Báo cáo tốt nghiệp “tổng quan về tivi màu SONY KV- 1485MT”

Báo cáo tốt nghiệp “tổng quan về tivi màu SONY KV- 1485MT”

Lượt xem: 92,658Lượt tải: 1Số trang: 64

Mô tả tài liệu

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội. Khoa học kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng.Với bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng cần đến thông tin.Vì vậy trong vài thập kỷ gần đây đã có sự bùng nổ về thông tin đã và đang chuyển sang kỷ nguyên công nghệ thông tin. Ở Việt Nam, trong nhưng năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà còn nông thôn vùng sâu, vùng xa thông tin đều đến được .Tivi đã trở thành một phương tiện giải trí cũng như la phương tiện cập nhập thông tin. Có...

Tóm tắt nội dung

Nhằm đáp ứng các yêu cầu về thông tin, rất nhiều hãng đã tập trung vào nghiên cứu và phát triển hệ thống tivi ngày càng tân tiến,mang lại sự hài lòng cho người sử đó, SONY, một hãng điện tử lớn ở Việt Nam, đã thực sự làm hài lòng người dùng bằng chính công nghệ tiên tiến của chói trung bình: Mỗi điểm ảnh đều có độ chói riêng để cấu thành toàn bộ ảnh trong truyền hình đen trắng người ta truyền đi tín hiệu đặc trung co độ chói của mỗi điểm ảnh. Do hệ thống kính lưỡng sắc và gương phản chiếu đã phân tích ánh sáng màu sắc của ảnh thành ba phần màu cơ bản đưa tới 3 kính lọc màu, kính lọc màu (R) chỉ cho màu đỏ qua (còn các thành phần khác thì hấp thụ ). Đèn quang điện có nhiệm vụ biến đổi tín hiệu quang (ánh sang màu R, G, B) thành tín hiệu điện tương ứng với 3 màu cơ bản Fr, Fg, Fb. Để khuyếch đại tín hiệu màu lên đủ lớn, sau đó được đưa vào điều chế biên độ 3 tần số sóng mang cao tần đã điều biên được tới bộ cộng và được tần phổ như trên. Tín hiệu của kênh truyền hình màu được đưa ra bộ lọc, khuyếch đại, lọc dải để lấy riêng ra ba tấn số mang màu đã điều chế Fr, Fg, Fb. Tần số mang màu được đưa đến bộ tách sóng để lấy ra 3 tín hiệu màu riêng biệt R, G, B. Tín hiệu màu được khuyếch đại và cung cấp cho 3 đèn màu tương ứng, ánh sáng của đèn màu trên màn ảnh và tái tạo lại cảnh vật màu sắc. Để thực hiện được tính kết hợp giữa truyền hình màu và truyền hình đen trắng ta phải tạo ra một đường truyền, độ chói Y riêng biệt và nét dải thông của tín hiệu màu 6MHz để phù hợp với dải thông của tín hiệu đen vào các đường thực nghiệm hình vẽ độ nhạy của mắt đối với ánh sáng màu, ta định độ chói Y (tín hiệu độ chói Y chính là tín hiệu trong truyền hình đen trắng) theo các màu sơ cấp được tính bằng biểu thức sau: Từ biểu thức trên ta có thể tạo được độ chói Y từ 3 màu cơ bản bằng mạch ma trận như hình. Để đơn giản ta không truyền đi thông tin tín hiệu màu cơ bản R, G, B mà truyền tín hiệu “Hiệu số màu”: (R-Y); (G-Y); (B-Y) với cách truyền này, khi thu chương trình đen trắng thì R, G, B và Y có biên độ như nhau nếu các tín hiệu “hiệu số màu bằng 0”, do đó chỉ còn thông tin về độ chói Y. Trong thực tế ta không cần truyền cả 3 thông tin tín hiệu “Hiệu số màu” với độ chói Y mà chỉ cần truyền đi thông tin độ chói Y và tín hiệu “Hiệu số màu” (R-Y) và (B – Y), với cách truyền này nhằm giảm nhiễu do tính hiệu màu sinh ra trên ảnh truyền hình đên trắng hoặc trên các mảng trắng của ảnh màu. Hình trên là sơ đồ khối phát tín hiệu “Hiệu số màu”, máy ảnh mà “Camera” thu nhận ánh sáng màu sắc của ảnh vật đưa qua hệ thống quang học “kính lưỡng sắc, gương phản chiếu, kính lọc màu…” Để phân tích màu cảnh vật thành 3 màu cơ bản R, G, B và sau đó biến đổi từ tín hiệu quang thành tín hiệu điện , nhờ vậy đầu ra của máy ảnh màu ta lấy được điện áp của 3 màu sơ cấp R, G, B hay ( UR Ug, Ub ) ba tín hiệu này qua mạch ma trận và đầu ra của mạch ma trận ta lấy được điện áp tín hiệu chói Y Đưa tín hiệu độ chói Y và ba tần số các tần điều chế đưa tớ bộ cộng và được tín hiệu màu tổng hợp ( T ). Điện áp tín hiệu màu tổng hợp (T) điều chế vào tần số sóng mang do máy phát tạo ra, kết quả ta có tín hiệu màu tổng hợp điều chế cao tần đưa tới ăng ten phát tạo ra, kết quả có tín hiệu màu tổng hợp điều chế vào tần số sóng mang do máy phát tạo ra, kết quả tín hiệu màu tổng hợp điều chế cao tần đưa tới ăng ten phát và phát ra không gian. Hệ NTSC chỉ cần một song mang phụ mà có khả năng mang đồng thời hai tín hiệu màu này, thì phía phát dùng công thức điều chế vuông góc và phía thu dùng mạch tách sóng đồng bộ. Đến nay hệ SECAM IIIB được sử dụng phổ biến, hệ SECAM IIIB tín hiệu chói Ey truyền được tất cả các dòng, còn hai tín hiệu màu DR, DB truyền lần lượt theo dòng quét trên hai sóng mang phụ có tần số trung tần là for, fob tương ứng theo phương thức điều tần. Hệ SECAM IIB truyền lần lượt tín hiệu màu DR và DB để tránh nhiều giao thoa giữa chúng trên đường truyền và phương pháp điều tần DR và DB vào hai song mang phụ for và fob do đó méo pha nhỏ, nhược điểm chủ yếu là không phủ được tần số song mang màu phụ nên có hiện tượng nhiễu trên khi thu chương trình truyền hình đen trắng, có hiện tượng nhấp nháy ở các dòng kế tiếp nhau tại các vùng bão hoà. Máy thu hình màu hệ PAL phức tạp hơn vì chỉ cần có dây trễ 64µs và theo yêu cầu dây trễ này có chất lượng cao và tính kết hợp với truyền hình đen trắng kém hơn so với hệ nguồn làm việc tạo ra 2 cấp điện áp là 115V và 15V ổn định với điện áp từ 110V lấy từ cọc 7 biến áp T601 qua R603 và C607 đưa vào chân 3 IC601 dùng để duy trì dao lấy từ cọc 7 biến áp T601 đưa tới chân 5 và qua D602, R623, C619 đưa vào chân 4 IC601 tạo sự ngắt mở cho đèn Q2. Trong khi đó chân 2 IC602 có mức điên áp cố định làm cho dòng qua diode quang (chân 1 và 2) trong IC603 thay đổi dòng qua đèn quang (chân 5 và 4) thay đổi thiên áp dèn Q603 thay đổi thiên áp dèn 601 thay đổi điện trở giữa chân 9 và 8 của IC601 thay đổi IC601 điều chỉnh biên độ dao động sao cho điên áp ra không thay đổi. Điện áp 115v qua R815 và R814 cung cấp nguồn nuôi (chân 25 IC301) cho mạch dao động ổn áp IC005 có đầu vào (chận 1, 15V) và 2 đầu ra (chân 5 và chân 4 đều có điện áp xấp xỉ 5V). Điện áp 5V ở chân 5 IC005 cung cấp nguồn nuôi chính cho mạch vi xử hợp này là do một mạch nào đấy trong mạch nguồn bị hỏng hoặc hở mạch so áp từ nguồn 115V đến chân 8và 9 của IC601 hoặc do lâu ngày mối hàn bị hở làm cho điện áp ra 115V tăng cao. Khi gặp trường hợp này ta phải kiểm tra lại các mối hàn và kiểm tra sự thông mạch từ nguồn 115V về chân 8 và 9 IC601 (IC602, IC603, Q603, qua diode qua chân 1 và 2 IC601 càng nhỏ thì điện áp ra càng tăng sau khi sửa xong trước khi cắm điện nguồn ta phải rút cầu chì PS801 ra để chánh có sự cố xẩy ra. Chỉ khi đo điện áp 115V cps đỉ và không lớn ta mới lắp diode D608 tốt vào và hàn cầu chì PS801 vào để cấp nguồn cho áp 115V tăng cao cũng như nguồn 15V tăng cao thường làm cho IC công suất tiếng IC251 bị hỏng chập chân cấp nguồn 15V (chân 1) chập chân ta cần phải đo điện trở của chân 1 IC251 với masse, nếu đo thấy điện trở xấp xỉ một vài Ω thì IC251 đã bị mạch nguồn này ta có thể đi điện trở của các IC để xác định các IC có bị hỏng hay không bằng các cách sau: Nếu IC601 hỏng thì chắc chắn đèn Q1 hỏng, còn nếu Q1 không hỏng, thì hầu như IC601 đều không hỏng, do đó ta có thể đo điện trở của 3 chân 1, 2, 3 của IC601 để xác định IC601 có bị hỏng nguồn 110v có thay đổi được trên dười 110v vào chân 1 (chân 3 nối với âm nguồn) và đo điện áp chân 2. Chỉ khi có tín hiệu không kể có màu hay không có màu, điều chỉnh COLOR chân này mới thay đổi điện áp. Khi không có tín hiệu điều chỉnh COLOR hiển thị có báo nhưng điện áp chân này luôn là 0V. Khi máy đang chạy bình thường điện áp chân này là 0V làm cho đèn Q004 hở mạch đèn Q801 làm việc bình thường do có tín hiệu dao động từ IC301 đưa vào bazơ đèn này. + Đèn Q004 thông bão hoà điện áp 5V qua