M&A: NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI - Phần 3

Lượt xem: 63,930Lượt tải: 9Số trang: 22

Mô tả tài liệu

Uỷ ban châu Âu có thẩm quyền tuyệt đối với những dự án tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp có doanh số nhỏ hơn mức doanh số được sử dụng làm tiêu chí để xác định quy mô Cộng đồng nêu trên, áp dụng cơ chế kiểm soát một cửa - chỉ cần thông báo một lần, đến một cơ quan duy nhất là Uỷ ban châu Âu (dù dự án có liên quan đến nhiều quốc gia thành viên và theo nguyên tắc phải được xem xét bởi nhiều cơ quan quốc gia khác nhau). ...

Tóm tắt nội dung

M&A: NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI Phần 3 Uỷ ban châu Âu có thẩm quyền tuyệt đối với những dự án tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp có doanh số nhỏ hơn mức doanh số được sử dụng làm tiêu chí để xác định quy mô Cộng đồng nêu trên, áp dụng cơ chế kiểm soát một cửa - chỉ cần thông báo một lần, đến một cơ quan duy nhất là Uỷ ban châu Âu (dù dự án có liên quan đến nhiều quốc gia thành viên và theo nguyên tắc phải được xem xét bởi nhiều cơ quan quốc gia khác nhau). Trong hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế, duy trì và bảo vệ cạnh tranh là yêu cầu quan trọng hành đầu. Đối với Liên minh châu Âu đây là tiêu chí duy nhất quyết định việc có cho phép hay không cho phép thực hiện dự án tập trung kinh tế. Nếu hoạt động tập trung kinh tế không làm hạn chế một cách đáng kể cạnh tranh thực tế trên thị trường, đặc biệt vì nó không tạo ra hoặc không củng cố vị trí thống lĩnh thì phải được coi là phù hợp. Một dự án tập trung kinh tế kéo theo việc hình thành vị trí thống lĩnh vẫn có thể được coi là phù hợp khi tất cả đều cho thấy vị trí thống lĩnh này chỉ là tạm thời và sẽ nhanh chóng biến mất vì sẽ có những đối thủ cạnh tranh lớn gia nhập thị trường . Quan điểm này cũng giống với quan điểm chung ở Mỹ, theo đó không cần thiết phải xử lý những doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh thị trường có thể bị giành giật. Có rất ít khác biệt giữa tiêu chí “giảm sút đáng kể cạnh tranh” trong pháp luật Mỹ với tiêu chí “hạn chế đáng kể cạnh tranh” trong pháp luật của Liên minh châu Âu. Uỷ ban châu Âu đã soạn thảo Điều 2 của Quy chế 139/2004 theo hướng xích gần hơn với tiêu chí của Mỹ, theo đó thủ tục kiểm soát không chỉ áp dụng đối với những dự án tập trung kinh tế tạo ra hoặc tăng cường vị trí thống lĩnh mà còn đối với các dự án gây cản trở đáng kể đến cạnh tranh. Thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế là thủ tục tiền kiểm chứ không mang tính chất hậu kiểm nên cơ quan thực hiện thủ tục kiểm soát phải tính đến những hành vi hạn chế cạnh tranh có nguy cơ xảy ra. Có quy định rằng chứng cứ về sự ảnh hưởng của một dự án tập trung kinh tế đối với cạnh tranh phải rõ ràng nhưng đây là điều rất khó vì việc đánh giá ảnh hưởng của dự án kinh tế chỉ mang tính dự báo. Kiểm soát tập trung kinh tế thực chất có thể coi là một biện pháp có nội dung giới hạn quyền sở hữu mà sự giới hạn quyền sở hữu chỉ hợp pháp và chính đáng khi chứng minh được ở một mức độ chắc chắn về những nguy cơ mà việc thực hiện quyền sở hữu đó gây ra đối với lợi ích công. Cho đến tận thời điểm thông qua Quy chế 139/2004, Uỷ ban châu Âu vẫn không chấp nhận coi lợi ích kinh tế như một căn cứ để cho phép thực hiện dự án tập trung kinh tế. Thậm chí Uỷ ban còn cho rằng các lợi ích kinh tế phát sinh từ một vụ tập trung kinh tế sẽ làm tăng nguy cơ tạo lập hoặc củng cố vị trí thống lĩnh trên thị trường. Tuy nhiên sự cần thiết phải tính đến lợi ích kinh tế đã trở thành một xu thế rõ rệt đến mức đòi hỏi phải đi theo hướng áp dụng thủ tục đánh giá tác động kinh tế hoặc ít nhất phải đánh giá