biệt của kỹ thuật ADSL. được tín hiệu tần số cao dành cho ADSL còn ở phí thoại có thể nhận được cả 2 loại tín Với kỹ thuật này modem G.Lite và điện thoại của khách hàng hoạt động trên cùng một hệ thống dây dẫn cho phép khách hàng có thể sử dụng dịch vụ thoại hay modem băng tần Việc này trái ngược với ADSL thông thường là phải có các đường dây dẫn riêng cho ADSL và dịch vụ điện thoại sau khi tín hiệu qua bộ chia (thông 1.4.7 Các dịch vụ có thể được kỹ thuật ADSL cung cấp đối xứng là một kỹ thuật làm thay đổi hoàn toàn năng lực của đường thuê bao thoại Kỹ thuật này cho phép truyền đồng thời tín hiệu thoại và nhiều dịch vụ tốc độ cao khác (truyền số liệu, thông tin) với chất lượng tốt trên đôi dây đồng. - ADSL cho phép tận dụng các đôi cáp đồng thuê bao cho truy nhập Internet từ xa với - ADSL có khả năng đáp ứng cho các ứng dụng mới đòi hỏi thời gian thực, đa phương - ADSL là một giải pháp mang lại lợi ích cho nhà cung cấp dịch vụ nhờ vào việc tận • Khách hàng làm chủ đường truyền dữ liệu của mình, điều này khác với dịch vụ • Tốc độ đường truyền không bị ảnh hưởng bởi các người sử dụng khác do mỗi - ADSL luôn ở chế độ chờ và sẵn sàng truyền tin bất cứ khi nào khách hàng cần. Kỹ thuật cung cấp các đường thuê bao số với tốc độ rất cao được viết tắt là kỹ thuật được sử dụng để cung cấp các dịch vụ số liệu băng rộng như các kênh tivi, truy nhập dữ liệu với tốc độ rất cao, hội nghị qua video, video động, truyền tổ hợp dữ liệu và tín hiệu Kỹ thuật VDSL sử dụng phương thức truyền dẫn giống như kỹ thuật ADSL, nhưng kỹ thuật VDSL có khả năng cung cấp số liệu với tốc độ cao gần gấp 10 lần tốc độ truyền dẫn sử dụng phương thức truyền dẫn dịch vụ đối xứng (phương thức truyền dẫn có tốc độ đến tổng đài) và không đối xứng (phương thức truyền dẫn có tốc độ truyền dẫn xuôi từ phía tổng đài tới thuê bao cao hơn rất nhiều so với tốc độ truyền dẫn từ phía thuê bao tới độ chiều đi và chiều về là 10:1, phương thức truyền dẫn này phù hợp để cung cấp dịch vụ tốc độ cao từ phía tổng đài tới thuê bao nên rất hay được sử dụng trong kỹ thuật VDSL. Ngoài việc có khả năng cung cấp tốc độ cao hơn nhiều so với tốc độ truyền dẫn của kỹ nhiều ưu điểm như vậy nhưng kỹ thuật này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi đó là vì chưa một số chipset của modem sử dụng kỹ thuật VDSL vẫn còn đắt nên kỹ thuật này chưa