đèn Q005 đặt vào bazơ đèn Q801, Q801 thông bão hoà, lúc này cực C đèn Q801 có điện áp xấp xỉ 0V đèn Q801 không có khả năng khuyếch đại tín hiệu dao động dòng phần công suất dong không làm việc máy không làm việc. + Một măt khác đèn Q251 thông, tín hiệu AUDIO đi vào chân 5 IC công suất tiếng (IC205) bị nối masse im tiếng (phải có mạch này vì nguồn 15V vẫn còn đưa vào IC công suất 8: Chuyển mạch thay đổi mức điện áp AGC khi dò bắt tín hiệu tự động Điện áp biến đổi này được chuyển đổi qua đèn Q001 làm cho cực C đèn Q001 biến đổi từ 0 30V cọc VC của kênh biến đổi từ 0V 26V. Bình thường chân này có điện áp là 0V. Khi ấn phím thay đổi các hệ truyền hình 2 chân này xuất hiện các tổ hợp điện áp. Các tổ hợp điện áp này sẽ tác động vào 2 cọc 11 và 13 khối trung tần khối trung tần làm việc ở các hệ khác nhau Mỗi một lần thực hiện một chức năng nào đấy như điều chỉnh VOLUME, thay đổi kênh CH thì chân này điện áp đang từ 3,8V tụt xuống thành 2V đèn Đ005nháy áp chân 2 nay không phụ thuộc lắp thạch anh hay không lắp thạch anh CF001.Khi mạch CF001 không làm việc chân 15 và 16 đêu là 0V, các chân 17, 18, 19, 20, 30, 31, 32, 33 cũng đều là 0V. Khi điện áp chân này là 5V hiển thị dịch lên trên tương ứng với hệ số mành 60Hz. Khi điện áp chân này xấp xỉ 0V hiển thị dịch xuống dưới tương ứng với hệ số 50Hx. Khi không có tín hiệu điện áp chân này là 6V. Khi đang dò bắt tín hiệu điện áp chân này biến đổi từ 0 6V. Khi đang thu tín hiệu điện áp chân này khoảng 2 5V, trung bình trên dưới 3V. Khi không có tín hiệu điện áp chân này là 1V. Khi đã bắt được tín hiệu ở chân 32IC301 xuất hiện xung đồng bộ dòng, xung dòn này được đẫn vào chân 36 để làm dung dò. Khi có tín hiệu điện áp chân này là 0.7V. Đo điện áp ở chân 35 khi đã thu được hình xem có thay đổi vài vôn hay có tín hiệu điện áp chân 36 thấp hơn (0,7V) so với khi không có tín hiệu AFT của trung tần bị hỏng hay chỉnh sửa sai sẽ làm cho điện áp AFT của chân 35 này không chuẩn không tự động dừng dò. Chức năng hue này chỉ xuất hiện và thay đổi được khi chân 14 là 5V tức là khi thu tín hiệu hệ NTSC 60Hz. Tín hiệu hiển thị màu xanh lá cấy lấy ra ở chân nay qua đèn đệm Q005 đưa vào đèn khuyếch đại màu xanh lá cây Q704 trong mảng đuôi đèn hình tạo hiển thị màu xanh lá cây trên màn 48 và chân 49: Mạch dao động tạo hiển thị, mạch này không làm việc không có hiển thị trên màn nuôi 115V qua R815 và R814 đưa vào chân 25 IC301 cung cấp nguồn nuôi cho mạch dao động dòng anh X301 (500KHz) lắp ở chân 29 IC301 tạo ra tín hiệu tấn số 500KHz. Trong IC có mạch chia tần chia thành tần số dòng và tần số mành. Tín hiệu dao động dòng ngược được lấy ra ở chân 27 IC301 đưa đến đèn kích dòng Q801 rồi đưa đến tần số công suất dòng Q802 cuối cùng tạo ra dòng điện lái tia dòng Tín hiệu dao động mành lấy ra ở chân 18 IC301 được đưa đến chân 4 IC công suất mành IC551 (LA7830) để cuối cùng tạo ra dòng điện mành trong cuội lái mành (V+, V-). Mạch chân 17 là mạch hồi tiếp âm cải thiện hình dạng dòng điện quét mành, chân này được nối với mạch điều chỉnh tuyến tính mành V. Dòng điện đi vào mạch công suất là mạch điện đi qua điện trở R815 (1,2V), dòng điện này sẽ tạo ra 1 sự sụt áp trên điện trở R858, sụt áp này có thể làm tín hiệu dòng ngắt chuyển mạch bảo vệ cắt dao động dòng khi có sự cố. Khi máy có sự cố quá tải cho dong qua R858 lớn đèn Q561 thông, xuất hiện điện áp dương cực C đèn này chân 22 có điện áp dương lớn tắt dao động máy không làm việc. Tín hiệu video tổng hợp từ chân 4 IC101 đi vào chân 3 trễ chói YCM301 chỉ còn lại tín hiệu chói y đi ra ở chân 5 YCM301 đi đến đèn đệm Q301 để rồi vào chân IC301 tín hiệu chói sau khi đi qua nhiều khâu sẽ đi đến một mạch ma trận kết hợp với 2 tín hiệu màu R-Y và B-Y để tạo ra 3 tín hiệu R G B lấy ra ở 3 chân 37, 38, 39. Điện áp ở 3 chân 37, 38, 39 tạo thiên áp cho 3 