một cách tích cực hơn các lợi ích kinh tế. Uỷ ban châu Âu cũng theo xu hướng trên của các cơ quan quản lý cạnh tranh của Mỹ và Pháp, cân nhắc trong các quyết định của mình những lợi ích kinh tế do hoạt động tập trung kinh tế mang lại với điều kiện những lợi ích đó phải đáng kể và có thể kiểm chứng được. Tiêu chí doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản chưa được quy định trong Quy chế 139/2004 nhưng đã trở thành quen thuộc trong thực tiễn giải quyết các vụ tập trung kinh tế ở Mỹ (người ta gọi đây là tiêu chí “falling company Toà án Công lý Liên minh châu Âu đã khuyến khích Uỷ ban châu Âu áp dụng tiêu chí này, cho rằng hoàn toàn có thể cho phép hình thành vị trí thống lĩnh nếu như doanh nghiệp tham gia vào dự án tập trung kinh tế đang ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán. Nếu doanh nghiệp mục tiêu (doanh nghiệp bị nắm quyền kiểm soát) có nguy cơ bị phá sản trong khi không có lời dạm mua nào ít gây tổn hại hơn đối với cạnh tranh, hoạt động tập trung kinh tế trở nên dễ chấp nhận hơn so với sự suy thoái cơ cấu cạnh tranh trên thị trường. Điều 4 Quy chế 139/2004 quy định mọi dự án tập trung kinh tế thuộc phạm vi áp dụng thủ tục kiểm soát của Liên minh châu Âu đều phải được thông báo trước. Hồ sơ thông báo phải được lập theo mẫu và nộp cho Uỷ ban châu Âu ngay sau khi các bên giao kết với nhau về việc tập trung kinh tế - ngay sau khi ký thoả thuận liên kết, thoả thuận mua quyền kiểm soát. Quy chế không quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thông báo nhưng các doanh nghiệp thông báo càng sớm thì càng có lợi. Theo thông lệ, tốt nhất nên có thông báo sơ bộ ngay sau khi các bên thống nhất được với nhau về việc thông báo cho Uỷ ban về ý định của họ. Điều này cho phép bảo đảm có được hồ sơ đầy đủ khi thông báo chính thức và Uỷ ban có thể đảm bảo được thời hạn xem xét, thạm chí bắt đầu tiến hành ngay việc hỏi ý kiến của các bên thứ ba về dự án kinh tế nếu các bên thông báo sơ bộ đồng ý. Thông báo về dự án tập trung kinh tế được công bố công khai để các bên thứ ba có liên quan trình bày ý kiến. Khi công bố công khai về việc thông báo, Uỷ ban châu Âu phải bảo đảm không tiết lộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan. Bởi vì đại đa số các trường hợp thông báo đều khong có vấn đề gì lớn về mặt cạnh tranh đến mức phải mở điều tra ở giai đoạn hai nên Uỷ ban có thể áp dụng thủ tục rút gọn. Thủ tục rút gọn khuyến khích các doanh nghiệp liên quan liên hệ với các bộ phận chức năng của Uỷ ban ngay từ khi thông báo sơ bộ và việc áp dụng thủ tục này cho phép có thể tuêyn bố dự án tập trung kinh tế là phù hộ trong thời hạn một tháng kể từ ngày thông báo. Hành vi không thực hiện nghĩa vụ thông báo tập trung kinh tế, cung cấp thông tin không chính xác có thể bị xử lý phạt tiền lên đến 1% tổng doanh số của doanh nghiệp có liên quan. Hình thức phạt tiền cũng có thể được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp liên quan không thông báo việc tập trung kinh tế, thực hiện dự án tập trung kinh tế không phù hợp hoặc thực hiện dự án tập trung kinh tế khi chưa có quyết định về tính phù hợp của dự án với mức phạt có thể lên đến 10% tổng doanh số của doanh nghiệp có liên quan. Uỷ ban châu Âu cũngc ó thể áp dụng biện pháp phạt tiền trong trường hợp chậm trẻ lời yêu cầu cung cấp thông tin với mức phạt có thể lên đến 5% tổng doanh số trung bình ngày của doanh nghiệp liên quan cho mỗi ngày chậm thực hiện quyết định của Uỷ ban. Sau khi kết thúc quá trình đánh giá dự án, Uỷ ban châu Âu căn cứ vào báo cáo của Uỷ viên phụ trách về cạnh tranh để đưa ra quyết định chính thức về dự án tập trung kinh tế: hoặc tuyên bố dự án không phù hợp hoặc quyết định yêu cầu