đèn khuyếch đại sắc Q703, Q704, Q705 (trong bảng đuôi đèn hình) làm việc sáng bình thường trên mà ảnh. Tùy theo biên độ điện áp của 3 chân này mà màn ảnh sáng hay tối hoặc thiên về một màu nào đó. Không có nguồn đưa vào chân này 3 đầu ra 37, 38, 39 không có điện áp màn ảnh tối. Một chân vào đó trong các chân này bị hở hay chập màn ảnh sẽ thiên về một màu tương ứng với chân màu 33: Làm tối mà ảnh khi chuyển chương trình .Bình thường chân này có điện áp khoảng 0,9V. Mỗi một lần chuyển chương trình chân này có điện áp vài vôn từ IC vi xử lý đưa đến làm tối màn ảnh. Nêu không có xung dòng vào chân này thì điện áp 3 đầu ra 37, 38, 39 sẽ lệch nhau nhiều màn ảnh trở thành màu xanh tím rất sáng. - Khi gặp trường hợp ánh sáng không bình thường như bị tối, quá sáng, thiên về 1 màu nào đó thì ta việc đâu tiên là đo điện áp 3 đầu ra 37, 38, 39. Nếu điện áp 3 đầu ra này đều xấp xỉ trên dưới 2V thì hỏng học là ở mảng đuôi đèn hình. + Nếu có điện áp 3 đâu ra (chân 37, 38, 39) không có thì kiểm tra nguồn nuôi ở chân Nếu điện áp 3 đầu ra bị lệch nhau thì kiểm tra đường cung dòng vào chân 26 và kiểm tra sự hở mạch hay chập mạch của 3 chân mạch ghim (chân 34, 35, 36). Khi mạch SECAM dẫn vào chân 34, 35 IC301 bị hỏng cũng làm cho điện áp 3 đẩu ra lệch nhau. Nếu trong cách này mà điện ap 3 đầu trở lại bình thường mà trước đó điện apc lệch nhau nhiều thì việc hỏng ở IC401.Gặp trường hợp màn ảnh quá tối hay sáng thì ta phải kiểm tra điện áp BRIGHT chân 41 và điện áp chân 33. Gặp trường hợp ánh sáng bình thường mà không bắt được hình (không có nhiễu) hoặc hình mờ (kém nhiễu) ta có thể kiểm tra mạch chói của IC 301 như sau: - Để thang đo điện áp thấp và đo điện áp chân 46, nếu đặt que đo vào mà màn ảnh tối đi mạch chói của IC301 tốt. Khi xác định được đường tín hiệu video từ cọc 12 khối IF đến chân 46 IC301 thông suốt bình thường và mạch IC301 tốt mà vẫn không có hình hoặc hình mờ thì việc hỏng là ở khố trung tần hoặc kênh. Tổ hợp điện áp ở hai chân: 1 và 12 vi xử lý tác động vào hai cọc 11 (SYS -1) và cọc 13 (SYS -2) của khối IF201 làm khối trung tần hoạt động ở các hệ khác áp 6,8V ở chân 7 IC02 làm cho đènQ13 và đèn Q21 thông bão hoà. Điện áp 6,8V ở chân 8 IC02 làm cho đènQ11 và đèn Q20 thông bão hoà. Điện áp 6,8V ở chân 1 IC02 làm cho đènQ06 và đèn Q19 thông bão hoà. Điện áp 6,8V ở chân 2 IC02 làm cho đènQ03 và đèn Q16 thông bão Q20 thông bão hoà cuộn L17 được nối masse cuộn T05 làm việc tách sóng tần số 4,5MHz. Điện áp 6,8V ở chân 2 IC02 còn làm cho 2 đèn Q17 và Q18 thông bão hoà tụ C17 và C18 được nối massethay đổi dải thong đầu vào trung tần để phù hợp với hệ NTSC M. - Đo điện áp của các chân IC vi xử lý, cọc IF201 và các chân của IC02 rồi so sánh với các bảng 2, bảng 3, bảng 4, bảng 5 sẽ xác định hỏng ở vi xử lý hay IC02 Ở dải UHF các chân của Q4 (trừ chân G2) đều không có điện áp các chân của IC1 sẽ khác đi. Điện áp các chân của đèn Q1, Q2, Q3 ghi trong sơ đồ là khi đang ưđều không có điện áp (trừ chân G2 của đèn Q1) Để kiểm tra việc cấp nguồn và sự làm việc của các linh kiện tích cự ta có thể đo điện áp ở các chân của đèn, IC, diode rồi so sánh đổi chiều với các giá trị điện áp ghi trong sơ đồ để tìm chỗ một tụ điện 10f từ chân 51 vào chân 36IC vi xử lý để có xung dòng thay cho xung đồng bộ dòng có trong tín hiệu hình thu thấy điện áp VC được 20V thì quệt chân 35 IC vi xử lý xuống massemáy sẽ không dò hình nữa và điện áp VC nhớ ở 20V. Việc giải mã tín hiệu màu PAL đươc thực hiện bởi một phần của IC301 .Mạch giải mã tín hiệu màu PAL gồm các chân của IC301 như sau: Tín hiệu sóng mang màu có trong tín hiệu video tổng hợp lấy ra ở chân 1 bộ lọc trễ chói YCM301 đưa vào chân 3 bộ lọc lọc YCM302 sẽ chon lọc các tín hiệu có tần số xung quanh tấn số 4,43MHz và xung quanh tần số 3,58MHz. Tùy theo điện áp ở chân 6 YCM302 mà bộ lọc chọn