dở bỏ tập trung kinh tế hoặc cho phép thực hiện dự án tập trung kinh tế. Việc cho phép có thể kèm theo điều kiện hoặc không kèm theo điều kiện, quyết định cho phép cũng có thể nêu rõ cam kết của các bên, và chỉ có giá trị nếu các bên tuân theo những cam kết đó. Các quyết định của Uỷ ban châu Âu về dự án tập trung kinh tế có thể bị khiếu kiện lên Toà Sơ thẩm Liên minh châu Âu. Việc khiếu kiện quyết định của Uỷ ban ít khi xảy ra vì thủ tục khiếu kiện thường kéo dài và do vậy không phù hợp với những nhu cầu của doanh nghiệp. Trong một số lĩnh vực, sự phát triển của tập trung kinh tế trong một thời điểm nhất định có thể gây nguy cơ đặc biệt. Vì vậy ở từng nước trong Liên minh châu Âu có những quy định riêng về thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế, ví dụ ở Pháp có những quy định riêng về kiểm soát tập trung kinh tế trong lĩnh vực báo chí, thông tin nghe nhìn, điện ảnh, ngân hàng. Việc kiểm soát tập trung kinh tế chỉ đạt hiệu quả khi cơ quan kiểm soát tập trung kinh tế có quyền mặc nhiên can thiệp chứ không phải đợi có đơn khởi kiện mới can thiệp và yêu cầu của thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế là không được chịu ảnh hưởng của những đánh giá chủ quan hoặc mamg màu sắc chính trị. Các dự án tập trung kinh tế trong lĩnh vực báo chí phải được đánh giá không phải dưới góc độ quyền sở hữu mà phải được đánh giá dưới góc độ quyền kiểm soát hoặc sự tập hợp các phương tiện thiết yếu đối với báo chí như việc thu gom hợp đồng quảng cáo hoặc việc in ấn. Cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế trong lĩnh vực thông tin nghe nhìn theo quy định của Luật “Leotard” ngày 30/9/1986 (đã được sửa đổi bổ sung bởi các luật ngày ngày ngày 1/1/1994, ngày 1/8/2000) là một cơ chế phức tạp, trong đó thay vì đưa ra những nguyên tắc chung mang tính định hướng, nhà lập pháp đã đưa ra những quy định hết sức cụ thể như giới hạn vốn hoặc quyền bỏ phiếu mà một người có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ một công ty được phép khai thác dịch vụ nghe nhìn, hạn chế khả năng góp vốn cũng lúc vào nhiều công ty khai thác cùng một phương tiện truyền thông… Điện ảnh vừa là một ngành nghệ thuật, vừa là một ngành công nghiệp, tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này vừa có thể gây hậu quả kinh tế bắt nguồn từ hạn chế cạnh tranh, vừa có thể có những hậu quả về văn hoá. Những quy định trong Luật Filloud ngày 29/7/1982 về nghe nhìn chủ yếu điều chỉnh những hình thức thoả thuận tập trung được thực hiện ở khâu quan trọng trong lĩnh vực điện ảnh là khâu tiếp cận nguồn phim và xây dựng chương trình ở các rạp chiếu phim. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đương nhiên bị hạn chế bởi yêu cầu bảo đảm hoạt động ổn định và lâu dài của các tổ chức tín dụng và ngân hàng. Theo Luật an toàn về tài chính số 2003-706 ngày 1/8/2003 của Pháp, trong trường hợp giải quyết vụ tập trung kinh tế có liên quan đến một tổ chcứ tín dụng, một công ty đầu tư vốn hoặc một công ty bảo hiểm thì Bộ trưởng kinh tế bắt buộc phải tham khảo ý kiến Hội đồng cạnh tranh . III. Kiểm soát sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hoạt động tập trung kinh tế theo pháp luật của Liên bang Nga và các nước thuộc Liên xô trước đây (các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập – SNG) Ở tất cả các nước SNG, pháp luật cạnh tranh cũng tạo ra hành lang pháp lý để kiểm soát chống độc quyền đối với các hoạt động có tính chất tập trung quyền lực kinh tế (hợp nhất, sáp nhập, mua lại quyền điều hành, dưới mọi hình thức theo chiều ngang, chiều dọc hay liên kết tập đoàn). Ở một số nước, việc hình thành công ty mới và việc mua lại quyền sở hữu cũng bị kiểm soát. Mục đích chủ yếu của kiếm soát Nhà nước đối với hành vi tập trung quyền lực kinh tế là ngăn ngừa việc mua lại vị trí độc quyền hoặc tăng cường vị trí thống lĩnh, hạn chế các hoạt động có tính chất độc quyền khác. Hiện nay chính sách cạnh tranh đã trở thành trung tâm của công cuộc cải cách kinh tế ở các nước SNG. Sự thay đổi chế độ ở những nước này trong đầu những năm 1990 đòi hỏi Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất và phân phối và phải thiết lập hành lang pháp lý và thể chế thích hợp để thực hiện chức năng của kinh tế thị trường. Chính phủ của các nước SNG đã có những bước đi quan trọng để loại bỏ độc quyền trong nền kinh tế tập trung cao, mở rộng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong hoạt động kinh tế và bảo đảm cạnh tranh trên thị trường. Những nỗ lực này đã góp phần thay đổi đời sống kinh tế ở những nước này theo hướng tích cực. Pháp luật cạnh tranh đã thông qua ở các nước SNG dựa trên những nguyên tắc chung của sự điều chỉnh cạnh tranh áp dụng trên khắp thế giới. Trong quá trình soạn thảo luật cạnh tranh của mình, các nước SNG đã cân nhắc những đề nghị của UNCTAD, OECD và các tổ chức kinh tế khác, cũng như những điều khoản trong Luật mẫu về Bảo vệ cạnh tranh kinh tế của Cộng đồng các quốc gia độc lập. Chính sách cạnh tranh ở các nước SNG đã quan tâm không những các hoạt động tư nhân mà còn cả những hạn chế của việc điều tiết đối với cạnh tranh. Những bộ luật cạnh tranh đó chứa đựng các điều khoản đặc biệt nghiêm cấm các hoạt động của các cơ quan nhà nước hạn chế cạnh Ở nhiều nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập cơ quan cạnh tranh tham gia vào việc phác thảo và quản lý chính sách trong phạm vi liên quan, trước hết là trong thương mại và đầu tư. Việc này giúp tránh những biện pháp bảo hộ bất hợp lý và phát triển nhập khẩu và đầu tư nước ngoài. Những hoạt động được thực hiện bởi cơ quan chống độc quyền trong lĩnh vực này góp phần nâng cao tính cạnh tranh của hàng hoá trong nước trên thị trường thế giới và vì vậy thúc đẩy sự thịnh vượng ở các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập. Tuy nhiên mức độ minh bạch của những quy định về cạnh tranh vẫn còn khá thấp: Chỉ có Luật và những nguyên tắc chính yếu (ở một số nước) được công bố một cách chính thức, trong khi những báo cáo hàng năm và sự mô tả các tập quán thi hành không được công bố. Phát triển tính minh bạch trong chính sách cạnh tranh và đẩy mạnh sự ủng hộ tích cực cạnh tranh ở những nước này phụ thuộc ở một mức độ lớn vào nguồn lực tài chính được cung cấp để thi hành chính sách này và văn hoá cạnh tranh của riêng từng nước. Luật về bảo vệ cạnh tranh Liên bang Nga được thông qua ngày 8/7/2006 . Ở Ucraina, Luật về hạn chế độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh được thông qua ngày 18/2/1992 và đã được sửa đổi bổ sung năm 1998. Những cơ quan thích hợp đã được thành lập ở hầu hết các nước SNG và trong nhiều năm thực hiện quản lý Nhà nước đối với các hành vi hạn chế kinh doanh và cạnh tranh không lành mạnh. Ủy ban Chống độc quyền Ucraina thực hiện việc kiểm soát sơ bộ đối với sáp nhập và mua lại. Ủy ban cũng tham gia ý kiến trong việc tạo ra những công ty cổ phần lớn về truyền thông, máy móc và các lĩnh vực khác. Sau khi hướng dẫn sửa đổi về nội dung giao dịch, Ủy ban đã chấp thuận các giao dịch này. Từ thời điểm thành lập, Uỷ ban đã xem xét 7600 vụ vi phạm luật chống độc quyền với số tiền phạt vi phạm lên đến Griv, gấp gần 5 lần số tiền chi phí cho hoạt động của Uỷ ban. Số lượng các thông báo được các cơ quan chống độc quyền xem xét ngày càng tăng. Năm 2003, ở Liên bang Nga, Cục Chống độc quyền Liên bang đã 13 725 thông báo sáp nhập, mua lại và thông báo có