tần số nào. Ở hệ PAL và NTSC 4,43 điện áp chân 6 là 0V bộ lọc ra tần số 4,43MHz. Ở hệ NTSC 3,58 điện áp chân 6 là vài vôn bộ lọc lọc ra tần số hiệu sóng mang màu lấy ra ở chân 1 YCM302 đưa vào chân 1 IC301 để giải mã. Trong IC301 tín hiệu sóng mang màu vào ở chân 1được đưa qua một bộ khuếch đại rồi ra ở chân 3 áp T301 làm nhiệm vụ là mạch cộng và trừ để tách ra 2 tín hiệu U(B-Y) và V(R-Y) đưa vào 2 chân 5 và 6 của tín hiệu B-Y và R-Y được tách ra kết hợp với tín hiệu chói đi vào mạch ma trận trong IC301 để cuối cùng tách ra kết hợp với tín hiệu chói đi vào mạch ma trận trong IC301 để cuối cùng tạo ra 3 tín hiệu đơn sắc B, R, G lấy ra ở 3 chân 37, 38, 39 không có tín hiệu màu điện áp chân này thấp khoảng 0,5V. Khi có tín hiệu hệu màu vào điện áp chân này là 7. Do đặc điểm này ta có thể đo điện áp chân này để xác định xem có sóng mang màu vào IC301 hay thu tín hiệu màu hệ PALvà hệ NTSC4, 43 điện áp chân này là 0V. Khi thu tín hiệu màu hệ NTSC4,58 điện áp chân này là 13: Thay đổi hệ tần số 50/60Hz. Khi thu tín hiệu có tần số mành là 50V điện áp chân này là 0V. Khi thu tín hiệu có tần số mành là 60Hz điện áp chân này là 3,7V. Khi điều chỉnh COLOR điện áp chân này thay đổi từ 0v đến vài vôn. Chỉ khi có tín hiệu tức là có xung đồng bộ dòng vào chân 36 IC vi xử lú thì điều chỉnh COLOR chân này mới thay đổỉ điện áp - Đo điện áp các chân của IC301, so sánh đối chiếu điện áp đo được với điện áp ghi trong sơ đồ, phân tích tìm ra chỗ tra tín hiệu màu vào chân 5 và chân 6 bằng việc đo điện trở của các cuộn day cuộn T301. Khi thu tín hiệu hên NTSC tần số mành 60Hz chân 13 có điện áp cao là 3,7V làm Q301 thông chân 34 IC vi xử lý có mức điện áp cao làm hiển thị trên màn ảnh dịch lên trên. Khi hệ PAL mà có màu còn hệ NTSC4.43 không có màu thì ta chỉ cần quan tâm đến 2 chân của IC301 là chân 12 (chuyển mạch) và chân 42 giải mã màu hệ NTSC3.58 đều giống như mạch giải mã hệ NTSC4.43 khác ở chỗ là ở hệ NTSC3.58 mạch dao động đển tách song điều biên nén là mạch dao động tần số 3,58MHz do có lắp thạch anh X358 (3,58MHz) ở chân 10 hiệu sóng mang điều tần hệ SECAM được tách ra lấy trên 2 đầu cuộn T403 đi vào chân 1 và 2 của IC401 để giải mã IC401 tín hiệu sóng mang màu sau khi qua mạch khuyếch đại một phần tín hiệu được lấy ra ở chân 24 đi đến đèn đệm Q304 để vào dây trễ hiệu được lấy ra ở chân 24 đi đến đèn đệm Q304 để lấy ra trên 2 đầu điện trở R315 đi vào 2 chân 21 và tín hiệu màu này kết hợp với tín hiệu màu truyền hình thẳng trong IC để đi đến 2 mạch tách song R-Y và B-Y. Hai tín hiệu (R-Y), (B-Y) sau khi đã được tách song lấy ra ở 2 chân 10 và 11 IC401 đi đến chân 35 và chân 34 IC301 hai tín hiệu R-Y và B-Y kết hợp với tín hiệu Y trong mạch ma trận để cuối cùng tạo ra ba tín hiệu màu R, G, B lấy ra ở 3 chân 39, 38, 37 dòng ở chân 20 IV301 do mạch dao động dòng tạo ra được đưa vào chân 13 (BG) của IC401 để phục vụ cho việc giải mã tín hiệu màu ta điều chỉnh biên độ tín hiệu R-Y, B-Y lấy ra ở chân 10 và chân 11 IC401 bằng việc thay đổi điện áp COLOR ở chân 8 độ các tín hiệu R-Y và B-Y ra ở chân 10 và 11 IC401 còn thay đổi khi điều chỉnh điện áp PICTURE ở chân 9 IC401 để cân đối giữa tín hiệu hình với tín hiệu sắc. Màn hình CRT sử dụng phần màn huỳnh quang dùng để hiển thị các điểm ảnh, để các điểm ảnh phát sáng theo đúng màu sắc cần hiển thị cần các tia điện tử tác động vào chúng để tạo ra sự phát xạ ánh sáng. Để tìm hiểu nguyên lý hiển thị hình ảnh của các màn hình CRT, ta hãy xem nguyên lý để hiển thị hình ảnh của một màn hình đơn sắc (đen trắng), các nguyên lý màn hình CRT màu đều dựa trên nền tảng này. Ở các màn hình CRT cổ điển: Toàn bộ lớp huỳnh quang trên bề mặt chỉ hiển phát xạ một màu duy nhất với các mức thang xám khác nhau để tạo ra các điểm ảnh đen đây có một dây tóc (kiểu giống dây tóc bóng đèn sợi đốt) được