liên quan, năm 2004 xem xét 13 387 thông báo sáp nhập, mua lại và thông báo có liên quan . Khi quy định cụ thể về sáp nhập, phần lớn các nước SNG thiết lập cơ chế thông báo trước khi hoàn thành việc sáp nhập. Nhưng việc thông báo này chỉ có tính bắt buộc khi các doanh nghiệp liên quan sẽ có (hoặc hầu như sẽ đạt được) một quyền lực trên thị trường ở mức nhất định. Trong thời gian quy định, các bên tham gia giao dịch phải thông báo trước việc sáp nhập cho cơ quan chống độc quyền, nêu rõ tất cả các thông tin cần thiết. Các thông tin phải cung cấp có thể gồm các hoạt động chủ yếu, khối lượng hàng hóa sản xuất và bán hàng năm, thị phần của các bên, mục đích sáp nhập/ mua lại và các vấn đề tương tự. Không có quyết định cho phép sáp nhập của cơ quan chống độc quyền, doanh nghiệp mới hình thành sẽ không được đăng ký pháp nhân một cách chính thức Liên bang Nga, Belarus, Grudia, Các loại hoạt động phải được thông báo sơ bộ được quy định khác nhau giữa luật chống độc quyền của các nước SNG. Tiêu chí cơ bản để xác định các loại hoạt động này là thị phần và tổng tài sản của các doanh nghiệp có liên quan. (Tiêu chí tổng doanh thu hàng năm được nhiều nước phát triển áp dụng nhưng chưa được luật chống độc quyền các nước SNG sử dụng vì lý do không phải mọi giao dịch đều được đăng ký chính thức). Ở Liên bang Nga, các doanh nghiệp tham gia sáp nhập phải thông báo trước về việc sáp nhập cho Bộ Chống độc quyền nếu tổng tài sản của các doanh nghiệp đó vượt quá mức pháp luật quy định hoặc nếu một trong số doanh nghiệp đó chiếm thị phần hơn 35%. Ở một số nước các bên tham gia giao dịch phải thông báo trước cho cơ quan chống độc quyền khi một trong số các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh (hay vị trí độc quyền) (Grudia), hoặc khi tổng thị phần của các doanh nghiệp đó vượt quá 35% Ở dự thảo mới đây của luật chống độc quyền quy định cơ chế thông báo sơ bộ đối với việc mua trên 25% vốn của doanh nghiệp khác. Cơ quan chống độc quyền kết luận về các giao dịch đã được thông báo trong thời hạn pháp luật quy định. Cơ sở chính để không chấp thuận các giao dịch đã được thông báo là việc giao địch đó tạo ra hoặc đẩy mạnh một vị trị thống lĩnh. Ở Liên bang Nga cơ quan chống độc quyền có thể không cho phép sáp nhập, hợp nhất, mua lại nếu việc đó có thể tạo ra hoặc tăng cường vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp liên quan và/hoặc hạn chế cạnh tranh, hoặc khi xem xét các tài liệu được đệ trình, các thông tin chủ yếu được xác định là không chính xác. Ở việc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bị coi là bất hợp pháp nếu hoạt động đó tạo ra hoặc đẩy mạnh vị trí thống lĩnh. Ở Belarus, cơ quan chống độc quyền có quyền không chấp thuận một hành vi tập trung quyền lực kinh tế nếu hành vi đó làm hạn chế cạnh tranh hoặc tạo ra vị trí thống lĩnh. Pháp luật chống độc quyền của một số nước (Liên bang Nga, Belarus) quy định ngay cả khi giao dịch gây tác động tiêu cực đối với cạnh tranh nhưng cơ quan chống độc quyền vẫn có thể chấp thuận giao dịch đó nếu những tác động tích cực của giao dịch, tính cả đến khía cạnh kinh tế x• hội, lớn hơn những tác động tiêu cực. Để làm quá trình ra quyết định được minh bạch, rõ ràng, các hướng dẫn mang tính chất phương pháp luận sẽ được ban hành trên cơ sở đánh giá tác động tích cực và tác động tiêu cực của giao dịch. ở giao dịch có thể được cơ quan chống độc quyền cho phép thực hiện (kể cả khi giao dịch đó gây những tác động tiêu cực cho cạnh tranh) nếu giao dịch đó đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu của thị trường hàng hóa và cải thiện chất lượng hàng hóa và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Luật chống độc quyền