nung nóng, các điện tử tự do trong kim loại của sợi dây tóc nhảy khỏi bề mặt và bị hút vào điện trường tạo ra trong ống CRT. Để tạo ra một tia điện tử, ống CRT có các cuộn lái tia theo hai phương (ngang và đứng) điều khiển tia này đến các vị trí trên màn huỳnh điện tử được quét lên bề mặt lớp huỳnh quang theo từng hàng, lần lượt từ trên xuống dưới, từ trái qua phải một cách rất nhanh để tạo ra các khung hình tĩnh, nhiều khung hình tĩnh như vậy thay đổi sẽ tạo ra hình ảnh chuyển độ các tia này thay đổi theo điểm ảnh cần hiển thị trên màn hình, với các điểm ảnh màu đen các tia này có cường độ thấp nhất (hoặc không có), với các điểm ảnh trắng thì tia này lớn đến giới hạn, với các thang màu xám thì tuỳ theo mức độ sáng mà tia có cường độ khác nhau. Từ ba màu này mà máy in trước đây chỉ gồm ba hộp màu cơ bản trên, để in màu đen thì các máy in này in cả ba màu với cường độ cao để pha trộn sao cho ra màu đen (chứ khôn gphải là màu trắng như trong hình này) Trên màn hình hiển thị lớp huỳnh quang của màn hình đen trắng được thay bằng các lớp phát xạ màu dọc từ trên xuống dưới màn hình (điều này hoàn toàn có thể quan sát được bằng mắt với màn hình tinh thể lỏng, các hình ảnh tỉnh được hiển thị gần như tức thời nên không có cảm giác này (do đó ở tần số làm tươi 60 Hz vẫn không có cảm giác rung hình. Từ ba màu này mà máy in trước đây chỉ gồm ba hộp màu cơ bản trên, để in màu đen thì các máy in này in cả ba màu với cường độ cao để pha trộn sao cho ra màu đen (chứ khôn gphải là màu trắng như trong hình này) Trên màn hình hiển thị lớp huỳnh quang của màn hình đen trắng được thay bằng các lớp phát xạ màu dọc từ trên xuống dưới màn hình (điều này hoàn toàn có thể quan sát được bằng mắt với màn hình tinh thể lỏng, các hình ảnh tỉnh được hiển thị gần như tức thời nên không có cảm giác này (do đó ở tần số làm tươi 60 Hz vẫn không có cảm giác rung hình. Ánh sáng phân cực: theo lý thuyết sóng ánh sáng của Huyghen, Fresnel và Maxwell, ánh sáng là một loại sóng điện từ truyền trong không gian theo thời gian. Khi nói đến khái niệm tinh thể, ta thường liên tưởng tới vật chất ở thể rắn và có một cấu trúc hình học trong không gian nhất định. Vật liệu tinh thể lỏng có một tính chất đặc biệt là có thể làm thay đổi phương phân cực của ánh sáng truyền qua nó, tuỳ thuộc vào độ xoắn của các chùm phân tử. Đèn xenon không sử dụng dây tóc nóng sáng như đèn Vonfram hay đèn halogen, mà sử dụng sự phát sáng bởi nguyên tử bị kích thích, theo định luật quang điện và mẫu nguyên tử Bo. Bên trong đèn xenon là hai bản điện cực, đặt trong khí trơ xenon trong một bình thuỷ tinh thạch anh. Điện áp cung cấp cho đèn xenon phải rất lớn, thứ nhất để vượt qua ngưỡng điện áp đánh thủng để sinh ra tia lửa điện, thứ hai để kích thích các nguyên tử khí trơ lên mức năng lượng đủ cao để ánh sáng do chúng phát ra khi quay trở lại mức năng lượng thấp có bước sóng ngắn. Ta xét nguyên lý hoạt động của màn hình LCD với một điểm ảnh con: ánh sáng đi ra từ đèn nền là ánh sáng trắng, có vô số phương phân cực. Nếu giữa hai đầu lớp tinh thể lỏng không đựơc đặt một điện áp, các phân tử tinh thể lỏng sẽ ở trạng thái tự do, ánh sáng truyền qua sẽ không bị thay đổi phương phân cực. Nếu đặt một điện áp giữa hai đầu lớp tinh thể lỏng, các phân tử sẽ liên kết và xoắn lại với nhau. Ánh sáng sau khi bị thay đổi phương phân cực bởi lớp tinh thể lỏng truyền đến kính lọc phân cực thứ hai và truyền qua được một phần. Như vậy, có thể điều chỉnh cường độ sáng tại một điểm ảnh bằng cách điều chỉnh điện áp đặt vào hai đầu lớp tinh thể mỗi điểm ảnh con có một kính lọc màu, cho ánh sáng ra màu đỏ, xanh lá và xanh lam.Với một điểm ảnh, tuỳ thuộc vào cường độ ánh sáng tương đối của ba điểm ảnh con, dựa vào nguyên tắc phối màu phát xạ, điểm ảnh sẽ có một màu nhất thay đổi độ sáng tỉ đối này, phải