thường quy định cả trách nhiệm của doanh nghiệp khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, theo luật chống độc quyền Liên bang Nga, các doanh nghiệp bị phạt tiền (có thể lên tới 8 000 lần mức lương tối thiểu) nếu không thông báo về giao dịch tập trung quyền lực kinh tế. Trong một số trường hợp, nếu việc tập trung quyền lực kinh tế tạo ra hay đẩy mạnh vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp hoặc gây hạn chế cạnh tranh, theo yêu cầu của cơ quan chống độc quyền liên bang, những người thực hiện hoạt động đó phải tiến hành các biện pháp cần thiết để khôi phục lại cạnh tranh. Những giao dịch bị kết luận là vi phạm các thủ tục do pháp luật quy định có thể bị Toà án coi là vô hiệu trên cơ sở đề nghị của cơ quan chống độc quyền. Các nước SNG thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực cạnh tranh trên nền tảng của Hiệp ước giữa các quốc gia về thực hiện sự phối hợp chính sách cạnh tranh được ký vào năm 1993. Trong khuôn khổ của Hội đồng liên Nhà nước về chính sách cạnh tranh, các cơ quan chống độc quyền của các nước SNG thực hiện việc hoà h các luật cạnh tranh quốc gia, dự thảo luật mẫu và những đường lối chỉ đạo, phối hợp các hoạt động chung của họ, trao đổi thông tin và tổ chức trao đổi ý kiến về những trường hợp với ảnh hưởng xuyên quốc gia đối với sự cạnh tranh. Những hoạt động đó dẫn tới việc tạo ra một môi trường kinh doanh hài hoà trong các nước SNG, đẩy mạnh tự do lưu chuyển của hàng hoá và dịch vụ và hạn chế những rào cản đối với việc gia nhập thị trường. Nguyên tắc cơ bản cho việc hợp tác trong lĩnh vực cạnh tranh giữa các nước SNG được nêu trong Hiệp ước Liên Chính phủ về Phối hợp Thực hiện Chính sách cạnh tranh ký ngày 24 tháng 12 năm 1993 tại Ashkhabad Hiệp ước quy định sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực kiểm soát độc quyền của các nước SNG, đưa ra các quy tắc chung trong chính sách cạnh tranh, trên cơ sở các nguyên tắc được quốc tế thừa nhận, nêu những khái niệm và quy tắc chung quan trọng nhất về về cạnh tranh, nghiêm cấm việc lạm dụng vị trí thống lĩnh của một hoặc một số thương nhân trên toàn bộ hoặc một phần của thị trường, nghiêm cấm hành vi cạnh tranh không lành mạnh…Hiệp ước cũng nghiêm cấm việc sáp nhập, hợp nhất thương nhân, thỏa thuận giữa các thương nhân hay những hành vi thông đồng khác có thể gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường chung. Tuy nhiên, các hành vi này có thể được cho phép thực hiện nếu thương nhân chứng minh được rằng các hoạt động này thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường hàng hoá, cải thiện chất lượng hàng hoá hoặc tăng khả năng cạnh tranh . V. Kết luận Qua tìm hiểu cơ chế và pháp luật về kiểm soát hoạt động sáp nhập, mua lại doanh nghiệp của các nước trên thế giới; trên cơ sở đối chiếu, so sánh với cơ chế và pháp luật về kiểm soát hoạt động sáp nhập, mua lại của Việt Nam có thể rút ra những kết luận sau: 1. Về tổ chức, theo mô hình của Canada, nên có một bộ phận riêng nằm trong Cục Quản lý cạnh tranh để thi hành các quy định về việc xem xét các vụ sáp nhập, mua lại và để phối hợp với các cơ quan khác trong kiểm soát hoạt động sáp nhập, mua lại. Theo Luật cạnh tranh năm 2004 và Luật doanh nghiệp năm 2005, việc kiểm soát các hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp có sự tham gia của các cơ quan là (i) Cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng kiểm soát tập trung kinh tế; (ii) Hội đồng cạnh tranh xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế như thực hiện tập trung kinh tế trong trường hợp bị cấm, tập trung kinh tế mà không thực hiện việc thông báo; (iii) Cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký kinh doanh trong các trường hợp sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh. Các trường hợp sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp luôn gắn liền với các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký kinh doanh bổ sung theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Do đó, khi tiến hành tập trung kinh tế sẽ có hai tình huống xảy ra về thủ tục là (i) nếu tập trung kinh tế nằm ở khu vực màu trắng thì chỉ phải làm các thủ tục về việc đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh mà không phải thực hiện bất cứ thủ tục gì tại cơ quan cạnh tranh; (ii) nếu tập trung kinh tế thuộc khu vực màu xám cần kiểm soát thì trước khi tiến hành các thủ tục tại cơ quan đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp tham gia tập trung phải làm thủ tục thông báo tại cơ quan quản lý cạnh tranh. Chỉ khi nào có trả lời của cơ quan này khẳng định việc tập trung kinh tế không thuộc trường hợp bị cấm thì các doanh nghiệp mới được thực hiện các thủ tục về sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh theo pháp luật doanh nghiệp Để các cơ quan nói trên thực hiện tốt chức năng của mình, đòi hỏi phải giải quyết được những vấn đề sau: Một là, để xác định các trường hợp tập trung kinh tế cụ thể, cần kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm được thực hiện chủ yếu dựa vào việc xác định chính xác thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia. Muốn thực hiện hiệu quả, đòi hỏi khả năng dự báo của các cơ quan hữu trách về tình hình và mức độ tập trung của các thị trường cụ thể. Nói cách khác, các cơ quan có thẩm quyền cần có những số liệu thực tế về các thị trường có khả năng xảy ra những trường hợp tập trung kinh tế cần kiểm soát hoặc bị cấm đoán. Khi có hành vi xảy ra, các cơ quan có thẩm quyền luôn ở trong trạng thái chủ động thay vì chờ đợi các doanh nhân khác khiếu nại rồi mới điều tra. Hai là, thẩm quyền của các cơ quan cạnh tranh, cơ quan đăng ký kinh doanh được thực hiện trong những công đoạn pháp lý khác nhau của quá trình tiến hành tập trung kinh tế. Vì vậy, sự phối hợp trong họat động giữa các cơ quan này là hết sức cần thiết để đảm bảo hiệu quả của việc kiểm soát tập trung kinh tế. Ba là, những hành vi tập trung kinh tế vi phạm pháp luật cạnh tranh, suy cho cùng là những trường hợp doanh nghiệp vi phạm đã hoàn tất việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh cả về phương diện thực tế lẫn pháp lý. Do đó, để phát hiện sự vi phạm đòi hỏi các cơ quan đăng ký kinh doanh kiểm soát được tình hình tập trung kinh tế trong địa bàn mình quản lý bằng các số liệu thống kê và cần phải công khai các số liệu này. 2. Pháp luật về kiểm soát hoạt động sáp nhập, mua lại của Việt Nam đã tương đối đầy đủ (đã có những quy định cụ thể trong Luật Cạnh tranh và trong Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều trong Luật Cạnh tranh) và theo mô hình châu Âu - hướng đến hạn chế những tác động tiêu cực của kiểm soát tập trung kinh tế. Việc khống chế, kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế. Khi hội nhập Việt Nam phải mở cửa cho các tập đoàn đa quốc gia vào. Với sức mạnh kinh tế vượt trội, các tập đoàn này có khả năng thôn tính các doanh nghiệp khác, nhất là các doanh nghiệp trong nước. Nếu hoạt động này không được kiểm soát sẽ gây lũng đoạn và khống chế thị trường ở mức độ cao. Tuy nhiên cần lưu ý là không nhất thiết phải thông qua tất cả các vụ sáp nhập, mua lại vì sẽ tạo gánh nặng không đáng có cho cơ quan quản lý. 3. Luật Cạnh tranh năm 2004 đã sử dụng thị phần làm cơ sở phân loại nhóm tập trung kinh tế và làm tiêu chí duy nhất để xác định khả năng gây hại của các trường hợp tập trung kinh tế. Theo