thay đổi độ sáng của từng điểm ảnh con, bằng cách thay đổi điện áp đặt lên hai đầu lớp tinh thể lỏng. Một nhược điểm của màn hình tinh thể lỏng, đó chính là tồn tại một khoảng thời gian để một điểm ảnh chuyển từ màu này sang màu khác (thời gian đáp ứng – response thời gian này sinh ra do sau khi điện áp đặt lên hai đầu lớp tinh thể lỏng đựoc thay đổi, tinh thể lỏng phải mất một khoảng thời gian mới có thể chuyển từ trạng thái xoắn ứng với điện áp cũ sang trạng thái xoắn ứng với điện áp mới. Va chạm sẽ truyền năng lượng cho các electron ở lớp ngoài cùng của nguyên tử khí, làm cho các electron này nhẩy lên mức năng lượng cao hơn, sau một khoảng thời gian rất ngắn, các electron sẽ tự động chuyển xuống mức năng lượng thấp hơn và sinh ra một photon ánh sáng theo định luật bức xạ điện từ. Các chất khí này khi bị kích thích sẽ phát ra tia cực tím, không nhìn được trực tiếp bằng mắt thường, nhưng có thể gián tiếp tạo ra ánh sáng khả giống như màn hình LCD, màn hình Plasma cũng có cấu tạo từ các điểm ảnh, trong mỗi điểm ảnh cũng có ba điểm ảnh con thể hiện ba màu đỏ, xanh lá, xanh lam. Khi có điện áp được đặt vào hai điện cực, chất khí bên trong buồng kín sẽ bị ion hoá, các nguyên tử bị kích thích và phát ra tia cực điểm chủ yếu của màn hình Plasma so với màn hình LCD là chúng không hiển thị được một độ phân giải cao như màn hình LCD có cùng kích này do trong màn hình LCD, mỗi điểm ảnh con chỉ cần một lớp tinh thể lỏng khá bé cũng có thể thay đổi phương phân cực của ánh sáng một cách dễ dàng, từ đó tạo điều kiện để chế tạo các điểm ảnh với kích thước bé, tạo nên một số lượng lớn điểm ảnh trên một đơn vị diện tích (độ phân giải cao). Thể tích của lượng khí chứa trong một buồng kín này phải đạt một giá trị nhất định để có thể phát ra bức xạ tử ngoại đủ mạnh khi bị kích thích lên trạng thái không dừng lại ở đó, trong khi màn hình tinh thể lỏng và plasma đang từng bước chiếm lĩnh thị trường, thì tin tức về những thế hệ màn hình mới, với ưu điểm vượt trội hơn đã xuất hiện. Mặc dù công nghệ sản xuất tấm panel màn hình ngày càng phát triển, nhưng do đặc tính kĩ thuật của màn hình LCD, sẽ không có một cải tiến nào có thể xoá bỏ hoàn toàn những nhược điểm của loại màn hình này. Một cách tổng quát, tại mảng đồ hoạ cao cấp, màn hình tinh thể lỏng và plasma vẫn chưa thể cung cấp một chất lượng hình ảnh, độ chân thực màu sắc như những màn hình CRT truyền vào những điểm yếu đó của, màn hình LED và Laser ra đời, kết hợp được ưu điểm của màn hình tinh thể lỏng, plasma là kích thước nhỏ gọn, kiểu dáng đẹp, và của màn hình CRT là chất lượng hình ảnh tuyệt hảo. Màu sắc của ba điểm ảnh con này có được nhờ lọc màu từ ánh sáng trắng phát ra từ đèn nền. Hơn nữa, nhược điểm này còn khiến phổ màu mà màn hình LCD cùng với Plasma có khả năng tái tạo là không lớn. Hai loại màn hình thế hệ mới, LED và Laser, về cấu tạo chung cũng tương tự như màn hình LCD và Plasma, bao gồm các điểm ảnh, mỗi điểm ảnh cũng có ba điểm ảnh con, mỗi điểm ảnh con hiển thị một màu cơ bản trong hệ màu RGB. Tuy nhiên, khác với màn hình tinh thể lỏng và plasma, màn hình LED và Laser không sử dụng phương pháp lọc ánh sáng từ ánh sáng đèn nền để cho ra ánh sáng đơn sắc, mà sử dụng phương pháp phát trực tiếp ra ánh sáng có bước sóng mong muốn. Màn hình LED và Laser đang trong giai đoạn nghiên cứu nên hầu như rất ít nhà sản xuất công bố các đặc tính kĩ thuật, nguyên lý chi tiết, nhưng về cơ bản có thể phân tích hoạt động của hai loại màn hình trên như sau: Ngày nay, nhờ nghiên cứu về vật liệu bán dẫn, con người có thể chế tạo được những LED có khả năng phát ra màu sắc như mong muốn, trong đó có ba màu cơ bản của hệ màu RGB là xanh, xanh lá, đỏ. Nhờ điều chỉnh cường độ sáng của từng LED, có thể thay đổi cường độ sáng tỉ đối của ba LED so với nhau, nhờ đó tạo ra màu sắc tổng hợp tại mỗi điểm ảnh. Khi muốn điểm ảnh tắt, chỉ cần tắt toàn bộ 3 LED là có thể thu được màu đen tuyệt đối, không gặp phải hiện tượng màu đen không chân thực do lộ sáng từ đèn nền như với màn hình LCD. Một chất rắn thích hợp, khi nhận được kích thích từ bên ngoài, các electron bên trong sẽ nhảy lên mức năng lượng cao hơn, sau đó lại nhanh chóng chuyển về mức năng lượng thấp hơn và giải phóng một photon ánh nay, mới chỉ có tia laser đỏ (còn gọi là laser hồng ngọc) là phổ biến và có khả năng ứng dụng trong sản xuất màn hình, còn laser xanh và xanh lá, do có năng lượng cao hơn nên gần như không thể tạo được trong điều kiện hoạt động của một màn hình. Quá trình này gọi là Second Harmonic lợi dụng sự tương tác của các photon với vật liệu phi tuyến đặc biệt để kết hợp năng lượng vào một photon mới, có năng lượng gấp đôi photon ban đầu, hay có bước sóng nhỏ bằng một nửa. Màn hình laser, với nguyên lý hoạt động dựa vào việc phát ra các tia laser thay cho việc dùng đèn cường độ cao (HID: high intensity trong các màn hình có nhiều ưu điểm so với các loại màn hình hiện nay như có khả năng tái tạo lại một phổ màu rất rộng với độ chính xác màu sắc cao (có thể đạt đến hơn 90% phổ màu mà mắt người có thể cảm nhận), tiêu thụ ít năng lượng hơn màn hình LCD hay Plasma, kích thước gọn nhẹ, tuổi thọ lâu (có thể lên đến hơn 50000 dự đoán, một khi đưa vào sản xuất ở quy mô lớn, giá thành của màn hình Laser sẽ rẻ hơn rất nhiều so với giá màn hình LCD và Plasma hiện tại, có thể chỉ bằng một nửa Tuy nhiên, một năm sau, thêm một lần nữa, kế hoạch công bố màn hình SED bị trì hoãn, rất đáng tiếc khi mà công nghệ màn hình và truyền hình độ nét cao chính là tiêu điểm nóng nhất của hội chợ CES nhân chủ yếu là giá của màn hình SED khi sản xuất hàng loạt sẽ không thể cạnh tranh được trên thị trường, sau cơn sốt giảm giá chóng mặt hai loại màn hình LCD và sau khi màn hình CRT trở nên phổ biến, giới khoa học đã nhận ra một số điểm yếu của loại màn hình này, trong đó rõ rệt nhất là tần số quét quá thấp với một số sản phẩm có kích thước khung hình lớn. Cấu tạo cơ bản của màn hình CRT bao gồm một súng phóng điện tử, một hệ thống tạo từ trường để biến đổi quỹ đạo electron, và một màn huỳnh theo cường độ của hai từ trường này, quỹ đạo của electron trong từ trường sẽ bị lệch đi và đập vào màn huỳnh quang tại một điểm được định độ của điểm này trên màn hình có thể được điều khiển bởi việc điều chỉnh cường độ dòng điện trong hai ống dây, qua đó điều chỉnh cường độ từ trường tác dụng lên nhiên, màn hình SED có một cải tiến vượt bậc so với màn hình CRT, đó là thay vì sử dụng một súng phóng điện tử để điều khiển sự phát sáng của toàn bộ điểm ảnh, màn hình SED sử dụng riêng một súng phóng điện tử cho từng điểm ảnh. Với màn hình CRT, để có thể điều khiển một chùm tia electron quét khắp chiều ngang và chiều dọc màn hình, yêu cầu đầu tiên là quỹ đạo của chùm tia electron trong từ trường phải đủ dài, tương ứng với độ lớn của màn hình. Do chỉ với một chùm tia electron, lại phải quét suốt toàn bộ các điểm ảnh trên màn hình để hiển thị một khung hình, nên thời gian hiển thị một khung hình sẽ càng lớn khi số điểm ảnh càng lớn. Do mỗi điểm ảnh có một súng phóng điện tử riêng, nên chùm electron sau khi được tăng tốc bởi điện trường sẽ tới đập thẳng vào màn huỳnh quang mà không cần bay qua vùng từ trường, nên bề dày của màn hình SED rất bé, chỉ ngang ngửa với màn hình LCD và điểm ảnh được điều khiển độc lập bởi một súng phóng nên toàn bộ điểm ảnh trên khung hình sẽ hiển thị cùng một lúc, tần số hiển thị sẽ lớn hơn nhiều so với tần số quét của màn hình CRT. Như vậy, nhờ dựa trên công nghệ truyền thống của màn hình CRT nên màn hình SED sẽ có chất lượng hình ảnh ngang ngửa màn hình CRT, tuy nhiên có kích thước màn hình lớn hơn, độ phân giải cao hơn, và nhỏ gọn hơn.