đó, những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn mang bản chất hạn chế cạnh tranh. Trong trường hợp này, việc tập trung kinh tế đã hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan mà không phải từ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó đã làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ là thiểu số trên thị trường. Bản chất hạn chế cạnh tranh thể hiện ngay ở sự thay đổi cơ bản, đột ngột trong tương quan cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường. Điều đó cũng cho thấy mức độ làm giảm, làm cản trở và sai lệch cạnh tranh một cách đáng kể của nhóm hành vi này. Khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chỉ chiếm dưới 30% trên thị trường liên quan thì sự tập trung kinh tế chưa có khả năng tạo ra vị trí thống lĩnh cho doanh nghiệp hình thành sau khi tập trung. Lúc này, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh chỉ đơn giản là các biện pháp cơ cấu lại kinh doanh hoặc đầu tư vốn bình thường nên chưa chứa đựng những nguy cơ đe dọa đến trật tự cạnh tranh trên thị trường. Câu hỏi đặt ra là thị phần doanh nghiệp (bao gồm cả thị phần hàng hoá, dịch vụ và thị phần kết hợp) sẽ được xác định như thế nào và thẩm định sự chính xác của chỉ tiêu này trên cơ sở khoa học nào?. Kinh nghiệm của thế giới cho thấy có thể sử dụng một số tiêu chí khác để đánh giá dự án tập trung kinh tế như tổng doanh thu chưa tinh thuế trên phạm vi toàn cầu của toàn bộ các doanh nghiệp hoặc nhóm pháp nhân, thể nhân tham gia vụ tập trung kinh tế; tổng doanh thu chưa tính thuế được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia bởi hai doanh nghiệp hoặc nhóm pháp nhân, thể nhân liên quan. 4. Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng đã cân nhắc đến các yếu tố về tính hiệu quả của các trường hợp tập trung kinh tế bằng cách đặt ra những trường hợp có thể được miễn trừ. Theo Điều 19 Luật Cạnh tranh năm 2004, có hai trường hợp tập trung kinh tế được xem xét cho hưởng miễn trừ là: (i) một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; (ii) Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ. Cơ chế miễn trừ được đặt ra từ các luận điểm cơ bản của kinh tế học, theo đó, khi phân tích bản chất kinh tế của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc các trường hợp tập trung kinh tế, các nhà kinh tế đã chứng minh rằng có nhiều trường hợp xét về hình thức, hành vi tập trung kinh tế của các doanh nghiệp đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết luận là vi phạm Luật cạnh tranh, song chúng lại có nhiều tác dụng tích cực cho sự phát triển của kinh tế - xã hội. Khi đó, lý thuyết về tính hiệu quả đã được đặt ra trong lý luận của khoa học pháp lý trong lĩnh vực cạnh tranh. Khi xem xét vấn đề miễn trừ đối với tập trung kinh tế, cần phải nhấn mạnh rằng: (i) Thủ tục miễn trừ được coi như điều kiện đủ để các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế rơi vào trường hợp bị cấm nhưng thỏa mãn đủ điều kiện được miễn trừ được thực hiện các thỏa thuận, các hành vi tập trung kinh tế. Điều đó có nghĩa là các hành vi hạn chế cạnh tranh được miễn trừ không mặc nhiên được thực hiện khi thỏa mãn các điều kiện do luật định về mặt nội dung mà phải có được quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) thủ tục miễn trừ mang bản chất của thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh; (iii) quyết định cho hưởng miễn trừ không có giá trị vĩnh viễn. Chúng luôn có giá trị trong một thời hạn nhất định hoặc có thể được xem xét lại và có thể bị bãi bỏ theo quy định của pháp luật . Ở đây cần chú ý đến xu hướng phổ biến trên thế giới coi lợi ích kinh tế như một căn cứ để cho phép thực hiện dự án tập trung kinh tế./.